Hiển thị các bài đăng có nhãn dân số. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dân số. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH Y TẾ, DÂN SỐ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GỒM NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Đảm bảo đồng bào các dân tộc thiểu số được sử dụng các dịch vụ y tế; thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật. Ưu tiên giải quyết các vấn đề sức khỏe của đồng bào và tăng cường khả năng tiếp cận cũng như cung cấp dịch vụ y tế, dân số có chất lượng; giảm gánh nặng chi phí chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

Tập trung xây dựng, củng cố, mở rộng cơ sở y tế, khám chữa bệnh; đầu tư  cho y tế cơ sở, bệnh viện huyện vùng dân tộc thiểu số; phát triển mạng lưới nhân viên y tế thôn, bản; nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số trên địa bàn; bảo đảm thuốc phòng và chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Đầu tư xây dựng và hỗ trợ trang thiết bị cho các cơ cở y tế kết hợp quân - dân y để khám bệnh, chữa bệnh cho người dân vùng dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hóa y tế, thực hiện chính sách ưu tiên đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động đầu tư, phát triển y tế ở vùng dân tộc thiểu số.

Tiếp tục quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó chú trọng đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu, đặc biệt là cán bộ dân tộc thiểu số người địa phương.

          Hỗ trợ việc bảo tồn, khai thác, sử dụng những bài thuốc dân gian và phương pháp chữa bệnh cổ truyền có giá trị của đồng bào các dân tộc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

Bảo đảm nâng cao chất lượng dân số, phát triển dân số hợp lý của từng dân tộc theo quy định của pháp luật. Ưu tiên đầu tư và tăng cường các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình đối với các vùng đông dân có mức sinh cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Ưu tiên triển khai các chương trình, dự án nâng cao chất lượng dân số đối với các dân tộc thiểu số, vùng nghèo, vùng khó khăn, người di cư và nhóm đối tượng thiệt thòi.

Tăng cường hướng dẫn các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, tăng cường truyền thông về các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, vấn đề bình đẳng giới, tác hại của tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống. Triển khai các chương trình tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, khơi dậy các phong trào luyện tập thể dục, thể thao, có lối sống lành mạnh, chế độ dinh dƣỡng hợp lý để nâng cao sức khoẻ, tầm vóc, thể lực của đồng bào dân tộc thiểu số. 

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

XU HƯỚNG GIẢM SINH TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

Mức sinh là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cả quy mô và cơ cấu dân số của một quốc gia. Mức sinh vừa là một yếu tố tác động, vừa là một chỉ báo phản ánh mức độ phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia trên Thế giới. Ở hầu hết các nước đang phát triển, có mức thu nhập từ trung bình trở lên, mức sinh đều biến đổi theo xu hướng giảm về mức sinh thay thế  hoặc  đang xuống thấp hơn. 

Xu hướng biến đổi mức sinh ở các nước trên thế giới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được khái quát qua lý thuyết về thời kỳ quá độ dân số. Khi bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các xã hội sẽ đồng thời trải qua thời kỳ quá độ dân số, chuyển từ thời kỳ có mức sinh và mức chết đều cao sang thời kỳ có mức sinh và mức chết đều thấp. Thời kỳ quá độ dân số được coi là kết thúc khi khi mức sinh giảm chạm ngưỡng mức sinh thay thế và ổn định (tương ứng với TFR/số con trung bình là 2,10 con/phụ nữ).

Ở hầu hết các nước đang phát triển (developing countries) trong những năm 1960-1970x, đã thực hiện chính sách dân số-KHHGĐ nhằm thúc đẩy giảm mức sinh nhanh hơn, bởi vì, mức sinh tương đối cao trong thời kỳ đó đã cản trở nghiêm trọng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội ở các quốc gia này. Hàn Quốc và Singapore là những quốc gia đã sớm thực hiện thành công chính sách dân số-KHHGĐ. Hai quốc gia này đã thực hiện được mục tiêu đạt mức sinh thay thế trong những năm đầu của thập kỷ 1980x. Đây là một yếu tố quan trọng góp phần đưa Hàn Quốc và Singapore trở thành những con rồng (kinh tế) của châu Á từ những năm 1980x.

Quá trình phát triển kinh tế-xã hội của nhiều quốc gia trên Thế giới cũng như ở một số địa phương tại Việt Nam hiện nay đã có tác động làm cho mức sinh không dừng lại ở mức sinh thay thế, và mức sinh có xu hướng đi xuống thấp hơn rõ rệt so với mức sinh thay thế (TFR 2,1 con).

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

NGHIÊN CỨU VỀ DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN PHẢI TRỞ THÀNH NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CẤP QUỐC GIA

Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 chỉ rõ: Cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu về Dân số và Phát triển, đưa nội dung này là một trong những nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ cấp quốc gia.

Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Công tác dân số trong tình hình mới đã đề ra 7 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, trong đó có nhiệm vụ: "Đẩy mạnh nghiên cứu về Dân số và Phát triển, nhất là các vấn đề mới và trọng tâm về cơ cấu, chất lượng, phân bố dân số và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch hóa phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực. Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, phát triển mạng lưới nghiên cứu về Dân số và Phát triển".

