Hiển thị các bài đăng có nhãn bài học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2024

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÔNG XÃ PARI LÀ GÌ?

 

Công xã Pari năm 1871 của giai cấp công nhân Pháp đã giành thắng lợi chỉ trong vòng 72 ngày. Đây là lần đầu tiên giai cấp vô sản bước lên vũ đài chính trị. Tuy thất bại, nhưng Công xã đã để lại cho giai cấp vô sản Pháp và thế giới những bài học kinh nghiệm sâu sắc và quý báu:

Bài học về sự cần thiết phải có sự lãnh đạo thống nhất của chính đảng cách mạng. Công xã Pari nổ ra tự phát, chưa có sự chuẩn bị một cách đầy đủ, chưa có cương lĩnh, chiến lược, sách lược cách mạng, chưa có mục đích rõ ràng, công việc diễn ra đến đâu thì làm đến đó, chưa có một chính đảng trực tiếp thống nhất lãnh đạo, cách mạng càng phát triển thì lại càng gặp phải khó khăn, bế tắc.

Bài học về thực hành chuyên chính vô sản. Đây là bài học nổi bật nhất của Công xã Pari. Công xã đã đem lại một kiểu mẫu nhà nước mới của giai cấp vô sản cả về thiết lập chuyên chính vô sản và cách thức tổ chức hoạt động của chính quyền cách mạng. Công xã Pari là một hình thức nhà nước sau cuộc cách mạng của giai cấp vô sản.

Bài học về kết hợp giải quyết nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ giai cấp. Thực chất đây là bài học về giương cao hai ngọn cờ dân tộc và giai cấp, là sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Hai nhiệm vụ đó hoàn toàn gắn bó chặt chẽ với nhau. Ở Công xã Pari, giai cấp vô sản đã cùng một lúc giải quyết hiệm vụ giải phóng dân tộc và nhiệm vụ giải phóng giai cấp.

Bài học về sử dụng bạo lực cách mạng và tư tưởng cách mạng tiến công. Đây là một vấn đề quan trọng về phương pháp cách mạng. Công xã chưa sử dụng triệt để bạo lực cách mạng, thiếu một tinh thần liên tục tiến công, thậm chí còn để cho tàn quân của Chie rút chạy khỏi Pari, tạo cơ hội cho chúng tập hợp tất cả những lực lượng phản động quay về tấn công lại Pari, tiến công vào Công xã và cuối cùng Công xã thất bại.

Bài học về liên minh công nông. Đây là vấn đề sống còn, vấn đề chiến lược của cách mạng vô sản. Đáng tiếc là Công xã đã không thực hiện được việc đó; đã thiếu mất sự phối hợp, sự ủng hộ của công nhân ở các thành phố khác, thiếu mối quan hệ liên minh trên thực tế với giai cấp nông dân.

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2022

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ GIỮ VỮNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI

Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng xác định sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ bạo lực phản cách mạng. Trên cơ sở đó, Đảng đã sớm đề ra chủ trương tổ chức và lãnh đạo lực lượng vũ trang. Tại Đại hội I của Đảng (tháng 3-1935), trong Nghị quyết về “Đội tự vệ” - bước đi ban đầu trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng - Đảng xác định: “Công nông cách mạng Tự vệ đội là dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương, quân ủy của Đảng Cộng sản”. Khi mới thành lập (ngày 22-12-1944), thực hiện theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã thể hiện rõ sự lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh hệ thống chỉ huy có chi bộ đảng, bên cạnh người chỉ huy có chính trị viên. Từ khi thành lập đến nay, quân đội luôn được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo đó được thực hiện theo nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện”, “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, thống nhất về mọi mặt”, “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với quân đội. Tuy cách diễn đạt mỗi thời kỳ lịch sử có khác nhau, nhưng bản chất cốt lõi đều là một, đó là, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất thực hiện quyền lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự lãnh đạo đó thể hiện ở những vấn đề bao trùm có tính toàn diện: xác định đường lối quân sự, quốc phòng, xây dựng tổ chức, biên chế, bảo đảm vũ khí, trang bị, hiện đại hóa quân đội; phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự; tổ chức nuôi dưỡng bộ đội; tiến hành công tác đảng, công tác chính trị,…,

Đảng đã quy định cụ thể về hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, tổ chức quần chúng các cấp trong quân đội, để luôn giữ vững được vai trò lãnh đạo đối với quân đội, không ngừng xây dựng và phát huy bản chất, truyền thống “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(2) của quân đội. Trong quá trình ra đời và phát triển, quân đội đã làm tốt vai trò là chỗ dựa vững chắc cho toàn dân khởi nghĩa đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, lập nên những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975), hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Sau ngày thống nhất đất nước, do hậu quả chiến tranh và những yếu tố tác động khác nhau, đã có giai đoạn, đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, kéo dài; đời sống cán bộ, chiến sĩ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, Việt Nam lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược ở hai đầu đất nước (biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc). Dù thách thức đặt ra nặng nề, nhưng quân đội vẫn một lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vượt mọi khó khăn, chiến đấu kiên cường, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, với chủ trương xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đội quân cách mạng ấy đã và đang thể hiện rõ là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy, nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tham gia phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Nhân tố quyết định để quân đội làm nên những thành tích mới ấy cũng xuất phát từ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Nhìn rộng ra, cách mạng thế giới đã để lại nhiều bài học đắt giá, nếu đảng cộng sản buông lỏng lãnh đạo đối với quân đội, thì cách mạng đứng trước nguy cơ thất bại. Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự tan rã, mất phương hướng của quân đội các nước này ở cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ việc buông lỏng và tiến tới thủ tiêu nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội (trước đó, trong một thời gian dài, quân đội Liên Xô bỏ hệ thống tổ chức đảng từ toàn quân đến cơ sở). Đó chính là sai lầm trầm trọng mà Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc phải trong lãnh đạo quân đội. Điều đó càng đặt ra yêu cầu trong việc quán triệt, thực hiện nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội.

Trong tiến trình đổi mới từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, Đảng đều xác định chủ trương giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đề ra những chủ trương, giải pháp lãnh đạo xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Ngày 20-7-2005, Bộ Chính trị khóa IX ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW, “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Sự vững mạnh về chính trị của quân đội, sự phát triển về chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội sau 16 năm thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW đã chứng minh tính đúng đắn của việc xác lập lại chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm trong việc thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội trong 5 năm tới, trong đó tiếp tục khẳng định phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Trong giai đoạn phát triển mới, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đại hội chủ trương: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân”.

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

CHUYÊN GIA NGA: VIỆT NAM CẦN RÚT RA BÀI HỌC TỪ SỰ KIỆN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ

Việt Nam nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng phải phân tích kỹ quá trình sụp đổ của Liên Xô. Đó là ý kiến của ông Grigory Trofimchuk, chuyên gia Nga trong lĩnh vực chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh, Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia Quỹ nghiên cứu Á-Âu, khi trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân Điện tử nhân sự kiện 30 năm ngày thông qua tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của Liên Xô (26-12-1991/ 26-12-2021).

Phóng viên (PV): Nhiều ý kiến cho rằng, chính dân chủ phương Tây, chủ nghĩa dân tộc và việc phá hoại quân đội là những nguyên nhân khiến Liên Xô sụp đổ. Ông có nhận định như thế nào về ý kiến này?

Chuyên gia Trofimchuk: Có hai yếu tố chính dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. Yếu tố thứ nhất, đó là con người, khi Mikhail Gorbachev trở thành Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, người không phù hợp với vị trí như vậy. Yếu tố thứ hai là sự phổ biến của lối sống phương Tây trong dân chúng, gồm thời trang, âm nhạc, hàng tiêu dùng…

Ngày nay, một số chuyên gia kinh tế cho rằng, Liên Xô dường như sụp đổ là do giá dầu thấp. Điều này không đúng, bởi nền kinh tế Liên Xô được xây dựng theo cách mà nó không quá phụ thuộc vào những nguyên liệu thô bán ra nước ngoài.

