Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến dịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến dịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

ĐẠI VÕ NGUYÊN GIÁP – NHÀ QUÂN SỰ TÀI NĂNG XUẤT CHÚNG, VỊ TƯỚNG MƯU LƯỢC, QUYẾT ĐOÁN

Đánh giá về tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư sử học Georges Boudarel người Pháp đã viết: “Võ Nguyên Giáp là nhà quân sự lỗi lạc, vị tướng lĩnh tài ba, nhân vật nổi bật của lịch sử hiện đại Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX... một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ XX và là một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của các thời đại". Ở những thời điểm quan trọng, mang tính bước ngoặt của cuộc kháng chiến, Đại tướng luôn đánh giá đúng cục diện chiến trường, sáng suốt đưa ra những quyết định đúng đắn; đề xuất, chỉ đạo, thực hiện công thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” đập tan cuộc tiến công quy mô lớn của thực dân Pháp lên Việt Bắc (1947); sáng suốt quyết đoán đổi mục tiêu đánh Cao Bằng sang Đông Khê trong Chiến dịch Biên giới (1950); chủ trương phân tán lực lượng cơ động Pháp ra nhiều hướng trên chiến trường Đông Dương để chúng khó ứng cứu cho chiến trường Điện Biên Phủ trong Chiến cuộc Đông Xuân (1953-1954).

Đặc biệt, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), Đại tướng hết sức cẩn trọng, so sánh tương quan lực lượng hai bên, táo bạo nhưng không tùy tiện, xác định chắc thắng mới đánh, nên đã đề xuất và quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, đưa chiến dịch đến thắng lợi hoàn toàn.

Ngay sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại tướng là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên của Đảng khẳng định: “Phải tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bằng cuộc chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Sớm nhận ra tầm quan trọng của việc chi viện chiến lược cho cách mạng miền Nam, Đại tướng đề xuất với Trung ương và trực tiếp chỉ đạo xây dựng, bảo vệ tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, mở Đường Hồ Chí Minh trên biển nhằm tiếp tế hàng quân sự và binh khí kỹ thuật nhanh chóng, kịp thời cho chiến trường miền Nam.

Đại tướng đã cùng tập thể Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu cho Đảng mở Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh để ghìm lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc chiến trường miền Nam (tức Trị Thiên), tạo điều kiện thuận lợi để quân dân miền Nam tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), tiêu diệt địch trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn-Gia Định, Huế, Đà Nẵng; chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân xây dựng phương án, tổ chức đánh bại cuộc tiến công đường không chiến lược (1972) của Mỹ, bảo vệ vững chắc bầu trời Hà Nội, Hải Phòng... giữ vững hậu phương chiến lược chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Đại tướng chỉ đạo Bộ tư lệnh chiến dịch điều Sư đoàn 968 từ Nam Lào về tổ chức nghi binh ở Pleiku (Bắc Tây Nguyên); bí mật cơ động Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A từ Bắc Tây Nguyên về hướng chính (Nam Tây Nguyên) phối hợp với Sư đoàn 316 thần tốc từ miền Bắc vào bố trí thế trận, bất ngờ đột phá Buôn Ma Thuột mở màn chiến dịch, tổ chức cắt giao thông, sẵn sàng đánh địch phản kích ứng cứu Buôn Ma Thuột, làm cho địch hoảng loạn, buộc phải rút chạy khỏi Tây Nguyên.

Đặc biệt, Đại tướng đã nắm chắc thời cơ chiến lược, đề nghị giải phóng sớm miền Nam (1975) so với kế hoạch ban đầu; chỉ đạo mở Chiến dịch Huế-Đà Nẵng; giải phóng quần đảo Trường Sa; thành lập cánh quân phía Đông Sài Gòn phối hợp với 4 cánh quân khác và ra mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa...”, kịp thời xốc tới bao vây, tiến công tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của địch tại Sài Gòn, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc đến toàn thắng.

Trong quá trình chỉ đạo tác chiến, Đại tướng luôn cân nhắc kỹ lưỡng, đưa ra những quyết định táo bạo, quyết đoán, sắc sảo, đúng đắn; luôn chủ động “khiển địch, điều địch” buộc chúng bị động thay đổi thế trận, phải đánh theo cách đánh của ta, từng bước lâm vào thế bị động đối phó, bị tiêu hao, tiêu diệt ngày càng lớn và chịu thất bại hoàn toàn. Điều đặc biệt là, Đại tướng chưa từng được đào tạo ở bất kỳ trường lớp quân sự nào, kiến thức và tài năng quân sự của Đại tướng đều do tự học, tự nghiên cứu từ lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam và tinh hoa quân sự thế giới; tiếp thu, vận dụng sáng tạo học thuyết quân sự Mác-Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đúc rút kinh nghiệm qua thực tiễn chỉ đạo chiến đấu.

Điều này đã tạo nên sự đặc sắc, độc đáo, khác biệt của Đại tướng khiến thế giới khâm phục, suy tôn Võ Nguyên Giáp là “danh tướng”, một trong những thống soái kiệt xuất nhất trong lịch sử nhân loại, như Đại tướng Mỹ Oétmolen đã đánh giá Võ Nguyên Giáp là “một thống soái quân sự cỡ lớn”, còn Bécna-sử gia phương Tây khẳng định: “Trong một tương lai có thể thấy trước, phương Tây chưa thể đào tạo được một vị tướng nào có thể so sánh kịp với tướng Giáp".

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

ĐIỆN BIÊN PHỦ - NHỮNG ĐIỀU CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ CHIẾN TRANH

Chiến dịch Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên) giữa Quân đội Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong chiến dịch này: “xe đạp thồ”, “địch tiếp tế” và “dân nhiều hơn quân” là những điểm mấu chốt quan trọng nhất góp phần làm nên chiến thắng vang dội trong lịch sử.

1- Xe đạp lên ngôi vua vận tải

Thời ấy các gia đình khá giả mới có được một chiếc xe đạp, đó cũng là tài sản quý nhất của mỗi nhà. Thế mà dân đem xe ra trận, sáng kiến, cải tiến, gia cố chiếc xe đạp của mình thành xe thồ, phương tiện vô cùng lợi hại vận chuyển tiếp tế cho mặt trận mà không có bất cứ phương tiện nào sánh kịp; trên địa hình hiểm trở, đường hẹp, dốc trơn, vừa phát cây san đường, chỉ cần 1 mét chiều ngang là đi được."Xe đạp thồ" là một danh từ ra đời từ mặt trận Điện Biên Phủ. Nó đã góp phần quan trọng vào chiến thắng, trở thành ngôi vua vận tải cho trận đánh lớn này. Có lẽ vì thế mà chiếc tay cầm nối dài được gọi là "tay ngai" (chỉ có vua mới có ngai).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: "Mỗi xe thồ lúc đầu chở được 100 kg sau đó nâng lên 200 kg, 300 kg. Có một dân công ở Phú Thọ, anh Ma Văn Thắng chở được 352 kg. Năng suất xe thồ gấp 10 lần dân công gánh bộ. Gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở cũng giảm đi 10 lần". Như vậy 1 dân công với chiếc xe đạp thồ bằng 100 dân công gánh bộ.

