Hiển thị các bài đăng có nhãn nguồn nhân lực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nguồn nhân lực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TẬP TRUNG Ở NHỮNG NỘI DUNG NÀO?

Nâng cao, phát triển toàn diện nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số về thể lực, trí lực và tác phong, kỷ luật, kỹ năng nghề nghiệp, cơ cấu hợp lý, trong đó ưu tiên các dân tộc thiểu số có nguồn nhân lực còn hạn chế để từng bước thu hẹp khoảng cách với trình độ chung của quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, nhu cầu thị trường lao động hiện tại và tương lai. Xây dựng đội ngũ trí thức, doanh nhân, cán bộ người dân tộc thiểu số và lao động trực tiếp có chất lượng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo đảm quốc phòng an ninh quốc gia và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Về nâng cao thể lực: Đảm bảo y tế, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho đồng bào, nhất là ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, 16 dân tộc có dân số dưới 10.000 người và nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp. Từng bước nâng tuổi thọ bình quân của người dân; quan tâm nâng thể trạng, tầm vóc của đồng bào, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi. Thực hiện tốt chính sách đối với phụ nữ, bà mẹ, trẻ em, sức khỏe thanh niên tiền hôn nhân.

Về phát triển trí lực: Đảm bảo phần lớn trẻ em người dân tộc thiểu số trong độ tuổi nhà trẻ và trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, nâng cao tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số đi học đúng độ tuổi. Phấn đấu đến năm 2030, số sinh viên đại học, cao đẳng người dân tộc thiểu số đạt từ 130-150 sinh viên/vạn dân; đào tạo sau đại học đạt tỷ lệ khoảng 0,7% trong tổng số lao động dân tộc thiểu số đã qua đào tạo; tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đạt trên 45%.

Về nâng cao kiến thức xã hội, kỹ năng sống, kỹ năng lao động và thông tin thị trường: Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, rèn luyện kỹ năng sống, khả năng hội nhập quốc tế cho học sinh người dân tộc thiểu số. Việc đào tạo nghề và các chương trình giáo dục nghề nghiệp phải phù hợp với trình độ, văn hóa, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số và đặc điểm vùng miền; phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao, nghề trọng điểm theo các cấp độ và các trường, khoa giáo dục nghề nghiệp nội trú. Bố trí những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã kiêm nhiệm theo dõi công tác giáo dục nghề nghiệp và giới thiệu việc làm cho người lao động. 

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

GIẢI QUYẾT ĐƯỢC MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG TRƯỚC MẮT VÀ LÂU DÀI KHI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

        Để thực hiện tốt mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt Kết luận số 16-KL/TW và Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị; tập trung nghiên cứu, rà soát, đánh giá lại chất lượng nguồn nhân lực hiện có, xác định nhu cầu về số lượng, quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực của đơn vị, để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, gọi nhập ngũ với tỷ lệ nhất định các sinh viên tốt nghiệp đại học có trình độ, năng lực tốt bổ sung cho các ngành, nghề còn thiếu, Quân đội chưa đào tạo được.

          Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải xuất phát từ đường lối chính trị, quân sự của Đảng; chấp hành nghiêm các nguyên tắc công tác cán bộ và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện nay. Đồng thời, phải bảo đảm tính khoa học, khả thi, có lộ trình, bước đi thích hợp; gắn quy hoạch chung với quy hoạch cụ thể của từng ngành, từng đơn vị; có dự báo chiến lược, đón trước sự phát triển, khắc phục tình trạng hẫng hụt nguồn kế cận, kế tiếp, mất cân đối ngành, chuyên ngành, phấn đấu xây dựng được đội ngũ cán bộ chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược. Xây dựng nguồn nhân lực trong quân đội, thực hiện thành công mục tiêu về xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là vấn đề vô cùng quan trọng hiện nay. Do đó, các chủ thể cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong quân đội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

CÓ CHÍNH SÁCH PHÙ HỢP NHẰM THU HÚT PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

Để xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; thì vấn đề đặt ra cần: có chính sách phù hợp nhằm thu hút phát triển nguồn nhân lực trong quân đội hiện nay.