Chủ nghĩa dân tộc nở rộ khi cơ cấu và sức mạnh của Liên Xô bắt đầu sụp đổ một cách rõ ràng. Đó là nhiều phần tử cực đoan nhận thấy mọi thứ đều có thể xảy ra, kiểm soát xã hội bị suy yếu và ảnh hưởng chính quyền trung ương sụt giảm mạnh. Mọi việc bắt đầu từ những cuộc nổi lên của người Tatar ở Crimea và làn sóng bất bình ở Kazakhstan liên quan đến việc bổ nhiệm một người dân tộc Nga giữ chức vụ đứng đầu Cộng hòa Crimea.

Sau đó, Karabakh “nổ tung”, mà trên thực tế nó đã làm nổ tung lan ra cả nước. Hơn nữa, chuỗi biểu tình toàn quốc này không thể dừng lại được nữa. Tiếp đó diễn ra theo dây chuyền các cuộc đấu tranh mang sắc thái dân tộc ở các nước cộng hòa vùng Baltic, Gruzia, Transnistria, nội chiến ở Tajikistan…

Trong khi đó, Mikhail Gorbachev ngay từ đầu tỏ ra mình như “người ngoài cuộc”, không liên quan gì đến những cuộc đụng độ đang diễn ra ở các nước cộng hòa. Chính điều này càng làm kích động thêm những diễn biến tiêu cực, kích động lòng hận thù lan rộng. Khi có ý kiến cho rằng, Gorbachev dường như đã có kế hoạch cải tổ, thì điều này cũng không phù hợp với thực tế, vì hệ thống dưới thời ông ta đã bắt đầu sa sút, trong khi ông ta đã tự ý áp dụng một số giải pháp.

Về vấn đề hệ tư tưởng, tức là dân chủ, công khai hóa và cải tổ, thì đó là một chủ đề riêng biệt. Chính vì điều này mà rất nhiều người dân Liên Xô trong nhiều thập kỷ sau đó đã căm ghét thuật ngữ “dân chủ”, cho rằng nó liên quan trực tiếp với những kẻ đã làm sụp đổ một cường quốc rộng lớn, những kẻ không đem lại điều gì bình thường và đã cướp bóc những thứ còn sót lại của đất nước. Đối với hàng chục triệu người dân, những “nhà dân chủ” tượng trưng cho sự sụp đổ.

Quân đội và các cơ quan sức mạnh đã hiểu tất cả và cố gắng ngăn chặn sự sụp đổ vào tháng 8-1991. Tuy nhiên, người dân của đất nước đang trên đà tan rã lúc đó đã chống lại họ với lập luận rằng, những cơ quan đó bảo vệ chế độ cũ kỹ, lỗi thời, trong khi phía trước là một nền dân chủ tỏa sáng và là lối thoát khỏi “bức màn sắt”. Thậm chí khi đó còn không ai hiểu, không thể hình dung được nền dân chủ phương Tây sẽ mang lại điều gì trên thực tế.

PV: Ông có suy nghĩ như thế nào về những sai lầm trong việc quản lý văn hóa - tư tưởng và báo chí, cũng như về việc bỏ dạy học chủ nghĩa Mác-Lênin trong nhà trường, bởi những điều này cũng đã góp phần đáng kể khiến Liên Xô tan rã?

Chuyên gia Trofimchuk: Bộ máy tuyên truyền của Liên Xô luôn từng là một trong những bộ máy mạnh nhất trên thế giới, cũng như trong lịch sử nhân loại nói chung. Đây là một thực tế không thể chối cãi và được công nhận rộng rãi.

Tuy nhiên, công tác tuyên truyền cũng cần phải thay đổi theo thời gian, theo nhu cầu từng giai đoạn, trong đó có thực trạng và sự phát triển văn hóa đại chúng ở phương Tây. Chẳng hạn, nếu Liên Xô không ngăn cấm dòng nhạc mới và thời trang, mà ngược lại, nên củng cố và phát triển xu hướng này, thì Liên Xô đã cho thấy rằng, không chỉ trong ngành không gian vũ trụ, mà còn trong những lĩnh vực này họ là nước tiên phong trên thế giới.

Liên Xô lẽ ra phải đi đầu trong mọi lĩnh vực, bởi chế độ của nó được coi là đã ở thời kỳ tốt nhất vào thời điểm đó. Chẳng hạn, trong những thập niên từ 1960 đến 1980, nước này đã sản xuất những bộ phim hay nhất được đưa vào quỹ văn hóa thế giới vàng.

Thậm chí ngày nay, nhiều người say sưa xem những bộ phim này, có người còn xem đi xem lại rất nhiều lần. Nhưng cuối cùng, thời trang và âm nhạc phương Tây đã lấn át mọi thứ. Đối với thiếu niên Liên Xô, việc nghe nhạc trong nước hay đi dạo trong trang phục Liên Xô là mất thể diện.

Nói đến tư tưởng chính trị, thì phải công nhận rằng, lãnh đạo Liên Xô cũng đã cố gắng quan tâm đến mong muốn thực sự của người dân. Chẳng hạn, dưới thời Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, hình ảnh của Stalin đã xuất hiện trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, đặc biệt là trong các bộ phim, và điều này đã gây ấn tượng mạnh.

Nhưng về tổng thể thì hệ thống này đã bị hủy hoại bởi một điều mà không ai ngờ tới, đó là sự qua đời của 3 Tổng bí thư liên tiếp chỉ trong vòng 3 năm, gồm Brezhnev, Andropov và Chernenko. Và sau đó thì xuất hiện Mikhail Gorbachev. Nhưng điều đã xảy ra thì không thể thay đổi được nữa, vì không ai có thể trở về quá khứ.

Học thuyết Mác-Lênin nhất định phải được phát triển có tính đến những thay đổi diễn ra trên thế giới, nhưng hiện không ai làm điều này và cũng không có những nhà tư tưởng như vậy để làm. Nhưng Lênin vẫn không ở lại phía sau chúng ta, mà là đang ở phía trước. Rồi thời đại của Người chắc chắn sẽ quay trở lại sau bao năm bị lãng quên, cố tình im lặng về nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử nước Nga này.

PV: Việt Nam cần rút ra những bài học gì cho mình từ sự kiện Liên Xô sụp đổ, thưa ông?

Chuyên gia Trofimchuk: Việt Nam nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng phải phân tích kỹ quá trình sụp đổ của Liên Xô. Nhưng điều quan trọng nhất là phải rút ra được bài học chính xác nhất về nguyên nhân thực sự dẫn đến sự sụp đổ của cường quốc vĩ đại, đất nước từng có gần một thế kỷ đi đầu về hệ tư tưởng tiên tiến nhất thế giới. Vấn đề chính ở đây là công tác nhân sự, là những con người cụ thể nắm giữ các vị trí lãnh đạo.

Khi nhà nước không tìm kiếm, không chuẩn bị kỹ đội ngũ cán bộ, cũng không chú trọng đến yếu tố quan trọng nhất là con người trong bộ máy của mình, thì chắc chắn nhà nước đó sẽ bị hủy hoại. Thậm chí sẽ còn tệ hơn nữa, khi những người cơ hội bằng cách nào đó ngồi vào những vị trí cấp cao.

Ngạn ngữ Nga có câu: “Cha đạo thế nào, giáo xứ thế đó”, hay “Người đánh cá từ xa đã nhận ra nhau”. Câu ngạn ngữ này ý nói là, người ở vị trí cao sẽ luôn chọn những người tương tự mình. Đây là bài học lớn và nghiêm khắc nhất mà Việt Nam cần rút ra. Cần phải có chế tài nghiêm khắc cho những ai không xứng đáng với sự tín nhiệm dành cho anh ta. Với những việc làm do chính bàn tay mình tạo ra, thì Gorbachev đã không xứng đáng với lịch sử và nhân dân. Những việc làm đó đi ngược lại mọi chuẩn mực cơ bản về đạo đức và trách nhiệm, mà trước hết là trong xã hội Nga.