Đội quân xe đạp thồ xuất hiện ở Điện Biên là một sự kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh, không chỉ ở Việt Nam mà cả lịch sử chiến tranh thế giới.

2- Giặc liên tục tiếp tế cho ta, biết mà vẫn phải làm

Đây là chuyện rất hy hữu chưa từng có trong chiến tranh, kể cả trên thế giới.

Khi trận Điện Biên Phủ diễn ra được 3 tuần lễ, vòng vây khép chặt, ta và địch kề cận nhau, có nơi xen kẽ, có điểm lúc này thuộc bên này, lúc khác lại thuộc bên kia, đêm quân ta đào giao thông hào, ban ngày địch cho xe ra san lại.

Hàng vạn quân địch chỉ trông chờ vào phương tiện tiếp tế duy nhất là đường hàng không cách xa trên 360 km. Sân bay Mường Thanh liên tục bị ta pháo kích. Chỉ còn lại một biện pháp duy nhất là thả dù. Máy bay Pháp, phi công Pháp huy động 100% vẫn không đủ. Phải nhờ đến cả máy bay vận tải Mỹ, phi công của Mỹ mặc thường phục để thả dù tiếp tế cho Điện Biên Phủ.

Về nguyên lý máy bay thả dù, muốn thả cho chính xác cần phải xuống thấp và tính được gió. Lòng chảo Điện Biên hướng Đông - Tây hẹp, chung quanh núi cao, chỉ có chiều dài theo hướng Bắc - Nam. Mà ở cả hai đầu hướng Bắc Nam, cao xạ pháo và súng phòng không của ta sẵn sàng nghênh đón. Vậy là chỉ còn hai cách bay trên cao và thả ban đêm. Với hai cách này mà ở vùng lòng chảo lại thường có gió quẩn, rơi không chính xác và không theo chiều nhất định. Hàng thả dù rất khó trúng đích, rơi rất nhiều sang phía quân ta. Địch biết rõ nhưng không có cách nào khắc phục được.

Cố Đại tướng Hoàng Văn Thái kể lại rằng: "Có đến trên một phần ba đồ tiếp tế của chúng rơi vào trận địa quân ta, có những thứ ta đang rất cần, đã hết hoặc không có như: huyết thanh khô, đạn súng cối, đạn đại bác... Có lần anh em nhặt được những bao tải, tưởng là bao cát định đem làm công sự. Tiểu đoàn trưởng thấy ngoài bao có chữ "Sucre" liền thọc lưỡi lê vào rút ra toàn là đường trắng, một thứ rất quý, cần tăng sức cho bộ đội ta. Có những thứ không ai nghĩ tới như nước đá cây, xà lách, hành tây. Các chiến binh 312 còn nhặt được cả một thùng hàng trong đó có rượu sâm-banh và quân hàm cấp tướng của DeCastries mới được phong. Anh em quẳng quân hàm đi và mở rượu ra liên hoan. Trong vòng một tuần lễ có trung đoàn thu được 776 dù hàng của địch đủ các loại: gạo, sữa, đường, sô-cô-la, đạn pháo... (địch đã thả dù sang trận địa ta, tổng cộng 5.000 viên đạn đại bác 105 ly).

Tất cả hàng tiếp tế rơi vào quân ta. Bộ Chỉ huy Pháp biết rất rõ, biết từng ngày, biết cả số liệu cụ thể nhưng không có cách nào khác là từng ngày vẫn cứ phải tiếp tế nhiều hơn, càng tiếp tế thì tập đoàn cứ điểm càng thêm nguy cơ "tắt thở".

3- Dân ra trận nhiều hơn quân

Lần đầu tiên và cũng là sự kiện có một không hai trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm của dân tộc ta, dân ra mặt trận nhiều hơn quân đội. Chỉ tính riêng đội quân xe đạp thồ (hơn 2 vạn) đã đông hơn số quân chủ lực. Chưa tính và không thể nào tính hết được biết bao nhiêu dân công tiếp lương, tải đạn, làm đường suốt biên giới trở về, từ đồng bằng khu 3, khu 4, trung du ngược lên, trên mọi nẻo đường. Dân nuôi quân, che chở, chăm lo từng bước quân đi.

Trung ương Đảng và Chính phủ động viên toàn dân dốc sức chi viện cho trận Điện Biên Phủ. Một tổ chức đặc biệt được thành lập là Hội đồng cung cấp trung ương do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Thời gian này ở lại hậu phương phần lớn chỉ là người già yếu và trẻ em. Chưa bao giờ khát vọng vì độc lập tự do, ý chí, tinh thần của dân tộc Việt Nam "quyết tâm đánh thắng giặc, tất cả cho tiền tuyến" lại trở thành sức mạnh vật chất một cách cụ thể, hùng hậu đến như vậy. Trên mọi mặt trận từ đồng bằng, khu 3, khu 4, Bình Trị Thiên, miền Trung, khu 5, Tây Nguyên cho đến Nam Bộ - ở đâu đâu, bất cứ trận đánh lớn nhỏ, đánh sân bay, kho tàng, đánh thật hoặc đánh nghi binh... tất cả đều đặt lên hàng đầu một mục tiêu là: phối hợp với mặt trận Điện Biên.

Trong lịch sử chiến tranh đánh giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay chưa hề có trận đánh nào dài ngày như trận đánh Điện Biên Phủ. Chỉ tính từ lúc nổ súng cho đến khi quân giặc đầu hàng, tướng giặc bị bắt, trọn 56 ngày đêm giao tranh không ngừng tiếng súng.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là sự kết tinh của nhiều nhân tố, trong đó quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của ý chí quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh của Quân đội nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ đồng thời là chiến thắng của tình đoàn kết chiến đấu bền chặt, thủy chung, son sắt giữa quân đội, nhân dân 3 nước Đông Dương và sự đoàn kết, giúp đỡ, ủng hộ của các nước anh em và bạn bè quốc tế. Chiến thắng Điện Biên phủ đã làm nên một thiên sử vàng cho dân tộc ta. Muôn đời sau các thế hệ người Việt Nam sẽ còn nhắc đến chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, không chỉ là niềm tự hào về ông cha mình mà còn như là của chính mình vậy./.