          Chính sách Quân đội và hậu phương Quân đội là những quy định pháp lý của Quân đội về nghĩa vụ và quyền lợi được hưởng của con người đang phục vụ trong Quân đội và gia đình thân nhân. Quán triệt tinh thần trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong Quân đội, trong những năm tới cần tiếp tục rà soát lại toàn bộ chính sách hiện hành, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình giai đoạn mới. Cơ sở để tiến hành xây dựng chính sách đó là xuất phát từ quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đối tượng hoạt động quân sự, khả năng điều kiện của Nhà nước, Quân đội. Phương châm xây dựng chính sách là bảo đảm tính đồng bộ, toàn diện, chất lượng và hiệu quả; đồng thời cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung chế độ ưu tiên đối với các đơn vị ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo; các đơn vị được trang bị vũ khí mới, làm nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu nhằm phát huy cao nhất sự cống hiến của nguồn nhân lực. Để thực hiện tốt chính sách, các chủ thể phải căn cứ vào từng hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi đều phải thực hiện chính sách một cách hợp lý, nhất quán, công tâm, công bằng, có lý, có tình; kết hợp công tác tư tưởng, tổ chức và gắn bổ nhiệm, đề bạt với việc giải quyết các vấn đề về chính sách, nhằm động viên, khuyến khích mọi người yên tâm, gắn bó, hăng hái, phấn khởi, sẵn sàng hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.    

ĐỘT PHÁ MẠNH VÀO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO ĐỂ XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÂN ĐỘI

Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; thì vấn đề đặt ra cần: Đột phá mạnh vào nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo để xây dựng nguôn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội.

          Quán triệt sâu sắc quan điểm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về giáo duc, đào tạo: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước”, các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường Quân đội cần tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo; Nghị quyết số 86/NQ-ĐUQSTƯ ngày 29/3/2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác giáo dục trong tình hình mới; Chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011-2020 của Bộ Quốc phòng; Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ trong Quân đội giai đoạn 2015 - 2020 và những năm tiếp theo”; Chỉ thị số 89/CT-BQP ngày 09-11-2016 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về một số nhiệm vụ cấp bách nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ.

          Trong đó, tập trung đổi mới nội dung, chương trình theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa và liên thông”, sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo, phát huy tính tích cực của người học. Triển khai thực hiện tốt mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất kỹ thuật, trung tâm mô phỏng, để người học có đủ điều kiện rèn luyện, hình thành các phẩm chất, tâm lý đáp ứng với yêu cầu chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Chủ động mở rộng hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo trong lĩnh vực quân sự, quốc phòngnghiên cứu vận dụng một số mô hình giáo dục tiên tiến trên thế giới phù hợp với thực tiễn công tác giáo dục đào tạo trong Quân đội.

          Đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, các đơn vị cần phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng huấn luyện; đẩy mạnh triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 765-NQ/QUTW ngày 20/12/2012 của Quân ủy Trung ương về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, thực hiện đúng phương châm, phương hướng huấn luyện. Tập trung huấn luyện cho bộ đội nắm vững tính năng, tác dụng, sử dụng thành thạo các loại vũ khí trang bị hiện có, nhất là vũ khí trang bị hiện đại; tích cực đưa bộ đội vào thực tiễn huấn luyện, diễn tập sát với thực tế chiến đấu.

NÂNG CAO NHẬN THỨC, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁC LỰC LƯỢNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÂN ĐỘI

Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; thì vấn đề đặt ra cần: Thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng về phát triển nguồn nhân lực trong quân đội.

          Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải thực hiện sáng tạo chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trong đó, yếu tố con người với tư cách là nguồn nhân lực vẫn luôn giữ vai trò then chốt, quyết định. Bởi vì, muốn xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại phải xây dựng, đào tạo con người phù hợp, đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, ưu tú về chất lượng để luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Người quân nhân phải có tư duy đổi mới, tác phong công nghiệp, bản lĩnh vững vàng, kỷ luật nghiêm và tinh thông nghiệp vụ. Nếu chỉ có vũ khí, trang bị hiện đại mà nguồn nhân lực - con người không tương ng xứng thì không thể xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ được; con người có vai trò quyết định, sáng tạo, làm chủ vũ khi trang bị. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “người trước, súng sau”. Do đó, yếu tố con người là nguồn nhân lực quyết định để xây dựng quân đội và giữ vai trò trọng yếu tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Khi bàn về vấn đề này, V.I.Lênin nhấn mạnh: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”.