Hiện Việt Nam đứng trước trọng trách lịch sử to lớn, đó là phải chứng tỏ được rằng, sự sụp đổ của Liên Xô không liên quan gì đến hệ tư tưởng và cũng hoàn toàn không phải vì hệ tư tưởng mà dẫn đến sự sụp đổ đó.

PV: Xin cám ơn ông về cuộc phỏng vấn này!

QUỐC KHÁNH (thực hiện)

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

BÀI HỌC DỰA VÀO DÂN

Câu chuyện sau đây do đồng chí Nguyễn Thọ Chân, nguyên Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Trưởng Ban Thi đua TW của Chính phủ, kể lại:

Vào khoảng tháng 10 năm 1948, đồng chí ở trong đoàn đại biểu Đảng và Công đoàn Nam Bộ ra tới Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Đến Việt Bắc đồng chí vinh dự được cấp trên cử đi học trường Nguyễn Ái Quốc và được gặp Bác Hồ.

Trong thời gian còn ở Việt Bắc, có lần đồng chí được đi theo các đồng chí Phạm Hùng và Võ Nguyên Giáp đến nhà sàn của Bác ở an toàn khu Sơn Dương. Trong buổi nói chuyện, đồng chí thấy Bác đặc biệt chú ý tới tình hình miền Nam, nên mới nói ý định xin tiền của Trung ương, Bác cười và bảo:

Trung ương không có tiền, mà chỉ cấp tiền để cho các chú đi và về thôi. Các chú phải dựa vào dân. Nếu chú có một que diêm, nhưng biết cách thì cũng có thể đốt lên được. Còn nếu có cả mồi lửa to, nhưng không biết cách thì cũng không châm lên được.

Bác muốn nhắc nhở: phải tuyệt đối tin ở dân, dựa vào dân để kháng chiến. Sau này Bác thường nhắc cán bộ:

"Dễ mười lần không dân cũng chịu

Khó trăm lần dân liệu cũng xong”

"Nước lấy dân làm gốc

……

gốc có vững cây mới bền

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân".

Bài học dựa vào dân của Bác đến nay vẫn còn nguyên giá trị, mà mỗi người cán bộ phải luôn luôn ghi nhớ.


Thứ Ba, 14 tháng 9, 2021

VẬN DỤNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÔNG XÃ PARI TRONG XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Kinh nghiệm thành công và thất bại của các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới đều rất có giá trị, ý nghĩa đối với tiến trình cách mạng và quá trình xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhiều khi, từ những sai lầm, thất bại của cách mạng trong ngày hôm qua, những người cách mạng học được nhiều kinh nghiệm để tránh sai lầm cho hôm nay và mai sau.

Ngay trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), khi nói về vận dụng kinh nghiệm cách mạng thế giới, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng, cách mệnh Pháp (bao hàm cả Công xã Pari) làm gương cho chúng ta về nhiều phương diện. Ví dụ: “Dân chúng công nông là gốc cách mệnh, tư bản là hoạt đầu, khi nó không lợi dụng được dân chúng nữa, thì nó phản cách mệnh”; “Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền mới thành công”; và “Cách mệnh Pháp hy sinh rất nhiều người mà không sợ; ta muốn làm cách mệnh thì cũng không nên sợ phải hy sinh”.

Hơn 90 năm qua, trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tham khảo, vận dụng kinh nghiệm cách mạng thế giới, trong đó có kinh nghiệm Công xã Pari 1871, Đảng ta đã lãnh đạo đưa cách mạng cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi vĩ đại. Với những thắng lợi đã giành được, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng và không ngừng hoàn thiện; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới(9)… Nhìn lại 35 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(10).

Trong những năm tới, với sự đan xen cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức, sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn so với trước. Để nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, vận dụng kinh nghiệm Công xã Pari nhằm tiếp tục đổi mới, xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (giai đoạn 2021-2030), cần nhấn mạnh một số định hướng, giải pháp cơ bản đã nêu trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng:

Một là, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ra sức thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò tự quản của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Hai là, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội.

Ba là, tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn, trong đó có quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Bốn là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và công tác dân vận của Đảng. Đảng nêu gương thực hành dân chủ và bảo đảm kỷ luật, kỷ cương./.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ MẠNH DẠN TÌM RA NHỮNG LỐI ĐI MỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành tìm đường sang nước Pháp và các nước phương Tây không chỉ bởi muốn tìm hiểu những “bí ẩn” đằng sau những khẩu hiệu về tự do, bình đẳng, bác ái mà thực dân Pháp luôn rêu rao trong quá trình cai trị Việt Nam; không chỉ muốn tìm hiểu thêm những trào lưu tư tưởng mới mà còn bởi Nguyễn Tất Thành đã nhìn thấy những hạn chế của các phong trào đấu tranh theo các khuynh hướng yêu nước trước đó. Thế nên anh đã có sự sáng tạo, chọn con đường đi mới, đó là sang nước Pháp và các nước phương Tây để tìm con đường cứu nước, cứu dân.

Ngày nay, tinh thần dám đổi mới, sáng tạo đó vẫn rất cần thiết cho đất nước, đặc biệt là cho thế hệ trẻ bởi đây là những chủ nhân tương lai của đất nước; là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực chất lượng cao. Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu đòi hỏi thế hệ trẻ không chỉ có nhiệt tình cách mạng, không chỉ cần nhanh nhạy mà còn phải luôn luôn đổi mới sáng tạo, tìm ra các cách thức mới, con đường mới, phương pháp mới phục vụ cho sự phát triển chung, đưa đất nước nhanh chóng sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn.

Năm xưa, Nguyễn Tất Thành chịu cảnh tủi nhục, đau đớn khi nước mất nhà tan mà quyết tâm ra đi tìm được con đường cứu nước đúng đắn mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, mặc dù đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của đất nước. Các nguy cơ đối với cách mạng nước ta đã được Đảng chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đặt ra quyết tâm đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1945; đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Trong đó, nòng cốt phải là thế hệ trẻ với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm, vượt mọi khó khăn thử thách như tinh thần của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc năm xưa.

BÀI HỌC VỀ THÁI ĐỘ SỐNG TÍCH CỰC, CÓ TRÁCH NHIỆM CAO VỚI NHÂN DÂN, ĐẤT NƯỚC CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ngày 05/6/1911 tại bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên hai mươi mốt tuổi Nguyễn Tất Thành chỉ với đôi bàn tay trắng, nhiệt huyết của tuổi trẻ và lòng yêu nước cháy bỏng đã có một quyết định mà ở độ tuổi ấy, trong bối cảnh ấy, ít có thanh niên Việt Nam dám thực hiện, đó là sang Marseille nước Pháp trên chiếc tàu buôn Latouche - Tréville, mở đầu cho một cuộc hành trình vô cùng khó khăn, vất vả và dài lâu để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Đã 110 năm qua đi, nhưng ngày 05/6/1911 ấy đã, đang và vẫn sẽ là sự kiện có ý nghĩa to lớn, mở ra một trang mới tươi sáng trong lịch sử nước ta và để lại cho các thế hệ thanh niên Việt Nam nhiều bài học có giá trị và sâu sắc:

Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Tất Thành cũng như nhiều thanh niên yêu nước khác đã có thái độ sống tích cực, trách nhiệm với bản thân, đất nước ngay từ khi tuổi đời còn rất trẻ. Thái độ ấy thể hiện ở tình yêu thương nhân dân cần lao đói khổ bị chà đạp dưới ách đô hộ thực dân và phong kiến tay sai; ở lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc; ở khát khao cống hiến để đất nước thoát cảnh lầm than, nhân dân thoát cảnh nô lệ, tủi nhục. Chính thái độ sống tích cực, trách nhiệm ấy đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành nhiệt tình tham gia vào các hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp từ rất sớm: đó là những lần làm liên lạc cho cụ Hoàng Thông (một chí sĩ yêu nước dạy học ở trường Quốc học Huế những năm đầu thế kỷ 20) với phong trào Đông Du, Duy Tân khi mới 17 tuổi; đó là lần tham gia biểu tình chống thuế cùng nhân dân các tỉnh Trung Kỳ khi bước sang tuổi 18 chưa lâu; đó là những bài giảng thấm đẫm tinh thần yêu nước, khát khao giải phóng dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ trong những năm tháng dưới mái trường Dục Thanh; đó là quyết tâm đến Sài Gòn, một mình sang Pháp và một số nước khác ở để tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc… Tất cả cho thấy một tinh thần yêu nước nồng nàn, một khát khao giải phóng dân tộc mạnh mẽ được hun đúc bởi một thái độ sống tích cực, đầy trách nhiệm với nhân dân, với đất nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành.