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

“TÔI HÂN HẠNH ĐƯỢC LÀM KẺ CHIẾN BẠI CỦA TƯỚNG GIÁP”, “TÔI NGƯỠNG MỘ VÀ KÍNH PHỤC ÔNG”- TƯỚNG DE CASTRIES CỦA PHÁP

Khác với các chính khách, tướng lĩnh khác từng thất trận ở Việt Nam, De Castries không viết hồi kí. Tuy nhiên, trước khi được trao trả, ông ta đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương”.

Tổng chỉ huy quân đội Pháp thừa nhận: “Đối phương cao hơn chúng ta”!

Với cái tên dài dằng dặc Christian Marie Ferdinand de la Croix de Castries, Tướng De Castries (1902-1991) sinh ra trong một gia đình quý tộc, vì vậy còn được gọi là “Bá tước Đờ Cát” (Le Comte de Castries). Dòng họ de Castries từng sinh ra một nguyên soái là Bộ trưởng Hải quân Pháp vào thế kỷ 18, một trung tướng, bảy thiếu tướng và bốn thống đốc.

Tốt nghiệp Trường kỵ binh Saumur và Trường võ bị Saint Cyr nổi tiếng, de Castries đã tham gia chiến đấu chống phát xít Đức ở Bắc Phi, Ý, Nam Pháp và Nam Đức. Năm 1946, De Castries được phái đến Đông Dương, đã chỉ huy nhiều cuộc hành quân bình định vùng Hưng Yên, Ninh Bình và nhanh chóng nổi tiếng vì xông xáo trận mạc, từng bị thương nặng gãy hai chân. Khi ra trận, thường de Castries có dáng điệu rất oai phong với chiếc mũ ca lô đỏ trên đầu, cổ thắt chiếc khăn đỏ sặc sỡ, tay cầm cây gậy bằng hợp kim nhôm nhẵn bóng.

Ngoài binh nghiệp, De Castries còn là vận động viên có hạng, từng vô địch thế giới về nhảy cao năm 1933, về nhảy xa năm 1935. Ông cũng là kỵ sĩ đua ngựa giỏi.

Ngày 7/12/1953, đại tá Christian De Castries được Cogny và Navarre chỉ định chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trả lời câu hỏi vì sao lại trao quyền chỉ huy Điện Biên Phủ đáng lẽ phải là một viên tướng, cho một đại tá, Navarre trả lời: "Tôi không trông lon mà xét người nên cũng chẳng sùng bái gì lắm mấy ngôi sao cấp tướng. Tôi khẳng định: Trong số các chỉ huy được lựa chọn, không ai có thể làm giỏi hơn Castries". Bản thân de Castries rất hãnh diện về điều này. Ông ta đã cố xây dựng Điện Biên Phủ thành một pháo đài “bất khả xâm phạm”, một “pháo đài mạnh nhất chưa từng có ở Đông Dương”. Chính Navarre đã nhận định: không một quan chức dân sự, quân sự nào kể cả Pháp lẫn Mỹ đến thăm Điện Biên Phủ mà không ngạc nhiên về sức mạnh phòng thủ của nó và không tỏ cảm tình với de Castries.

Rất chủ quan về tính “bất khả xâm phạm” của Điện Biên Phủ, De Castries cho máy bay rải truyền đơn khiêu khích, thách thức quân ta tấn công. Một tuần trước khi quân ta nổ súng mở màn chiến dịch, Navarre định bổ sung cho Điện Biên Phủ 3 tiểu đoàn để tăng cường phòng thủ, song De Castries đã khước từ.

Đến giữa tháng 4/1954, khi đã mất sân bay Mường Thanh và vòng vây ngày một bị quân ta siết chặt, thì thái độ của De Castries chuyển từ chủ quan, hung hăng sang hoảng hốt. Chiếc mũ ca lô đỏ và cây gậy bị “bỏ quên”. Thay vì đi kiểm tra, đốc chiến, suốt ngày ông ta ngồi lì trong hầm Sở chỉ huy chất đầy các bao cát dầy tới 3m, gào thét vào điện thoại về tình cảnh bi đát của “Con Nhím” và yêu cầu tăng viện cứu nguy.

Ngày 16/4/1954, trong một nỗ lực nằm khích lệ tinh thần của một vạn rưởi quân đang ngụp lặn trong các chiến hào Điện Biên Phủ, De Castries được thăng hàm thiếu tướng (General de brigade). Oái ăm thay, lon và quà mừng như rượu hảo hạng, thuốc lá thơm, xúc xích, bít tết… gửi bằng dù lại bay vào trận địa quân ta. Cực chẳng đã, ngài bá tước phải cho quân lính cắt vỏ đồ hộp làm cho ông ta bộ lon cấp tướng để đeo tạm. Hai tuần sau (ngày 7/5), tập đoàn cứ điểm thất thủ, Castries bị bắt làm tù binh, kết thúc số phận hẩm hiu của một viên tướng thực dân.

Khác với các chính khách, tướng lĩnh khác từng thất trận ở Việt Nam, De Castries không viết hồi kí. Tuy nhiên, trước khi được trao trả, ông ta đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

"Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương”.

De Castries không thể tin rằng Đại tướng Võ Nguyên Giáp chưa hề qua một trường lớp quân sự bài bản nào. Ông ta khăng khăng cho rằng: "Nhất định Tướng Giáp đã tốt nghiệp tại học viện quân sự cấp cao ở Nga Xô hoặc ở Mỹ…". Và viên bại tướng đã phải thốt lên rất thành thực: "Tôi thừa nhận Tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn, tài giỏi hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cogny và tướng Navarre. Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

“THẦN TỐC, THẦN TỐC HƠN NỮA. TÁO BẠO, TÁO BẠO HƠN NỮA. TRANH THỦ TỪNG PHÚT, TỪNG GIỜ, XỐC TỚI MIỀN NAM. QUYẾT CHIẾN VÀ QUYẾT THẮNG. TRUYỀN ĐẠT TỨC KHẮC ĐẾN ĐẢNG VIÊN, CHIẾN SĨ” ĐƯỢC COI LÀ KIM CHỈ NAM, LỜI HỊCH TƯỚNG SỸ ĐỂ CÁC CÁNH QUÂN TIẾN THẲNG VÀO SÀO HUYỆT CỦA KẺ THÙ

Cách đây 46 năm, lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lịch sử dân tộc đã ghi một mốc son chói lọi khi lá cờ cách mạng tung bay trên nóc dinh Độc Lập, kết thúc thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong thắng lợi vẻ vang ấy, không thể không nhắc đến sự lãnh đạo và điều hành trực tiếp của Bộ thống soái tối cao: Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh. Trong những ngày tháng lịch sử đó, Bộ thống soái tối cao đã tập trung trí tuệ, tài năng ra những quyết định, kế hoạch chiến lược, chiến dịch, những mệnh lệnh, chỉ thị cho quân và dân cả nước biến các nghị quyết đúng đắn của Đảng thành sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trên các chiến trường.