Ngày 28/2/2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 314/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch "Nâng cao năng lực nghiên cứu về Dân số và Phát triển đến năm 2030". Theo đó, mục tiêu tổng quát của Kế hoạch nhằm tăng cường tiềm lực nghiên cứu về Dân số và Phát triển, nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cao năng lực trình độ nghiên cứu chuyên sâu, đẩy mạnh thực hiện nghiên cứu toàn diện về Dân số và Phát triển để cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ việc triển khai các giải pháp hướng tới mục tiêu đề ra trong Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 nêu cụ thể và nhấn mạnh: Cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu về Dân số và Phát triển, đưa nội dung này là một trong những nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ cấp quốc gia.

Hiện nay, các thách thức cần vượt qua là mức sinh giữa các vùng, miền còn chênh lệch đáng kể; mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn ở mức nghiêm trọng; chưa có giải pháp đồng bộ phát huy lợi thế của thời kỳ dân số vàng và thích ứng với già hóa dân số; chỉ số phát triển con người (HDI) còn thấp… Do đó, nội dung nghiên cứu cần giải quyết đồng bộ các vấn đề này, tập trung làm rõ mối quan hệ có tính quy luật giữa động thái dân số (sự thay đổi về quy mô, cơ cấu, phân bố dân số) với phát triển kinh tế - xã hội, môi trường và đảm bảo quốc phòng, an ninh. Trong đó, ưu tiên các vấn đề mới, trọng tâm về cơ cấu, chất lượng, phân bổ và lồng ghép các yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, lĩnh vực. Nhà nước thực hiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đối với những vấn đề ưu tiên, trọng tâm trong thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ về dân số.

Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 cũng nhấn mạnh, cần hoàn thiện hệ thống thông tin, số liệu dân số đáp ứng yêu cầu cung cấp đầy đủ, kịp thời tình hình và dự báo dân số phục vụ hoạch định chính sách, xây dựng, thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quản lý xã hội. 

Như vậy, cần phải hình thành mạng lưới liên kết các cơ sở nghiên cứu, hình thành cơ sở dữ liệu nghiên cứu khoa học dùng chung về dân số và phát triển. Tổ chức mạng lưới thu thập thông tin, số liệu dân số theo hướng hiện đại, có sự phân công cụ thể các ngành, các cấp trong lĩnh vực này. Đẩy nhanh triển khai thực hiện đăng ký dân số và cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia thống nhất dùng chung, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và quản lý xã hội. Kiện toàn mạng lưới thu thập, cập nhật thông tin số liệu chuyên ngành dân số gắn với đội ngũ cán bộ, cộng tác viên dân số các cấp.

Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý, phân tích, lưu trữ thông tin số liệu về dân số bảo đảm tính tương thích, khả năng tích hợp, chia sẻ và kết nối các dữ liệu chuyên ngành. Từng bước tiếp cận, tương thích với các hệ thống dữ liệu dân số thông dụng trên thế giới./.

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2020

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ DUY TRI MỨC SINH THAY THẾ

Một là, Đảng đã xác định dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài. Cho dù Việt Nam duy trì được mức sinh thay thế đến năm 2030 thì sau đó vẫn cần được tiếp tục duy trì để bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững. Vì vậy, Chính phủ nên xem xét xây dựng chiến lược dân số với tầm nhìn dài hạn hơn, ít nhất là đến năm 2045.

DUY TRÌ VỮNG CHẮC MỨC SINH THAY THẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH MỨC SINH PHÙ HỢP

Trong những thập kỷ qua, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trước năm 1975, mức sinh và tỷ lệ gia tăng dân số miền Bắc còn rất cao. Sớm nhận thức được nguy cơ tăng quy mô dân số quá nhanh ảnh thưởng tiêu cực đến điều kiện phát triển kinh tế và môi trường, Đảng và Nhà nước đã ban hành chính sách giảm sinh thông qua tuyên truyền, vận động sinh đẻ có kế hoạch, cung cấp và hướng dẫn sử dụng các biện pháp tránh thai. Mặc dù có không ít trở ngại cả về chủ quan và khách quan trong thời chiến, việc triển khai chính sách là yếu tố chủ yếu làm giảm mức sinh ở miền Bắc từ trên 6 con vào năm 1960 xuống còn khoảng 5,2 con mỗi phụ nữ vào năm 1975. Sau khi đất nước thống nhất, chính sách dân số vẫn nhằm mục tiêu chủ yếu là giảm sinh và được triển khai trên toàn quốc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976 tiếp tục chủ trương đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, kiên quyết giảm dần tốc độ tăng dân số. Chủ trương này một lần nữa được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng năm 1982. Đến năm 1985, mức sinh của Việt Nam giảm xuống còn khoảng 4,5 con, nhưng mục tiêu giảm tỷ lệ phát triển dân số đã không đạt được. Trước thực trạng đó, Đảng ta nhận định mức sinh và tỷ lệ gia tăng dân số cao vẫn là rào cản đối với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.