Ngày nay, đất nước không còn trong cảnh nô lệ, lầm than như thời Nguyễn Tất Thành sống mà đang vươn mình mạnh mẽ để trở thành một đất nước ngày càng thịnh vượng và hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được mục tiêu ấy, đòi hỏi mỗi cán bộ, mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ phải luôn nung nấu khát vọng xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, đời sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Muốn vậy, thế hệ trẻ ngày nay cần phải phát huy hơn nữa tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm cao với các công việc chung của đất nước, của xã hội cũng như trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng và duy trì lối sống có trách nhiệm “mình vì mọi người” trước khi nghĩ đến “mọi người vì mình”.

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

+ Một là, phải dựa vào sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc, của cả nước; động viên, phát huy, tập hợp sức mạnh và trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trước hết là sức mạnh của ý chí “quyết chiến, quyết thắng” vì mục tiêu cao cả: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

+ Hai là, thường xuyên chăm lo, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của các tổ chức đảng và vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên; thực hiện tốt công tác đảng, công tác chính trị trong từng trận đánh và toàn bộ chiến dịch.

+ Ba là, kiên định mục tiêu, nguyên tắc và chiến lược cách mạng; luôn luôn chủ động, nắm chắc tình hình, kịp thời đề ra chiến lược, sách lược và phương án tác chiến phù hợp, buộc địch đánh theo cách đánh của ta.

+ Bốn là, nêu cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường và những đức tính, phẩm chất cao quý nhất của con người Việt Nam (tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc... ).

+ Năm là, phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước, giết giặc lập công; hoàn thành các mục tiêu đề ra của từng trận đánh, từng đợt và toàn bộ chiến dịch./.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

VỤ ÁN ĐỒNG TÂM - BÀI HỌC CHO CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ

Ngay trong quá trình phiên tòa sơ thẩm diễn ra, không ít cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã tới tấp tung ra nhiều luận điệu, yêu sách phi lý liên quan đến vụ án xảy ra tại Đồng Tâm.

Thông qua việc xuyên tạc bản chất vụ án, các đối tượng đang cố tình "chính trị hóa" vụ án tại Đồng Tâm. Rõ ràng, hành vi giết người, chống người thi hành công vụ của các bị cáo trong vụ án đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự Việt Nam. Hệ quả mà hành vi phạm tội của các đối tượng gây ra là sự hy sinh của 3 cán bộ, chiến sĩ Công an trong quá trình thực thi nhiệm vụ, khiến cho tình hình an ninh trật tự tại địa phương bị ảnh hưởng tiêu cực.

Nhìn nhận một cách toàn diện, có thể thấy những phức tạp liên quan đến vụ án tại Đồng Tâm diễn ra từ lâu. Lợi dụng những mâu thuẫn trong vấn đề tranh chấp đất đai cùng sự manh động, coi thường pháp luật của các đối tượng trong "Tổ đồng thuận", nhiều cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị trong nước và quốc tế đã ủng hộ về vật chất và tiến hành tuyên truyền, khuếch trương thanh thế cho "Tổ đồng thuận" với mục đích tạo điểm nóng về an ninh, trật tự trong xã hội Việt Nam.

Việc các đối tượng trong "Tổ đồng thuận" bị bắt giữ, xử lý do có hành vi giết người, chống người thi hành công vụ cũng đồng nghĩa với việc điểm nóng về an ninh, trật tự tại Đồng Tâm được giải quyết. Chính vì vậy, các đối tượng đang cố tận dụng "viên đạn Đồng Tâm" để tấn công, chống phá chính quyền. "Quốc tế hóa" vụ án Đồng Tâm là một thủ đoạn đặc biệt thâm hiểm. Phía sau danh nghĩa bảo vệ quyền con người là mưu đồ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, từ đó tác động, gây sức ép hòng chuyển hóa chế độ tại nước ta.

Với những hành vi phạm tội nghiêm trọng đã thực hiện, các bị cáo trong vụ án Đồng Tâm đã phải đối mặt với những hình phạt tương xứng. Không một ai, không một lý do nào có thể bao biện cho hành vi phạm tội của các đối tượng.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2020

MỘT BÀI HỌC ĐƯỢC ĐÚC KẾT TỪ LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Bài học trong lịch sử vẫn còn đó, nhiều quốc gia cũng đã tham gia liên minh quân sự, nhưng các quốc gia họ luôn lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm tối thượng, và cũng đã có nhiều trường hợp, họ cũng bị chính đồng minh của mình thỏa hiệp, trở thành con bài trong sự phân chia lợi ích giữa các nước lớn. Đó là bài học xương máu và cũng là lời cảnh tỉnh cho những ai đang a dua theo quan điểm đòi chúng ta phải tham gia liên minh quân sự, đi với nước này, chống nước kia.
Những chủ trương, chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay là sản phẩm của quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát triển tư duy, nhận thức về những vấn đề quốc phòng, quân sự, bảo vệ Tổ quốc; đối ngoại gắn với quốc phòng - an ninh và bảo vệ Tổ quốc. Là những cán bộ, đảng viên trong quân đội, chúng ta luôn tin tưởng tuyệt đối vào chủ trương, chính sách đối ngoại, chính sách quốc phòng của Việt Nam và hãy hành động vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

BÀI HỌC CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM 1917

Bài học đồng thời giải quyết tốt hai nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giai cấp; chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa vô sản quốc tế cao cả. Cách mạng Tháng Mười Nga đã biết chớp thời cơ “biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, phát huy chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa vô sản quốc tế cao cả, thực hiện tốt các nghĩa vụ quốc tế vô sản. Liên Xô thực sự trở thành căn cứ địa, thành trì cách mạng thế giới. Các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được sự ủng hộ giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, vào giai đoạn những năm 1970 - 1980, cơ chế quan hệ, hợp tác và tính hiệu quả trong tương trợ, giúp đỡ giữa các nước xã hội chủ nghĩa chưa tốt đã phần nào hạn chế đến sức mạnh của mỗi nước và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Bài học về sử dụng bạo lực kiên quyết, triệt để, mau lẹ để giành và giữ chính quyền. Trong Cách mạng Tháng Mười, khi kẻ thù đã sử dụng bạo lực để đàn áp cách mạng, V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã chỉ đạo sử dụng bạo lực, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Quyết định mau lẹ, quyết đoán, sáng tạo, kịp thời đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Mười. Trong 74 năm tồn tại, Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô luôn chú trọng xây dựng quân đội và hải quân hùng mạnh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, vào giai đoạn những năm 1970 - 1980, nhất là trong cải tổ vấn đề này chưa được quan tâm và giải quyết đúng, nên đã phải trả giá đắt. Hiện nay, các thế lực thù địch luôn đe dọa sử dụng vũ lực chống phá cách mạng, thì các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa càng phải tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc tổ quốc mình. 