          Theo đó, các chủ thể trong quân đội cần quán triệt sâu sắc, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của Quân uỷ Trung ương về phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng, quyết định, khâu đột phá trong xây dựng Quân đội hiện nay. Thực hiện tốt nhiệm vụ này không chỉ có ý nghĩa trực tiếp đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của Quân đội, mà còn gián tiếp đóng góp vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Do đó, các cấp, các ngành, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt, triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI: “Đẩy mạnh xây dựng, phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao”.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG TA VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Sự phát triển tư duy của Đảng về con người, nguồn lực con người không ngừng được bổ sung và hoàn thiện qua từng giai đoạn của cách mạng, nhất là từ thời kỳ đổi mới đến nay. Kế thừa, phát triển các quan điểm của Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII cụ thể hơn về xây dựng nguồn nhân lực trong thời đại mới, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đảng xác định một trong ba đột phá chiến lược đó là: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo…; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Việc xác định đột phá như vậy là hoàn toàn chuẩn xác “nguồn lực con người là quan trọng nhất” trong sự nghiệp đổi mới của đất nước; “coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”.

          Vấn đề xây dựng nguồn nhân lực phải phát triển toàn diện Đảng ta chỉ rõ: “Mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân”; “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”; với phương châm: “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”. Đảng ta còn nhấn mạnh vai trò của hết sức quan trọng của khoa học công nghệ phát triển nguồn lực con người: “Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách; bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc”Qua đó, cho thấy quan điểm của Đảng luôn khảng định chiến lược con người phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; mọi chủ trương, chính sách nhằm phát huy nguồn lực con người; từ đó chất lượng nguồn nhân lực không ngừng được nâng lên, đáp ứng kịp thời những yêu cầu thực tiễn của đất nước.

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRUYỀN THÔNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thứ nhất, mâu thuẫn giữa yêu cầu cấp thiết và cấp bách của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh chuyển đổi số với sự hạn chế về năng lực chuyên môn nói chung, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ số nói riêng.

Thứ hai, thiếu chiến lược tổng thể về đào tạo, bồi dưỡng dưỡng nguồn nhân lực truyền thông bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số hiện nay.

Thứ ba, còn nhiều hạn chế trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực truyền thông, chưa đầu tư mạnh vào đào tạo lực lượng kế cận là sinh viên.

Cả 4 nhóm cán bộ nòng cốt hiện đang công tác mới được đào tạo bài bản ở một vài lĩnh vực cụ thể. Đề án 35 của các cơ quan Trung ương và địa phương đã dành ngân sách cho bồi dưỡng nhân lực, nhưng thời lượng các khoá bồi dưỡng còn ngắn, chủ yếu cung cấp thông tin về vấn đề chứ chưa thể đi sâu vào 7 nhóm kiến thức và kỹ năng tối cần thiết đã nêu trên.

Đối tượng bồi dưỡng trình độ đầu vào không đều nhau, phần lớn là không còn trẻ, nên việc tiếp cận với lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là thực hiện học tập qua thực tế là khó khăn hơn nhiều so với sinh viên đại học còn trẻ, có kiến thức nền tảng tốt và có khả năng thích ứng nhanh trong môi trường số.Hiện nay ở Việt Nam, nhiều cơ sở đào tạo, trong đó điển hình nhất