Một trong những mệnh lệnh đó do Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ký trong bức điện khẩn ngày 7-4-1975. Bức điện với nội dung “thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới miền Nam. Quyết chiến và quyết thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ” được coi là kim chỉ nam, LỜI HỊCH TƯỚNG SỸ để các cánh quân tiến thẳng vào sào huyệt của kẻ thù.

Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Quân ủy Trung ương, ngày 31-3-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Quân đoàn 1: 'Quân đoàn 1 (trừ Sư đoàn 308) có nhiệm vụ tổ chức hành quân gấp vào miền Đông Nam Bộ, hiệp đồng với các đơn vị bạn tham gia trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn-Gia Định'.

9 giờ 30 phút ngày 7-4-1975, Quân đoàn 1 nhận được bức điện khẩn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Mệnh lệnh của Đại tướng lập tức được chuyển đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đang hành quân nhiều ngày, đã khá mệt, nhưng khi nhận được lệnh, anh em phấn khởi cơ động suốt ngày đêm, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, có mặt đúng vị trí tập kết tại Đồng Xoài, tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước); nhanh chóng huấn luyện bổ sung cách đánh trong thành phố và cách đánh thọc sâu trong hành quân bằng bộ binh cơ giới. Với phương châm: Táo bạo, thọc sâu đánh nhanh các mục tiêu theo kế hoạch; đêm 25-4-1975, cùng với các đơn vị trong Quân đoàn 1, Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B đã tập trung ở Bầu Cá Trê, phía bắc Tân Uyên.

Ngày 26-4-1975, chúng tôi được lệnh tiến công đánh vượt qua Tân Uyên theo đường đất đỏ qua Bình Chuẩn; tối 29-4-1975, đơn vị vào tới Búng, cách Lái Thiêu 10km. Đến 20 giờ ngày 29-4, tôi (khi đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27) và đồng chí Trịnh Văn Thư, Chính ủy trung đoàn, cùng tổ trinh sát đã bắt được liên lạc với cơ sở cách mạng. Tại xã Thuận Giao, gia đình bà Huỳnh Thị Sáu (má Sáu Ngẫu) rất vui và lấy tấm bản đồ thành Sài Gòn cất giữ từ lâu, trao ngay cho chúng tôi. Má Sáu chỉ tường tận đường đi, các chốt đóng quân, trận địa hỏa lực của địch mà má đã đánh dấu. Nhờ tấm bản đồ chỉ dẫn của má Sáu, sáng 30-4-1975, trong đội hình của Sư đoàn 320B (Quân đoàn 1), Trung đoàn 27 theo trục đường 13, lần lượt đánh chiếm quận lỵ Lái Thiêu, bao vây, chia cắt, cô lập, bức hàng hơn 2000 tên địch tại Trại lính Huỳnh Văn Lương và đánh chiếm cầu Vĩnh Bình; tiếp đó tiến công đánh chiếm Bộ tư lệnh Thiết giáp ngụy, căn cứ Lục quân công xưởng Gò Vấp, tiếp quản Tổng y viện cộng hòa.

9 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, ba mũi tiến công của Quân đoàn 1 đã gặp nhau ở khu vực cột cờ, trước trụ sở Bộ Tổng tham mưu ngụy. 16 giờ ngày 30-4-1975, các đơn vị của quân đoàn đều hoàn thành nhiệm vụ được giao; quân đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về trình độ tổ chức, chỉ huy, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, với nhiều bài học kinh nghiệm quý. Trước hết, là nét độc đáo về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng thọc sâu chiến dịch, tạo ưu thế về sức mạnh, đánh chiếm mục tiêu chiến lược, giành thắng lợi. Thực hiện phương châm: “Thần tốc, quyết thắng”, nên bộ đội ta nhanh chóng đánh vượt qua các trọng điểm đề kháng vòng ngoài, đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu; đặc biệt là đánh chiếm các cầu để đưa quân ta vào đánh các mục tiêu chiến lược trong nội đô Sài Gòn. Đây là nét độc đáo về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng thọc sâu trong chiến dịch; nhanh chóng tiêu diệt các cơ quan đầu não của địch; thực hiện triệt để tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị: “Thần tốc, táo bạo, chắc thắng”.

Các đơn vị quân giải phóng đã tạo lập thế trận thọc sâu vững chắc, sẵn sàng đột kích đánh chiếm mục tiêu đảm nhiệm. Trước khi bước vào chiến dịch, ta đã khẩn trương chuẩn bị tốt các trục đường cơ động trên các hướng, nhất là đường cơ động cho xe cơ giới. Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tổ chức các đợt chiến đấu tạo ra thế trận thọc sâu vững chắc, bảo đảm có thể hợp vây lớn và chia cắt cả tập đoàn phòng ngự của địch. Đây là nghệ thuật tạo lập thế trận ban đầu rất quan trọng để các đơn vị nhanh chóng tiêu diệt, làm tan rã các đơn vị chủ lực của địch; khiến chúng không thể ứng cứu được cho nhau, dẫn tới sụp đổ nhanh chóng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng thể hiện nét độc đáo về nghệ thuật kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực với LLVT địa phương; giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng. Các đơn vị của Quân đoàn 1, cùng với việc xác định hướng tiến công đúng và sử dụng lực lượng hợp lý, đã tận dụng thế trận chiến tranh nhân dân tại chỗ để làm bàn đạp, tạo sức mạnh bảo đảm liên tục phát triển chiến đấu; vừa bảo vệ được đội hình, vừa bảo vệ được lực lượng trên hướng tiến công chủ yếu, nhanh chóng chuyển hóa thế trận, chuyển hướng tiến công, thực hiện đúng ý định và kế hoạch của Tư lệnh chiến dịch.

Mệnh lệnh lịch sử này đã góp phần quan trọng tạo nên tính lịch sử cho chiến dịch quân sự lớn nhất của Quân đội nhân dân việt Nam.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Ngay sau Hội nghị Bộ Chính trị (ngày 31/3/1975 với quyết tâm của Bộ Chính trị thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất – NV), tôi suy nghĩ nhiều về trận chiến đấu sẽ diễn ra trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn – Gia Định. Sau khi nghiên cứu, trao đổi với Tổng tham mưu phó Cao Văn Khánh và Cục trưởng tác chiến Lê hữu Đức, ngày 1 tháng 4, tôi gọi điện vào B2: Đúng như Bộ Chính trị nhận định, chiến tranh cách mạng ở miền Nam đang bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt. Hiện nay ta đã có đầy đủ lực lượng và khả năng để dành thắng lợi hoàn toàn trong một thời gian ngắn hơn dự kiến rất nhiều.