Bài học về tính tất yếu phải có chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo. Đảng Bônsêvích Nga lãnh đạo là một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, của chiến tranh Vệ quốc và xây dựng phát triển đất nước. Đảng đã nắm vững tình thế, thời cơ cách mạng; xác định rõ mục tiêu, lực lượng, phương pháp cách mạng, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, chiến đấu bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước đạt nhiều thành tựu mọi mặt, làm thay đổi bộ mặt hành tinh, buộc chủ nghĩa đế quốc phải điều chỉnh, thích ứng. Tuy vậy, về sau nhất là vào những năm 1970 - 1980, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, vì không thực hiện đúng học thuyết xây dựng đảng kiểu mới của V.I.Lênin như: vi phạm dân chủ, quan liêu, bao biện làm thay nhà nước, tham nhũng; cải tổ không đúng nguyên tắc, xa rời, từ bỏ hệ tư tưởng của Đảng - chủ nghĩa Mác - Lênin…và đã phải trả giá đắt - đó là sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa. Đây là bài học đắt giá cho các đảng cộng sản trên thế giới nghiên cứu, khắc phục. Đảng cộng sản lãnh đạo nhà nước, xã hội là thành tựu, là giá trị và là vấn đề có tính quy luật mà chế độ xã hội Xôviết đã sáng tạo ra. Mỗi khi dao động, từ bỏ sự lãnh đạo của đảng cộng sản thì chế độ xã hội chủ nghĩa có nguy cơ bị tiêu diệt. Lịch sử Liên Xô và bài học trong cải tổ đã cho chúng ta nhận thức rõ hơn vấn đề này.

Bài học về đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng chống cộng, cơ hội, xét lại. Trong suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền, xây dựng, phát triển đất nước, V.I.Lênin, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng chống cộng của các đế quốc; tư tưởng cơ hội xét lại trong các phái: Mensevích, Khơrútsốp… Tuy nhiên, trong giai đoạn cải tổ, các tư tưởng chống cộng điên cuồng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc; tư tưởng cơ hội, xét lại của Goocbachốp, Enxin... không được nhận diện kịp thời và đấu tranh kiên quyết nên đã làm phân liệt, tan rã Đảng Cộng sản, Nhà nước Xôviết. Hiện nay, các tư tưởng chống cộng, cơ hội xét lại xuất hiện càng ngày càng nhiều thì càng đòi hỏi các đảng cộng sản cảnh giác, chủ động đấu tranh, loại bỏ nó. 

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

Những bài học của công xã Pari

Bài học thứ nhất là: “Thực hành chuyên chính vô sản”. Đây là bài học nổi bật nhất của Công xã Pari, công xã đã đem lại một kiểu mẫu nhà nước mới của giai cấp vô sản. Nếu như trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác mới chỉ nói tới tổ chức giai cấp vô sản thành giai cấp thống trị, phải giành lấy chính quyền, giành lấy dân chủ. Sau tổng kết những năm cách mạng 1848-1849, C. Mác cũng chỉ có thêm ý niệm về đập tan bộ máy nhà nước tư sản. Thì đến Công xã Pari, việc sáng tạo ra một hình thức nhà nước sau cuộc cách mạng của giai cấp vô sản, đã cho phép tiến lên một bước mới xa hơn về sự phát triển lý luận của mình. C. Mác đã giải quyết một cách cụ thể về vấn đề thiết lập chuyên chính vô sản – một nền chuyên chính của giai cấp vô sản.
Trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, C. Mác đã chỉ rõ Công xã là một nền cộng hòa không những có thể hủy bỏ hình thức quân chủ của sự thống trị giai cấp mà còn hủy bỏ được chính cả sự thống trị giai cấp nữa. C. Mác còn nhấn mạnh “Công xã là hình thức cụ thể của nền cộng hòa đó”    
Bài học thứ hai là: kết hợp giải quyết nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ giai cấp. Thực chất đây là bài học về giương cao hai ngọn cờ dân tộc và giai cấp (ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội), đó cũng là sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Trong những bài học của Công xã Pari, Lênin đã viết: “Trong khi nổi lên chống chế độ cũ, giai cấp vô sản đã đảm nhiệm hai nhiệm vụ: một nhiệm vụ dân tộc và một nhiệm vụ giai cấp – nhiệm vụ giải phóng nước Pháp khỏi nạn xâm lược của Đức và giải phóng công nhân khỏi ách áp bức của tư bản bằng cách thiết lập chủ nghĩa xã hội”  .
Điều đáng chú ý là, hai nhiệm vụ đó hoàn toàn gắn bó chặt chẽ với nhau, đúng như C. Mác đã nói “Pari được vũ trang tức là cách mạng được vũ trang. Pari thắng quân xâm lược Phổ tức là cách mạng Pháp thắng bọn tư bản Pháp và bọn ăn bám quốc gia của chúng”. Với ý nghĩa đó, về sau Lênin đã áp dụng và phát triển thành bài học kinh nghiệm “Biến chiến tranh để quốc gia thành nội chiến cách mạng”, bài học mà giai cấp vô sản Pari – những con người đã xông lên chọc trời xanh và cống hiến cho cách mạng toàn thế giới.
Bài học thứ ba: “Cần có sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cách mạng”. Công xã Pari nổ ra tự phát, chưa có sự chuẩn bị một cách đầy đủ, chưa có cương lĩnh, chiến lược, sách lược cách mạng, chưa có mục đích rõ ràng, công việc diễn ra đến đâu thì làm đến đó… chính là do chưa có tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo. Khi nói về bài học cần có sự lãnh đạo của Đảng, V.I. Lênin đã viết: “Công xã nảy sinh một cách tự phát, không ai chuẩn bị cho nó một cách có ý thức và có kế hoạch cả”, “không có Đảng công nhân, giai cấp công nhân không được chuẩn bị, chưa được rèn luyện lâu dài và phần rất đông lại không có lấy một ý niệm thật rõ rệt về nhiệm vụ của mình và về những thủ đoạn để thực hiện những nhiệm vụ đó”.
Bài học thứ tư là: Sử dụng bạo lực cách mạng và tư tưởng cách mạng tiến công. Đây là một vấn đề quan trọng về phương pháp cách mạng. Nhìn lại sự nghiệp của Công xã không thể không thấy rằng, Công xã đã dựa vào quần chúng, động viên quần chúng phát huy sức mạnh bạo lực cách mạng để đánh lại bạo lực phản cách mạng. Tuy vậy, Công xã chưa sử dụng triệt để bạo lực cách mạng, đúng như Ph. Ăngghen đã ví: “Nếu Công xã Pari không dùng quyền uy của nhân dân vũ trang để chống lại giai cấp tư sản thì liệu nó có thể đứng vững được quá một ngày không? Trái lại há chúng ta không thể trách Công xã là đã dùng quyền uy đó quá ít hay sao”.
Công xã đã thiếu một tinh thần liên tục tiến công, thậm chí còn để cho tàn quân của Chie rút chạy khỏi Pari, tạo cơ hội cho chúng tập hợp tất cả những lực lượng phản động quay về tấn công lại Pari, tiến công vào Công xã và cuối cùng gây ra tuần lễ đẫm máu từ 22 đến 28-5-1871 – Công xã thất bại. Như vậy, Công xã đã không thực hiện được nhiệm vụ “tước đoạt kẻ đi tước đoạt” như C.Mác nói, ngược lại Công xã còn sa vào mộng tưởng về một công lý tối cao, một nhiệm vụ dân tộc chung chung theo quan niệm của Pruđông. Vì lý do đó, Công xã đã không tiến hành quốc hữu hóa các ngân hàng  - một công cụ quan trọng trong tay bọn tư bản tài chính.
Bài học thứ năm là: “Về sự liên minh công nông”. Đây là vấn đề sống còn, vấn đề chiến lược của cách mạng vô sản. Đáng tiếc là Công xã đã không thực hiện được việc đó. Công xã Pari đã thiếu mất sự phối hợp, sự ủng hộ của công nhân ở các thành phố khác, thiếu mối quan hệ liên minh trên thực tế với giai cấp nông dân. Về vấn đề này, V.I. Lênin nói “Vào năm 1871, trên khắp lục địa châu Âu, bất cứ ở nước nào, giai cấp vô sản cũng không phải là đa số nhân dân. Vì vậy, cách mạng chỉ có thể bao gồm được giai cấp vô sản và nông dân thì mới có thể là cách mạng nhân dân”. Bài học của Công xã về sự liên minh công nông, sau này khi nói thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917, V.I.Lênin đã đưa ra một sự so sánh: Nếu Công xã Pari thất bại vì đã không liên minh được với nông dân, thì ngược lại cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi vì đã thực hiện được sự liên minh đó.