Đối tượng đào tạo cho nguồn nhân lực kế cận là các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các ngành lý luận, công an, quân đội, báo chí, công nghệ thông tin, báo chí truyền thông nói chung và truyền thông chính sách nói riêng. Trừ chuyên ngành truyền thông chính sách, các ngành đào tạo về công nghệ thông tin, báo chí truyền thông có thị trường rộng mở, sức hút từ các cơ quan báo chí, các doanh nghiệp truyền thông thuộc ngành công nghiệp truyền thông, công nghiệp văn hoá và giải trí là quá lớn. Do nhu cầu thị trường nhân lực nghiêng về cơ quan báo chí và lĩnh vực doanh nghiệp hay kinh tế báo chí truyền thông nên nội dung, vị trí việc làm tương thích sẽ dẫn đến tình trạng số sinh viên ra trường chọn làm việc trong lĩnh vực truyền thông chính sách sẽ ít đi. Năng lực về công nghệ truyền thông chính sách cũng không đạt yêu cầu cao như năng lực ứng dụng công nghệ đối với lĩnh vực báo chí hay doanh nghiệp.

Dù đã có nhiều nỗ lực lớn trong dầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ trong đào tạo công nghệ truyền thông, nhưng hầu hết các cơ sở đào tạo vẫn còn phải đối mặt với tính bắt buộc trong đào tạo thực hành công nghệ truyền thông. Việc đi thực tế, thực tập nghề nghiệp của sinh viên là một thách thức rất lớn bởi trong thực tế chưa có nhiều các thiết chế truyền thông chính sách có đủ điều kiện về nhân lực hướng dẫn, mô hình công nghệ truyền thông chính sách, nền tảng công nghệ truyền thông chính sách tiên tiến, do đó việc tổ chức đào tạo kỹ năng nghề nghiệp là một khó khăn không nhỏ.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ MẠNH DẠN TÌM RA NHỮNG LỐI ĐI MỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành tìm đường sang nước Pháp và các nước phương Tây không chỉ bởi muốn tìm hiểu những “bí ẩn” đằng sau những khẩu hiệu về tự do, bình đẳng, bác ái mà thực dân Pháp luôn rêu rao trong quá trình cai trị Việt Nam; không chỉ muốn tìm hiểu thêm những trào lưu tư tưởng mới mà còn bởi Nguyễn Tất Thành đã nhìn thấy những hạn chế của các phong trào đấu tranh theo các khuynh hướng yêu nước trước đó. Thế nên anh đã có sự sáng tạo, chọn con đường đi mới, đó là sang nước Pháp và các nước phương Tây để tìm con đường cứu nước, cứu dân.

Ngày nay, tinh thần dám đổi mới, sáng tạo đó vẫn rất cần thiết cho đất nước, đặc biệt là cho thế hệ trẻ bởi đây là những chủ nhân tương lai của đất nước; là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực chất lượng cao. Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu đòi hỏi thế hệ trẻ không chỉ có nhiệt tình cách mạng, không chỉ cần nhanh nhạy mà còn phải luôn luôn đổi mới sáng tạo, tìm ra các cách thức mới, con đường mới, phương pháp mới phục vụ cho sự phát triển chung, đưa đất nước nhanh chóng sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn.

Năm xưa, Nguyễn Tất Thành chịu cảnh tủi nhục, đau đớn khi nước mất nhà tan mà quyết tâm ra đi tìm được con đường cứu nước đúng đắn mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, mặc dù đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của đất nước. Các nguy cơ đối với cách mạng nước ta đã được Đảng chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đặt ra quyết tâm đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1945; đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Trong đó, nòng cốt phải là thế hệ trẻ với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm, vượt mọi khó khăn thử thách như tinh thần của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc năm xưa.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020

ĐỔI MỚI MỤC TIÊU GIÁO DỤC – KHÂU THEN CHỐT TRONG ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Khâu then chốt trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là đổi mới mục tiêu giáo dục. Đại hội XII đã nâng tầm các quan điểm trong Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương Tám khoá XI, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo thành Văn kiện Đại hội Đảng. Trong đó, khẳng định: Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Đây là một bước chuyển đổi căn bản của giáo dục Việt Nam, hướng vào đổi mới mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục. Mục tiêu giáo dục truyền thống chủ yếu là coi trọng trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp. Thực chất giáo dục Việt Nam từ trước đến nay xác định mục tiêu giáo dục chủ yếu vẫn được thực hiện theo cách tiếp cận nội dung. Nghĩa là, giáo dục trang bị cho người học càng nhiều nội dung càng tốt. Điều đó làm cho nội dung dạy học càng ngày càng phình to ra và dẫn đến quá tải trong tất cả các bậc học.