Vấn đề quyết định là phải kịp thời nắm lấy thời cơ, tranh thủ vào trung tuần tháng 4 thì bắt đầu cuộc tấn công quy mô lớn vào Sài Gòn. Làm được như vậy thì thuận lợi nhất, bảo đảm thắng lợi giòn giã nhất. Bất ngờ hiện nay không còn ở phương hướng nữa. Địch biết nhất định ta sẽ đánh vào Sài Gòn nhưng chúng cho rằng ta cần chuẩn bị một hai tháng. Vì vậy bất ngờ hiện nay chủ yếu là khâu thời gian. Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng, thần tốc, mặt khác sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động…”. (Trích Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, NXB Quân đội nhân dân).

Quân ủy Trung ương đang theo dõi diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Trong ảnh, từ trái sang phải: đại tá Lê Hữu Đức (Cục trưởng Cục tác chiến), thượng tướng Hoàng Văn Thái (Phó tổng tham mưu), thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm (Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần), thượng tướng Song Hào (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), đại tướng Võ Nguyên Giáp (Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Quốc phòng, Bí thư Quận ủy Trung ương), trung tướng Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói rõ hơn: “Cuộc tiến công lịch sử của Quang Trung – Nguyễn Huệ lại hiện về trong ký ức. Ngày 4-4, tôi gửi điện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 2 đang hành quân: Các đồng chí lên đường làm nhiệm vụ rất vẻ vang. Cần hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng…. Ngày 7/4, tôi ra lệnh cho các đơn vị đang dổ vào chiến trường: “Mệnh lệnh: 1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. 2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”.

Bức điện khẩn “Thần tốc, thần tốc hơn nữa…” do tự tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy trung ương, Bộ trưởng bộ Quốc phòng ký tên được Ban Cơ yếu lập tức truyền đi khắp các mặt trận trên toàn miền Nam như một lời hịch tướng sĩ. Mệnh lệnh đã truyền đạt quyết tâm cao nhất của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tới các cấp lãnh đạo và chỉ huy chiến trường, tới mỗi đảng viên, chiến sĩ để chủ động sáng tạo, thừa thắng, xốc tới, hướng mọi hành động theo phương châm thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Và cả dân tộc đã ra quân với khí thế ấy. Tất cả đều thấm nhuần: lúc này, lỡ thời cơ là có tội.

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

NHẬN DIỆN "CHIẾN DỊCH" CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI ĐẢNG

Càng gần đến ngày diễn ra Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch càng gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá với nhiều thủ đoạn tinh vi. Hoạt động của chúng không còn được thực hiện đơn lẻ mà được tiến hành ồ ạt theo kiểu “chiến dịch”, với việc huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện, tuyên truyền tập trung về một chủ đề thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, cần nhận diện để chủ động đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn. Có thể thấy, các “chiến dịch” này có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020

NHẬN DIỆN CÁC “CHIẾN DỊCH” TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Càng gần đến ngày diễn ra Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch càng gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá với nhiều thủ đoạn tinh vi.

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2018

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH TỔNG TẤN CÔNG MÙA XUÂN 1972

Chiến dịch Tổng tấn công mùa Xuân 1972 với Chiến dịch Trị Thiên Huế, trận Thành cổ Quảng Trị và sự kết thúc thắng lợi với Hiệp định Paris.
Cũng với phương cách tương tự, một nhúm người tự phong mình là “sử gia” của chế độ ngụy Sài Gòn sau khi di tản sang Mỹ đã viết về trận chiến ở Thành cổ Quảng Trị với những sự cắt xén, xuyên tạc đến trơ tráo. Chúng không hề nhắc đến chuyện cả một trung đoàn 56 (thuộc Sư đoàn 3) quân ngụy Sài Gòn do các trung tá Phạm Văn Đính và Vĩnh Phong chỉ huy đã đầu hàng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và đến ngày 2-5-1972 thì Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, đẩy quân ngụy Sài Gòn về phía Nam sông Mỹ Chánh.
Trong những ngày mùa hè bỏng cháy năm 1972, chỉ có không quân và hải quân Mỹ mới có thể cứu được Quân đoàn 1 (Quân khu I) ngụy Sài Gòn tránh khỏi sự sụp đổ hoàn toàn. Các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia tại Mặt trân B5 (Trị Thiên Huế) đã tổn thất khá nhiều về người, vũ khí, trang bị mà phần lớn những tổn thất đó là do không quân Mỹ (bao gồm cả máy bay ném bom chiến lược B-52) và các chiến hạm của Mỹ đậu gần bờ biển pháo kích vào.
Ngày 28-6-1972, sau khi được tăng viện Sư đoàn Thủy quân lục chiến và Sư đoàn Dù từ Quân đoàn 3 ra, quân ngụy Sài Gòn bắt đầu cuộc phản công mang mật danh “Lam Sơn 72” do tên tướng ba sao Ngô Quang Trưởng chỉ huy. Mặc dù nắm trong tay binh lực của các sư đoàn 1, 3 (thiếu), Dù, Thủy quân lục chiến và 5 liên đoàn biệt động quân (mỗi liên đoàn tương đương một lữ đoàn) để đối phó với 3 sư đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tổn thất trong 3 giai đoạn “Bão táp” của Chiến dịch Trị Thiên Huế nhưng phải đến ngày 16-9-1972, quân ngụy Sài Gòn mới có thể chiếm lại được Thành cổ Quảng Trị và chịu dừng bước ở bờ Nam các con sông Thạch Hãn và Vĩnh Định. Quân đội Nhân dân Việt Nam giữ vững thị xã Đông Hà và 3 huyện phía Bắc tỉnh Quảng Trị, (không kể huyện Vĩnh Linh nằm phía Bắc sông Bến Hải).
Cũng trong mùa Xuân năm 1972, các đòn tấn công chiến lược tiếp theo của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Mặt trận B2 (Đông Nam Bộ), Mặt trận B3 (Bắc Tây Nguyên) và các mặt trận phối hợp tại Liên khu V và Khu 8 đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của quân đội ngụy Sài Gòn. Tại Đông Nam Bộ, mặc dù không chiếm được thị xã Bình Long (An Lộc) nhưng ba sư đoàn 5, 7, 9 của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giải phóng một vùng đất rộng lớn từ Bắc Tây Ninh qua Bắc Bình Long đến Bắc Phước Long. Tại Bắc Tây Nguyên, dù chưa chiếm được thị xã Kon Tum nhưng các sư đoàn 2, 320A và 4 trung đoàn bộ binh của mặt trận B3 với quân số ít hơn đã đánh bại 3 sư đoàn quân ngụy Sài Gòn có hơn 10.000 phi vụ B-52 yểm hộ; giải phóng địa bàn các huyện Đắc Tô, Tân Cảnh, sau này trở thành bàn đạp quan trọng cho Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975.
Tính chung trong toàn bộ chiến cục tấn công chiến lược năm 1972, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 213.000 tên địch, trong đó có 4.408 lính Mỹ, bắt tù binh 13.200 lính ngụy Sài Gòn.
Chuỗi chiến dịch tấn công chiến lược năm 1972 đã đạt kết quả to lớn chưa từng có. Đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đàng hoàng ra mắt tại vùng giải phóng Đông Hà. Đế quốc Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Paris 1973, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chấm dứt mọi hành động can thiệp quân sự vào Đông Dương cũng như có trách nhiệm tài thiết Việt Nam sau chiến tranh.
Nhưng chiến cục với kết quả to lớn ấy lại không hề được những kẻ “lật sử” nhắc đến. Chúng xoáy vào trận đánh tại Thành cổ Quảng Trị và tách nó ra khỏi toàn bộ Chiến cục năm 1972. Và chúng cũng làm như vậy đối với các trận đánh tại An Lộc và Kontum. Hành động có chủ đích đó một mặt nhằm “lên giây cót” cho những “con rối” tàn dư, hậu duệ của chế độ ngụy Sài Gòn đang lưu vong ở nước ngoài, mặt khác, đánh vào tâm lý đau xót do mất mát trong chiến tranh. Và cuối cùng, những kẻ “lật sử” đó tiếp tục dựa vào sự cắt xén lịch sử ấy để tung ra những luận điệu sai trái, biến cuộc Kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của quân và dân Việt Nam thành một cuộc nội chiến. Qua đó, núp dưới chiêu bài hòa hợp dân tộc để đổi trắng thay đen, phải trái, biến chiến tranh chính nghĩa thành chiến tranh phi nghĩa và ngược lại.