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

Bài học kinh nghiệm trong chiến thắng lịch sử "Điện Biên Phủ trên không"

Thứ nhất, nhạy bén trong nắm bắt, đánh giá, phân tích tình hình của Bộ thống soái tối cao và các cơ quan tham mưu chiến lược.
Trước hết, chúng ta phải khẳng định, sự nhạy bén trong việc nắm bắt, phân tích tình hình, để có sự chỉ đạo kịp thời của Bộ thống soái tối cao và các cơ quan tham mưu chiến lược là nhân tố quyết định nhất làm nên Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”. Về chỉ đạo chiến lược, lời tiên đoán chính xác của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đế quốc Mỹ chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội” là định hướng quan trọng để các cơ quan tham mưu chiến lược chủ động đề ra những chủ trương, biện pháp tác chiến có hiệu quả nhất. Ngay từ tháng 4-1972, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân và các quân khu phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược, đánh phá trở lại miền Bắc.
Trên cơ sở những nhận định, chỉ đạo sáng suốt, kịp thời của Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân đã sớm hoàn thành Bản kế hoạch chiến dịch đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tài liệu hướng dẫn về cách đánh B52. Theo đó, công tác chuẩn bị mọi mặt được tiến hành hết sức khẩn trương. Việc điều chỉnh đội hình chiến đấu, triển khai sở chỉ huy dự bị các cấp, huấn luyện các kíp chiến đấu, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng quyết tâm, công tác bảo đảm vũ khí, khí tài, bảo đảm cơ sở vật chất,… cơ bản hoàn thành đúng thời gian quy định. Sau khi thông qua kế hoạch tác chiến, Bộ Tổng tham mưu khẩn trương điều chỉnh lực lượng, xây dựng thế trận của lực lượng phòng không 3 thứ quân, chuẩn bị kế hoạch phòng không nhân dân, sẵn sàng đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của địch.
Thứ hai, xây dựng tinh thần tích cực, chủ động, quyết đánh và quyết thắng cho bộ đội phòng không và toàn dân, toàn quân.
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(4), có như thế mới tránh được tổn thất do địch bất ngờ gây ra, còn ta phát huy được hiệu quả chiến đấu cao. Ngay từ tháng 5-1966, Quân chủng Phòng không - Không quân đã điều động Đoàn Tên lửa Hạ Long cơ động chiến đấu, trực tiếp nghiên cứu cách đánh B52 tại chiến trường Vĩnh Linh. Đây là một quyết tâm rất cao thể hiện tư tưởng tích cực, chủ động tiến công của các đơn vị quân binh chủng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, trực tiếp là Quân chủng Phòng không - Không quân. Sau thời gian dài kiên trì bám trụ trận địa phục kích đánh B52, đến tháng 9-1967, Đoàn Hạ Long đã bắn rơi B52.
Từ tháng 2-1968, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đã xây dựng kế hoạch tác chiến đánh máy bay B52 của Mỹ. Đến giữa năm 1972, Quân chủng liên tiếp điều động 4 trung đoàn tên lửa cùng một số máy bay MIG vào Khu 4 để chi viện cho chiến dịch Trị - Thiên và trực tiếp nghiên cứu cách đánh B52 và đã bắn rơi B52. Tuy chưa bắn rơi tại chỗ và chưa bắt sống được giặc lái, nhưng những kinh nghiệm được đúc kết từ những trận đánh này là cơ sở thực tiễn rất quý giá, trực tiếp giúp Quân chủng Phòng không - Không quân xây dựng Phương án đánh B52. Mặt khác, từ cuối năm 1972, bộ đội Phòng không - Không quân ta phải một lúc đảm đương ba nhiệm vụ nặng nề: vừa tiếp tục tham gia tác chiến trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở chiến trường miền Nam, bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị, vừa phải bảo vệ giao thông vận chuyển trên địa bàn Quân khu 4 và trên tuyến cửa khẩu vượt Trường Sơn, đồng thời luôn phải sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích đường không quy mô lớn của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng...
Trước tình hình đó, theo chỉ thị của Bộ Tổng Tư lệnh, Đảng ủy Quân chủng Phòng không - Không quân tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị trong toàn lực lượng, giúp cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc hơn về âm mưu thâm độc của kẻ thù, nhất là thủ đoạn sử dụng máy bay B52 đánh phá quy mô lớn ở miền Bắc, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng. Trên cơ sở đó, động viên tinh thần tích cực, chủ động của các đơn vị quân binh chủng xây dựng quyết tâm, kế hoạch đánh B52. Có thể khẳng định, sự chủ động về tinh thần, ý chí và sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”.
Thứ ba, xây dựng thế trận phòng không 3 thứ quân hoàn chỉnh, vững chắc
Trong cuộc đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, trên cơ sở đường lối chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, một thế trận phòng không nhân dân với lực lượng phòng không - không quân là nòng cốt đã được hình thành và từng bước hoàn chỉnh. Quân và dân Thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng cùng các tỉnh lân cận đã tổ chức được mạng lưới chiến tranh nhân dân rộng khắp cả ở thành thị và nông thôn, kết hợp vũ khí thô sơ với vũ khí hiện đại, trong một thế trận mà kẻ địch sử dụng các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam và thế giới. Đặc biệt, việc xây dựng nên thế trận, sử dụng các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại ấy chính là những con người Việt Nam được rèn luyện và thử thách trong máu lửa của chiến tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thanh niên được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, những trí thức thời đại Hồ Chí Minh là những người làm nên sức mạnh mới. Mặt khác, chế độ xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho quân và dân ta những tiến bộ rất nhanh. Những đường băng cất cánh của máy bay MIG, những trận địa phòng không liên kết đã tạo ra lưới lửa nhiều tầng, bệ phóng cho những quả tên lửa tới đích thực sự là những yếu tố có tính chất quyết định để tạo nên thế trận phòng không nhân dân hoàn chỉnh và vững chắc ở Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung. Thế trận đó đã được kinh qua những thử thách ác liệt của nhiều năm chống chiến tranh không quân của Mỹ, nên trước cuộc tập kích quy mô lớn của không quân chiến lược Mỹ, quân và dân Hà Nội vẫn bình tĩnh - đĩnh đạc bước vào cuộc đụng đầu lịch sử này, không mảy may nao núng mà còn vươn đến đỉnh cao của chiến thắng.
Thứ tư, tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo - tầm cao trí tuệ Việt Nam 
Chiến đấu chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ cuối tháng 12-1972 là cuộc đối đầu giữa lực lượng phòng không nhân dân Việt Nam với máy bay B52 - một phương tiện chiến tranh hiện đại bậc nhất thời bấy giờ - hoạt động trong màn nhiễu điện tử dày đặc. Do vậy, đây thực sự là một cuộc đấu trí, đấu lực đỉnh cao của cả hai phía. Tầm cao trí tuệ Việt Nam được thể hiện trong tài thao lược, trong nghệ thuật chiến dịch phòng không, trong việc làm chủ vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại, trong sáng tạo cách đánh của từng binh chủng, của từng thứ quân, trong việc kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao ở bàn đàm phán Pa-ri. Đây chính là một quy luật đặc sắc của chiến tranh cách mạng - một dân tộc nhỏ muốn đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của một siêu cường phải biết sử dụng cả ý chí và trí tuệ. Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước, nơi hội tụ trí tuệ Việt Nam - qua thử thách của chiến tranh đã tự hào là “tọa độ lửa” đối với không quân Mỹ, là Thủ đô của lương tri nhân loại, phẩm giá con người, là nơi thể hiện đỉnh cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đây chính là một trong những nhân tố mang tính nhân bản, cội nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội, một sự bảo đảm vững chắc để chúng ta làm nên Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”. Điều này cũng đã được chính cố vấn đặc biệt của Chính quyền Ních-xơn là H.Kít-xinh-giơ (Henry Kissinger) thừa nhận: “nếu Việt Nam chỉ anh hùng không thôi thì chúng tôi sẽ đè bẹp, nhưng Việt Nam vừa anh hùng vừa rất thông minh, sáng tạo nên chúng tôi đã thua”.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã kết thúc toàn thắng cách đây gần 4 thập niên, nhưng Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 - đòn đánh quyết định cuối cùng buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, mở ra thời cơ chiến lược lớn để quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thu non sông đất nước về một mối - vẫn mãi là khúc khải hoàn ca âm vang trong tâm trí của các thế hệ người dân Thủ đô Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung và nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Hào khí Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” cùng những kinh nghiệm, bài học lịch sử của nó đã, đang và sẽ tiếp tục được phát huy, nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của chúng ta hôm nay và mai sau./.

Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

Giá trị và bài học về "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đối với Việt Nam

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu làm cho CNXH lâm vào thoái trào, tổng kết quá trình này để lại những bài học quý báu về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.
Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng còn làm thay đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến ngày nay. Tuy nhiên, sau khi chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô phát triển với những thành tựu đỉnh cao vào những năm 70 của thế kỷ trước thì CNXH bắt đầu lâm vào khủng hoảng. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu làm cho CNXH lâm vào thoái trào, tổng kết quá trình này để lại những bài học quý báu về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.
Sự sụp đổ của Liên Xô là bài học quý báu cho các Đảng Cộng sản cầm quyền như Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Quá trình "tự diễn biến" và "tự chuyển hoá" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên được thể hiện qua sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, hoài nghi về chủ nghĩa Mác-Lênin, về chế độ; “cơ hội chính trị” dẫn đến “xét lại”, bất mãn, chán ghét, thù địch và từ đó có những tư tưởng, hành động phản động, chống đối Nhà nước.
Quá trình đó chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Đó là sự tác động của các thế lực thù địch với các phương cách, thủ đoạn thâm độc khác nhau; sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, làm cho chủ nghĩa cá nhân về kinh tế bùng phát trong điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn. Vị kỷ và thực dụng làm cho nhiều cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, làm băng hoại các giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, ngày càng xa rời lý tưởng cách mạng.
Bên cạnh đó là yếu tố xuất phát từ nội tại, đó là phương pháp lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước còn nhiều bất cập, thiếu hợp lý và còn buông lỏng, yếu kém, tạo điều kiện cho những cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất lợi dụng, làm rối loạn kỷ cương, gây thiệt hại cho quốc gia, dân tộc để làm lợi cho cá nhân bản thân hay cho một nhóm nào đó.
Chính lối tư duy mang tính nhiệm kỳ, lợi ích nhóm hình thành đã dẫn tới tình trạng tham ô, tham nhũng không những không giảm mà còn có xu hướng tăng trong các cấp chính quyền từ Trung ương cho tới địa phương. Nếu không chủ động phòng ngừa, không ngăn chặn kịp thời thì cán bộ, đảng viên và quần chúng sẽ dễ bị tác động, phân hoá, tạo ra những hiệu ứng tiêu cực về mặt tư tưởng chính trị.
Một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội XII đã chỉ ra, đó là tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Tiếp đến Hội nghị Trung ương 4 (Khoá XII) đã ra Nghị quyết về "tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự chuyển biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ", trong đó đã chỉ ra rất rõ 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.
Cách mạng Tháng Mười Nga đã lùi xa, sự sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã để lại nhiều bài học đau thương, sự luyến tiếc, hoài niệm cho nhân loại cần lao, xã hội tiến bộ trên toàn thế giới. Song giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga, quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội của Liên bang Xô Viết để lại những kinh nghiệm quý báu cho cách mạng Việt Nam. Một trong những bài học đó đồng thời cũng là nguy cơ, thách thức lớn nhất đối với Đảng và chế độ là "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chúng ta cần:
Một là, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đã làm nên những thắng lợi vĩ đại cũng như quá trình đổi mới của cách mạng Việt Nam. Thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nâng cao năng lực nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc, kiên định con đường chủ nghĩa xã hội.
Hai là, sự lãnh đạo Đảng Cộng sản, giữ vững vai trò lãnh đạo duy nhất và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề chiến lược có tính nguyên tắc. Kế thừa thành quả cũng như bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga và phát triển những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, thì xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, sức mạnh của quần chúng nhân dân là cội nguồn sức mạnh dân tộc. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên gây xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt phải gắn liền phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, môi trường bền vững, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, động lực của sự phát triển. Khi niềm tin của Nhân dân được củng cố, vững chắc thì sức mạnh đại đoàn kết dân tộc mới được hội tụ và phát huy.
Bốn là, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, đủ phẩm chất đạo đức cách mạng và đủ uy tín, được cán bộ đảng viên cơ sở, quần chúng suy tôn. Bên cạnh đó nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, tránh khuynh hướng chạy theo số lượng mà coi nhẹ chất lượng. Đây là vấn đề cốt lõi, then chốt trong công tác xây dựng tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Năm là, nêu cao đạo đức cách mạng "cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư", ngăn chặn “chủ nghĩa cơ hội”, khắc phục chủ nghĩa cá nhân thực dụng, chống những biểu hiện cục bộ, địa phương, phe cánh, lợi ích nhóm, nhằm đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, lấy lại niềm tin đối với Đảng, chế độ.
Sáu là, lực lượng vũ trang, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt đảm bảo độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; là vũ khí sắc bén bảo vệ Đảng, chế độ, Nhà nước và nhân dân. Không thể xa rời tính chính trị của lực lượng vũ trang. “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang là bài học đắt giá được rút ra từ sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu./.

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2017

BÀI HỌC VỀ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG PHẢI BIẾT TỰ BẢO VỆ TỪ THÀNH CÔNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

Giành chính quyền đã khó, nhưng giữ chính quyền còn khó hơn. Luận điểm mácxít cơ bản này cần phải được nhận thức sâu sắc hơn trong điều kiện lịch sử mới. Ở đây, vấn đề “giữ chính quyền” không chỉ thuần tuý là chống những hành động và mưu toan phá hoại của thù trong, giặc ngoài, mà còn cần phải hiểu theo nghĩa rộng lớn hơn, đó là xây dựng và sử dụng chính quyền đó để kiến tạo một xã hội mới trong suốt tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giữ chính quyền “còn khó hơn”, thì việc sử dụng chính quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa còn là vấn đề khó hơn nhiều. Trong quá trình đó, đảng cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động không thể “mải mê” xây dựng chế độ xã hội mới mà buông lỏng việc bảo vệ tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả của mình, dẫn đến mất cảnh giác.
           Lịch sử thế giới sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng minh rõ ý nghĩa thực sự của bài học cách mạng phải biết tự bảo vệ. Để có thể tự bảo vệ, những vấn đề: xây dựng đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, ngang tầm với nhiệm vụ; xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa vững mạnh, thực sự của dân, do dân, vì dân; kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; tuyệt đối trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin; kiên định những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển... là những vấn đề rất cơ bản, đặc biệt hệ trọng của đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc. Sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười; sự tồn tại, phát triển và tan vỡ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do sai lầm của Đảng Cộng sản Liên Xô trong quá trình cải tổ, đã chứng minh tính đúng đắn và hết sức nóng hổi của luận điểm nổi tiếng của V.I.Lênin về cách mạng phải biết tự bảo vệ: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA ĐỂ LẠI BÀI HỌC MẪU MỰC VỀ CHIẾN LƯỢC, SÁCH LƯỢC VÀ PHƯƠNG PHÁP CÁCH MẠNG