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2020

BÀN VỀ TIÊU CHÍ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO


Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam bước vào một môi trường rộng mở hơn, đã gia nhập nhiều tổ chức quốc tế. Ở môi trường rộng lớn này, con người Việt Nam có thể phát triển nhanh hơn trước. Sau hơn 30 năm tiến hành đổi mới, thế và lực của Việt Nam đã mạnh lên nhiều, biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển trong lãnh đạo của Đảng; trình độ, tư duy bắt nhịp kịp với tư duy phát triển của thế giới. Để phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu. Do vậy, xác định những tiêu chí của nguồn lực chất lượng cáo có ý nghĩa quan trọng. Nguồn nhân lực chất lượng cao thì mỗi người lao động phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: (1) Có sức khỏe thể lực, sự dẻo dai và tâm lý tốt; (2) Trình độ về mọi mặt phải luôn luôn được nâng cao; (3) Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ luôn luôn được bảo đảm để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình; (4) Có văn hóa nghề nghiệp; (5) Có khả năng sáng tạo cao; (6) Có khả năng thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính; (7) Có phẩm chất đạo đức tốt.

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

TÌNH HÌNH CÁC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hiện nay, ở nước ta có 54 dân tộc với số dân khoảng 97 triệu người, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm gần 14% dân số cả nước. Do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện địa lý nên cộng đồng các dân tộc Việt Nam có trình độ phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội; đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa nông thôn với thành thị, miền xuôi và miền núi còn có sự chênh lệch. Đặc biệt, các cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, tình hình dân tộc các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay đang nảy sinh những vấn đề mới, phức tạp rất dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, đó là:
* Vấn đề nghèo đói, chênh lệch giàu nghèo ở vùng dân tộc thiểu số. Trong những năm qua, công tác giảm nghèo trong cả nưc nói chung và vùng dân tộc thiếu số nói riêng đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, người nghèo, vùng nghèo vẫn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu s. Khoảng cách giàu nghèo, sự chênh lệch về thu nhập, mức sống của đồng bào dân tộc thiểu s và vùng dân tộc thiểu số ngày càng gia tăng so với mức bình quân của cả nước. Chênh lệch mức sng và gia tăng khoảng cách thu nhập giữa các dân tộc và giữa vùng dân tộc, vùng căn cứ địa cách mạng, vùng sâu, vùng xa so với các thành ph và mặt bằng chung của cả nước tác động, ảnh hưởng đến quan hệ giữa các dân tộc, chính sách đại đoàn kết dân tộc, là một nguy cơ tiềm ẩn gây mất ổn định chính trị xã hội, tác động xấu đến quc phòng - an ninh.
* Vấn đề thiếu đất sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ tr đất sản xuất, đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng tình trạng đồng bào dân tộc thiểu sổ thiếu đất sản xuất còn nhiều. Vấn đề đất đai đã và đang ảnh hưởng đến quan hệ dân tộc. Thiếu đất đã và đang là một trong các vấn đề bức xúc nhất ở vùng dân tộc thiểu s hiện nay, là nguồn gốc tạo ra khoảng cách thu nhập, phân hoá giàu nghèo giữa các dân tộc, gia tăng mâu thuẫn giữa các dân tộc, giữa các dân tộc với các nông, lâm trường, các doanh nghiệp trên địa bàn. .
Chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu s còn thấp. Mặc dù chúng ta đạt được thành quả quan trọng thực hiện các chính sách giáo dục, y tế, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, nhưng chất lượng nguồn nhân lực một số dân tộc thiểu số vẫn còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Đặc biệt, tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học của một số dân tộc thiểu số, tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu s trong hệ thng chính trị, tỷ lệ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số còn rất thấp, cơ cấu chưa hợp lý, chất lượng cán bộ còn yếu.