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

Vai trò của thế trận chiến tranh nhân dân trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”

Giữ vị trí trọng yếu về nhiều mặt, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, Hà Nội lại một lần nữa oằn mình chống chọi với các cuộc tấn công đánh phá của kẻ thù. Trong khói bom lửa đạn, truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, đặc biệt là thế trận toàn dân đánh giặc được quân và dân Thủ đô phát huy cao độ.
Thế trận chiến tranh nhân dân ở Hà Nội được triển khai đa dạng, nhiều tầng, nhiều lớp với nhiều hình thức phong phú. Trước khi cuộc tập kích bắt đầu, chính quyền thành phố Hà Nội đã tổ chức sơ tán khoảng 30 vạn người ra khỏi nội thành. Sau đêm 18-12-1972, đêm đầu tiên máy bay B52 “rải thảm”, lệnh sơ tán khẩn cấp và triệt để được thông báo tới toàn dân. Những dòng người hối hả rời Thủ đô. Họ tỏa về các vùng nông thôn, tìm đến vòng tay đùm bọc, che chở của bà con ven thị thành. Tuy không khí vội vã, nhưng hàng chục vạn người đã ra đi trong trật tự an toàn. Những người ở lại Hà Nội yên tâm bám trụ và sẵn sàng chiến đấu sinh tử với quân thù.
Không chỉ tổ chức cho nhân dân sơ tán, để triển khai thế trận chiến tranh nhân dân hiệu quả, chính quyền Hà Nội đã tổ chức hệ thống còi báo động rộng khắp. Do đó, mỗi khi nhận được lệnh máy bay địch xâm phạm vào vùng trời nước ta, còi báo động trong thành phố vang lên từng hồi liên tục. Các loa phóng thanh trên mọi nẻo đường truyền đi tiếng nói điềm tĩnh, dõng dạc của phát thanh viên: Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội một trăm cây số. Lực lượng vũ trang về vị trí chiến đấu, mọi người dân nhanh chóng đến nơi ẩn nấp. Lúc này, cả thành phố sẵn sàng chiến đấu!
Cùng với quá trình triển khai sơ tán và tổ chức báo động, Hà Nội đã phát động phong trào toàn dân bắn máy bay địch, lấy lực lượng phòng không ba thứ quân làm nòng cốt, xây dựng và phát triển phòng không của dân quân tự vệ. Hai lực lượng phòng không của dân quân tự vệ Hà Nội được tổ chức hiệu quả, đó là lực lượng trực chiến, gồm các tổ bắn máy bay thấp, bố trí và cơ động trên các trận địa đã chọn lựa và lực lượng không trực chiến, vừa tiến hành sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu, khi có báo động thì triển khai tại các công sự đã chuẩn bị trước để bắn máy bay địch. Theo tính toán, trong 12 ngày đêm, lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu của tự vệ Hà Nội, lúc cao điểm, lên tới gần 54.000 người, sử dụng trên 500 súng trung liên, đại liên và súng máy cao xạ, triển khai tại 295 trận địa.
Điểm nổi bật thể hiện thế trận chiến tranh nhân dân là hình ảnh toàn dân làm công tác bảo đảm giao thông, vận chuyển. Hà Nội vốn là địa bàn tập trung các đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông của miền Bắc, có nhiều kho tàng lớn. Do đó, bảo đảm giao thông vận tải trở thành một mặt trận sôi động và ác liệt. Khi cuộc đánh phá của không quân Mỹ bắt đầu, Hà Nội xác định phải kiên quyết bảo đảm giao thông vận tải thông suốt, liên tục, an toàn để phục vụ sản xuất, sẵn sàng chiến đấu.
Để giành thắng lợi trên mặt trận này, Hà Nội đã phát huy vai trò nòng cốt lực lượng giao thông vận tải chuyên nghiệp và lực lượng công binh làm nhiệm vụ xung kích ở những trọng điểm bị địch đánh phá. Bên cạnh đó, chính quyền thành phố triển khai rộng rãi lực lượng bảo đảm giao thông vận tải không chuyên, bao gồm các tổ ứng trực và khắc phục hậu quả ở các tuyến giao thông, các bến vượt, các cầu nhỏ với sự tham gia của dân quân tự vệ.
Việc tổ chức và kết hợp chặt chẽ các hoạt động của hai lực lượng không chuyên và lực lượng chuyên nghiệp trên mặt trận giao thông vận tải là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật chỉ đạo bảo đảm giao thông vận tải trong chiến tranh nhân dân chống lại kẻ thù. Do làm tốt công tác này, dù các mục tiêu giao thông vận tải trên địa bàn thành phố bị đánh phá liên tục, nhưng lực lượng bảo đảm giao thông vận tải của chiến tranh nhân dân đã kiên cường bám trụ, kịp thời khắc phục hậu quả, bảo đảm được sự thông suốt trên các tuyến chính, phục vụ sản xuất và ổn định đời sống nhân dân. Dưới những đợt B52 rải thảm, vắt qua sông Đuống, sông Hồng vẫn có những chiếc cầu phao và cầu treo sừng sững, cùng những chuyến phà ngày đêm qua lại, giữ vững mạch máu giao thông, bảo đảm chi viện các trận địa đánh địch.  