Một trăm năm trước, ngày 7 tháng 11 năm 1917, tức ngày 25 tháng 10 theo lịch Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích đứng đầu là V.I.Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã nổi dậy khởi nghĩa vũ trang lật đổ chính quyền tư sản phản động, thành lập chính quyền Xôviết đại biểu công nhân, nông dân và binh lính ở thủ đô Pêtrôgrát, sau đó tiếp tục khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng Tháng Mười thành công. Đây là cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự thành lập, tồn tại, phát triển Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xôviết (Liên Xô) sau đó, Liên Xô đã trở thành một cường quốc lớn mạnh và ưu việt chưa từng thấy, có những đóng góp lớn lao đối với sự phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử nhiều quốc gia, dân tộc. Cách mạng Tháng Mười Nga đã để lại những bài học mẫu mực về chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng; về sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản; về khối liên minh công nông và nghệ thuật chớp thời cơ để giành thắng lợi cho phong trào cộng sản quốc tế. Cách mạng Tháng Mười Nga có sự chỉ đạo thiên tài của V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Nga, đã phân tích tình hình cách mạng một cách khách quan, đánh giá chính xác các yếu tố và điều kiện cách mạng, đề ra chiến lược, sách lược đúng đắn cho từng giai đoạn chuyển biến cách mạng như: vấn đề về sự lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản; vấn đề thời cơ cách mạng, thay đổi sách lược; vấn đề sử dụng bạo lực cách mạng, vấn đề lợi dụng và khoét sâu mâu thuẫn chủ yếu của địch; vấn đề xây dựng khối liên minh công nông… Có thể nói, những nguyên lý của C.Mác, Ph.Ăngghen đã được V.I.Lênin vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ là sự cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế, mà còn để lại những bài học quí báu, chỉ ra cho phong trào cộng sản quốc tế con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.
Cách mạng Tháng Mười Nga thực sự là điểm khởi đầu cho sự chấm dứt ách bóc lột, đô hộ, thống trị của chủ nghĩa tư bản đối với người lao động và các dân tộc thuộc địa, đồng thời bắt đầu cho việc xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Các đảng cộng sản trong phong trào cộng sản quốc tế đã nhận được những bài học lớn từ Cách mạng Tháng Mười để đối phó với sự đối đầu giữa hai mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Toàn bộ hệ thống luật pháp quốc tế của thời Chiến tranh lạnh và hiện nay đều được định hình từ chính sự đối lập này.
Đặc biệt, cách thức Nhà nước Nga Xôviết (giai đoạn đầu) xử lý các vấn đề kinh tế như tăng trưởng, thương mại, đầu tư; những vấn đề xã hội như công bằng, dân chủ, an sinh, môi trường, giáo dục; những vấn đề về quản lý từ vĩ mô đến vi mô… đều là những bài học quý cho các đảng cộng sản trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước mình. Còn những bài học đắt giá mà nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười Nga để lại như cách thức bảo đảm an sinh xã hội của Liên Xô trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội được dựa chủ yếu trên nền tảng  mệnh lệnh hành chính chứ không phải bằng những nguồn lực có thật. Hệ quả là Liên Xô và các đảng cộng sản theo “mô hình Xôviết” dần suy kiệt về vật chất cũng như mô hình phúc lợi xã hội bị biến dạng thành kiểu “xin - cho” rồi đi đến thất bại. Những bài học của Cách mạng Tháng Mười và nước Nga Xôviết đang được các đảng cộng sản, nhất là các đảng đang cầm quyền, lãnh đạo công cuộc đổi mới, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa nghiêm túc tiếp thu, bổ sung cho phù hợp, đưa những nước này trở thành “điểm sáng thành công nhất” trong phong trào cộng sản quốc tế kể từ sau Chiến tranh lạnh đến nay.

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

BÀI HỌC CHO NHỮNG KẺ ĐỘI LỐT TÔN GIÁO MƯỢN DANH CHÚA ĐỂ HẠI DÂN, HẠI NƯỚC

Dư luận nhân dân cả nước ta, kể cả đồng bào có đạo, những ngày vừa qua rất bất bình trước việc ông Nguyễn Đình Thục - linh mục quản xứ Song Ngọc, xã Song Ngọc và ông Đặng Hữu Nam - linh mục quản xứ Phú Yên, xã An Hòa, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An thường xuyên có những hành động lợi dụng chiêu bài đòi hỏi “quyền lợi” và “công lý” cho người dân, luôn gây ra những hành động cực đoan, trực tiếp xúi giục, kích động giáo dân có những hành vi vi phạm pháp luật, đẩy một số giáo dân vào vòng lao lý. Việc làm của linh mục Thục và Linh mục Nam không thực hành các tín điều mà Đức Chúa Giêsu và các Thánh đã căn dặn; không truyền dạy thấu đáo những điều kính Chúa,yêu nước đến giáo dân.

Trái lại, các ông đã biến nhà thờ thành nơi cổ vũ cho những việc làm phàm tục, luôn dành nhiều thời gian trong buổi lễ để bôi xấu chế độ, bôi bẩn tâm hồn trong sạch của giáo dân, nhuốm mầu hận thù trong con trẻ, kích động bạo lực và chống đối chính quyền trong thanh niên, giới trẻ, chia cắt tình nghĩa lương - giáo, gây mẫu thuẫn trong xã hội, bất bình an trong lòng dân. Người đứng đầu một giáo xứ không lo chăm lo, coi sóc linh hồn và sự bình an trong giáo dân, không lo truyền dạy những lời hay lẽ phải của Chúa, lời răn dạy của các Thánh,… mà lại can dự vào chính trị, vào việc đời, thì là sao có thể xứng đáng làm “Cha” để chăn dắt phần hồn của các con chiên. Những điều hay lẽ phải mà Đức Chúa Giêsu và các Tông đồ đã khắc ghi tại tập 27, chương X của Giáo luật rằng: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”, của Kitô giáo, tại sao các ông “linh mục” đó không tự răn lấy mình và không truyền dạy cho giáo dân để làm sáng danh Chúa. Các ông sợ điều gì? Phải chăng các ông sợ “vạch áo thầy tu cho con chiên thấy Quỷ sứ”, và thấy bản chất của kẻ đội lốt, lợi dụng tôn giáo để phá hoại chính tôn giáo và phá hoại chính quyền và đời sống nhân dân?! Làm trái việc Đạo, làm hại đến việc Đời, ấy là bản chất của xấu xa và sự tha hóa trong tâm hồn của những con người ý thức đen tối của ông Thục, ông Nam. Các ông nên nhớ, kẻ phản Chúa không chỉ là Judas, mà còn là những kẻ làm trái với tư tưởng, mong muốn của Chúa, phá hoại niềm tin nơi Chúa của chính giáo dân. Chưa nói đến sự bất bình trong xã hội và luật pháp, thì sự bất tin theo những xằng bậy ở mỗi giáo dân đối với ông Thục và ông Nam cũng đã quá lắm rồi. Hãy dừng ngay những hành vi trái đạo, trái đời của các ông lại, khi còn chưa muộn. Giáo dân các nơi cả nước đã không còn tin ở các ông, giáo xứ nhiều nơi cũng như Giáo hội Công giáo Việt Nam đã thấy xấu hổ vì những hành vi làm ô nhục “Nước Chúa” của các ông Thục, ông Nam. Giáo dân đã thực sự tin Chúa, chứ không tin những kẻ đội lốt tôn giáo như các ông./.