Sức mạnh đoàn kết
Ngợi ca sự anh dũng, quả cảm của quân dân Hà Nội, một số khách nước ngoài từng ở Việt Nam trong những ngày khói lửa, đã nhận thấy trên gương mặt người Hà Nội hiện lên vẻ điềm tĩnh lạc quan và niềm tự tin đáng khâm phục. Phóng viên Mỹ Rai-bâu (Rainbow) viết trên tờ Tin nhanh mô tả: Nét mặt của họ có một vẻ đẹp tự nhiên, một vẻ bình tĩnh thư thái mà tôi chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào khác. Nhưng đáng khâm phục hơn, trong tiếng bom đạn rung trời chuyển đất và trong những đống đổ nát tan hoang trên mảnh đất “Thăng Long chiến địa”, người ta bỗng thấy những tốp thanh niên, nam nữ lao nhanh về các trận địa phòng không, giúp bộ đội tiếp đạn, tải thương, thay lá ngụy trang, khắc phục hậu quả; các bà mẹ tay xách, nách mang những rổ trái cây, những ấm nước chè xanh đến từng khẩu đội thăm hỏi, động viên các pháo thủ. Giữa những ngôi nhà sụp đổ, cạnh những đống lửa đang bốc cháy lên rừng rực, bóng các anh công an áo vàng, những chị em y tá, cứu thương, những đội viên dân phòng nhanh chóng xuất hiện, hối hả đào bới, cứu những người bị sập hầm, băng bó, chữa ngạt cho những người bị nạn, cứu những căn nhà bị cháy hoặc tháo gỡ những quả bom đang chờ nổ.
Cũng trong 12 ngày đêm đầy khói lửa này, những sân bay MIG, trận địa tên lửa, trận địa cao xạ trên địa bàn Hà Nội trở thành những mục tiêu tấn công của không quân Mỹ để triệt phá những đường băng, xóa sổ những chốt thép kiên cường trên mặt đất. Nhưng chỉ ít phút sau khi sân bay và trận địa bị bom Mỹ cày xới đã có ngay những lực lượng cứu trợ của nhân dân, không nề nguy hiểm, phối hợp với bộ đội công binh, nhanh chóng san lấp các hố bom, sửa chữa những đường băng, ụ pháo để cho máy bay tiếp tục cất cánh, cho đạn tên lửa và đạn cao xạ vạch trời lao đi tìm diệt máy bay địch.
Đồng hành cùng nhân dân Hà Nội, đồng bào Sài Gòn, bà con ruột thịt miền Nam và nhân dân cả nước luôn dõi theo và hòa nhịp vào bản hợp xướng của thế trận chiến tranh nhân dân đánh địch. Ở Hải Phòng, quân và dân nơi đây đã anh dũng chiến đấu, đánh thắng oanh liệt cuộc tập kích của đế quốc Mỹ; trực tiếp bắn rơi 17 máy bay các loại, trong đó có 4 máy bay chiến lược B52, 1 máy bay F111. Tại Thái Nguyên, quân và dân Thái Nguyên bắn rơi 2 máy bay B52 của địch. Tính chung trong 12 ngày đêm, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111 và 42 máy bay chiến thuật khác. Bị thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ buộc phải kết thúc cuộc tập kích, trở lại bàn đàm phán Pa-ri, ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973.
Đứng trên bình diện tổng thể, thắng lợi “Điện Biên Phủ trên không” có sự đóng góp to lớn của thế trận chiến tranh nhân dân. Trong thế trận đó, một cao trào toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân bắn máy bay địch, toàn dân làm công tác giao thông vận tải, toàn dân hợp tác và giúp đỡ bộ đội chiến đấu,… đã được kết hợp nhuần nhuyễn; cộng với trí thông minh, lòng dũng cảm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam đã góp phần quyết định thực hiện thắng lợi chiến lược “đánh cho Mỹ cút” và chuẩn bị đầy đủ tiền đề tiến đến “đánh cho Ngụy nhào”, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đã 45 năm trôi qua, nhưng giá trị của thế trận chiến tranh nhân dân chống lại cuộc tập kích chiến lược của Mỹ cuối tháng 12-1972 vẫn mang đầy đủ tính lý luận và thực tiễn sâu sắc. Những bài học đúc kết này vẫn luôn được vận dụng sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau./.

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 qua đánh giá của nước ngoài

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có, đã làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc, gây chấn động dữ dội trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện qua một số sách báo xuất bản lúc đó và cả sau này.
Nhà sử học Mỹ Ga-bri-en Côn-cô (Gabriel Kolko) trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh, xuất bản tại Niu Oóc (New York) năm 1985, đánh giá: “Cuộc tiến công Tết là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam”. Theo nhà sử học này, với Mậu Thân 1968, “Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh nước ngoài đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1882 đã gây ra cuộc khủng hoảng xã hội, nội bộ sâu sắc và một sự phân hóa về chính trị”.
Còn tướng Mắc-xoen Tay-lơ (Maxwell D. Taylor) - cựu Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, sau khi từ chức (tháng 6-1965) về làm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Lin-đơn Giôn-xơn (Lyndon B.Johnson), trong hồi ký Thanh gươm và lưỡi cày - xuất bản tại Niu Oóc năm 1972, đã thừa nhận: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức quân giải phóng - người viết) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày, họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công của họ đã được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn được chiếu trên màn ảnh vô tuyến truyền hình và đã làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức kinh hoàng. Phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp, sự hoàn hồn đó mãi mãi không bao giờ được khôi phục lại hoàn toàn”.
M.Tay-lơ còn nói: “Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế”.
Tướng W.C. Oét-mo-len (W.C.Westmoreland) - nguyên Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam viết trong Một quân nhân tường trình, xuất bản ở Niu Oóc năm 1976: “Việt Cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại… các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa… Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta (Mỹ) phải công nhận, đối phương đã giáng cho Chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”. W.C. Oét-mo-len còn nhận xét một cách bi quan rằng: “Chiến tranh đã trở thành một vấn đề chính trị với triển vọng địch (tức quân giải phóng - người viết) có thể thắng ở Oa-sinh-tơn như họ đã thắng ở Giơ-ne-vơ năm 1954. Ý chí của các chính khách Mỹ đang suy giảm”.
Ngày 27-3-1968, chưa đầy 2 tháng sau khi ta mở cuộc tiến công, cựu Tổng thống Mỹ D. Ai-xen-hao (D. Eisenhower), đã phải than thở: “… Chưa bao giờ gặp phải tình trạng đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về chiến tranh”.
Ngay đương kim Tổng thống L. Giôn-xơn lúc bấy giờ cũng tỏ ra chán nản, dao động. Trong hai ngày 25 và 26-3-1968, ông ta đã triệu tập một cuộc họp “những nhân vật am hiểu tình hình nhất”. Phiên họp kéo dài với những thành viên hội nghị gồm những người nắm những địa vị then chốt nhất trong Chính phủ Mỹ, L. Giôn-xơn đã hỏi quan điểm từng người một. Và, “Tổng thống đã nhận được những câu trả lời vô cùng bi quan của những người từ trước đến nay vẫn được xem là loại cứng rắn… Cuối cùng, Tổng thống quyết định rời khỏi sân khấu chính trị với hy vọng thống nhất lại một quốc gia đang bị chia rẽ ngay trong những người thân cận nhất của Tổng thống”. Sau đó, ngày 8-6-1969, R. Ních-xơn (Richard M.Nixon) gặp Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Mít-uây (Midway) để bàn về việc Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam. Hen-ry Kít-xinh-giơ (H.Kissinger), cựu Ngoại trưởng Mỹ nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”.
Đó là lời của các nhân vật chóp bu trong giới cầm quyền Mỹ. Còn báo chí Mỹ thì sao?
Tờ Tin tức Oa-sinh-tơn ngày 31-1-1968 đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của cộng sản ngày 31-1 vào Sài Gòn, 8 tỉnh lỵ và 30 thị trấn nhỏ hơn là một điều đáng kinh ngạc. Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc Chính phủ Giôn-xơn dẹp đi, coi là không có giá trị những nhận định lạc quan của mình”.
Thời báo Niu Oóc, tờ báo lớn nhất của Mỹ số ra ngày 1-2-1968 bình luận: “Cuộc tiến công của đối phương đột nhập cả đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn cho thấy thêm những bằng chứng đau xót về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Bằng chứng cuộc tiến công táo bạo vào những thành phố chính ở miền Nam Việt Nam và bằng sự tập trung quân ở Khe Sanh, cộng sản đã làm tiêu tan niềm lạc quan bao trùm lên Oa-sinh-tơn và Sài Gòn trong mấy tháng qua. Đây rõ ràng không phải là hành động của một đối thủ đang yếu dần như các nhà quân sự Mỹ đã khẳng định hồi tháng 11 năm 1967”.
Cũng tờ báo này, trong số ra ngày hôm sau 2-1-1968 có đoạn: “Chiến thắng của Việt Cộng chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị mà Mỹ dùng làm chỗ dựa trong cố gắng chiến tranh và đe dọa thủ tiêu hoàn toàn các cơ cấu chính trị đang suy  yếu”. Tác giả bài báo tỏ ý lo ngại rằng: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt Cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.
Không chỉ báo chí Mỹ, các báo phương Tây và các nước trên thế giới đều đưa tin và bình luận về sự kiện lịch sử này.
Hãng thông tấn Roi-tơ (Anh) ngày 3-2-1968 nói: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên”. Kế đó, ngày 5-2-1968 hãng này thống kê: “Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đô-la mà vẫn không bảo vệ được một tấc đất vuông nào ở miền Nam Việt Nam cả”. Trong khi đó, báo Người quan sát (Anh) tỏ ra ngạc nhiên khi than rằng: “Người ta không thể tin là một tình hình như thế lại có thể xảy ra”.
Báo Thế giới (Pháp) ngày 1-2-1968 mỉa mai: “Người Mỹ đã từng khẳng định dân chúng Nam Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ còn có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt Cộng như vậy”. Báo Chiến đấu ngày 1-2-1968 khẳng định: “Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này rồi. Những gì xảy ra ở Sài Gòn cũng đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc giải phóng đã nắm được các tầng lớp dân chúng ở miền Nam Việt Nam trong mức độ lớn biết nhường nào”.
Tờ Le Figaro (Pháp) ngày 2-2-1968 ca ngợi: “Cuộc tiến công lừng danh của Việt Cộng cho ta thấy trước hết cái tài tình của những người chỉ huy trong việc hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự, vừa chính trị này. Về mặt đối nội - họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng họ có thể đánh nơi nào và lúc nào cũng được hết. Họ làm cho chính phủ Sài Gòn và quân đội của chính phủ này trở thành một trò cười. Họ tăng cường sự kiểm soát của họ, và do đó, làm giảm bớt sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn đối với dân thường, những người dân thường này thì đầy lòng kính nể và khâm phục đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng”.
Nhiều báo của các tổ chức đảng cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đều tỏ thái độ khâm phục đối với cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta qua sự kiện Tết. Báo Nhân đạo - cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp ngày 1-2-1968 đã ca ngợi: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng. Những người yêu nước miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ rằng ở khắp nơi, quyền chủ động đang thuộc về họ, họ có thể quyết định địa điểm, thời gian của các cuộc tiến công làm cho bộ chỉ huy Mỹ luôn luôn bở hơi tai”.
Các nước trong phe xã hội chủ nghĩa lúc đó thì vui mừng. Hầu như báo của nước nào trong ngày 31-1-1968 và ngày 1-2-1968 cũng đăng bài biểu lộ niềm hân hoan trước thắng lợi của nhân dân ta. Tiêu biểu là tờ Diễn đàn nhân dân Ba Lan, có đoạn: “Các trận đánh táo bạo được chuẩn bị tốt của những người yêu nước miền Nam Việt Nam là sự phát triển của các cuộc tiến công trên một quy mô rộng lớn mà Quân giải phóng đã mở đầu trong tháng Giêng năm nay vào những lúc, ở những nơi và với hình thức mà họ lựa chọn. Quân giải phóng trên thực tế đã trói chân, khóa tay tất cả các lực lượng chiến đấu của quân thù trong khắp các tỉnh”.

Qua một số sách báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 có thể nhận thấy, dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 của quân và dân ta ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của ta trong lịch sử Tết Mậu Thân năm 1968./.