Hiển thị các bài đăng có nhãn hôn nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hôn nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Đặc điểm hôn nhân gia đình truyền thống của các tộc người ở Việt Nam

Hôn nhân gia đình truyền thống của các tộc người ở nước ta mang đặc điểm riêng của tộc người, nhóm tộc người:
 Nhóm tộc người thiểu số ở Trường Sơn - Tây Nguyên và Nam Trung Bộ như Gia-rai, Ê-đê, Chăm, Ba-na, Cơ-ho… còn bảo lưu chế độ hôn nhân gia đình mẫu hệ. Vai trò phụ nữ nổi bật trong đời sống sinh hoạt và sản xuất, hôn nhân và gia đình. Chế độ ngoại hôn được duy trì chặt chẽ tính theo huyết thống người mẹ. Hôn nhân cư trú bên nhà vợ. Chế độ quần hôn còn dấu ấn nhất định, ví dụ tục nối nòi ở người Ê-đê (chị chết, em gái thay); tục hôn nhân anh em chồng, chị em vợ, ngoại hôn lưỡng hợp giữa hai dòng họ.
Nhóm tộc người thuộc ngôn ngữ Môn - Khơme vùng núi Bắc Trung Bộ và Tây Bắc như Khơ-mú, Kháng, Bru-Vân Kiều, Tà-ôi, Cơ-tu… bước đầu chuyển sang chế độ phụ hệ, nhưng vẫn còn dấu vết mẫu hệ. Đại gia đình cơ bản đã tan rã, hình thái gia đình chủ yếu là tiểu gia đình phụ quyền. Nhưng ở các vùng sâu, vùng xa trước đây, đại gia đình phụ quyền khá phổ biến. Người Tà-ôi, Cơ-tu còn bảo lưu nhà dài phụ hệ, nhưng hôn nhân cư trú bên chồng, huyết thống tính theo dòng cha. Tính chất hôn nhân mua bán đã phổ biến. Dấu vết quần hôn còn thấy ở tục hôn nhân con cô con cậu và ở rể khá nặng nề.
Nhóm tộc người có dân số đông như Mường, Tày, Nùng, Thái, Việt, Hoa, Khơ-me... hôn nhân gia đình mang tính phụ quyền tiêu biểu. Hình thức chủ đạo là tiểu gia đình phụ quyền có 2-3 thế hệ cùng chung sống. Hôn nhân cư trú bên chồng, mang tính mua bán nặng nề. Nam giới được đề cao, thân phận phụ nữ thấp kém do ảnh hưởng tư tưởng phong kiến gia trưởng. Dấu vết hôn nhân nguyên thủy còn tồn tại, như tục cướp vợ của người Hmông; tục lại mặt.
Nhìn chung, hôn nhân và gia đình truyền thống của các dân tộc Việt Nam  có những tiến bộ như: chế độ một vợ, một chồng; hôn nhân ngoại tộc; hôn nhân dựa trên tình yêu; tăng cường gắn kết gia đình, dòng họ. Tuy nhiên, tình trạng tảo hôn, cưỡng ép hôn nhân, thách cưới cao và hôn lễ tốn kém; truyền thống gia đình đông con, tập quán sinh đẻ nhiều, trọng nam khinh nữ, mê tín dị đoan trong hôn nhân như so tuổi, cúng lễ, lấy lá số... vẫn còn thấy không ít. 

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Đặc điểm hôn nhân gia đình truyền thống của các tộc người ở Việt Nam

Hôn nhân gia đình truyền thống của các tộc người ở nước ta mang đặc điểm riêng của tộc người, nhóm tộc người:
 Nhóm tộc người thiểu số ở Trường Sơn - Tây Nguyên và Nam Trung Bộ như Gia-rai, Ê-đê, Chăm, Ba-na, Cơ-ho… còn bảo lưu chế độ hôn nhân gia đình mẫu hệ. Vai trò phụ nữ nổi bật trong đời sống sinh hoạt và sản xuất, hôn nhân và gia đình. Chế độ ngoại hôn được duy trì chặt chẽ tính theo huyết thống người mẹ. Hôn nhân cư trú bên nhà vợ. Chế độ quần hôn còn dấu ấn nhất định, ví dụ tục nối nòi ở người Ê-đê (chị chết, em gái thay); tục hôn nhân anh em chồng, chị em vợ, ngoại hôn lưỡng hợp giữa hai dòng họ.
Nhóm tộc người thuộc ngôn ngữ Môn - Khơme vùng núi Bắc Trung Bộ và Tây Bắc như Khơ-mú, Kháng, Bru-Vân Kiều, Tà-ôi, Cơ-tu… bước đầu chuyển sang chế độ phụ hệ, nhưng vẫn còn dấu vết mẫu hệ. Đại gia đình cơ bản đã tan rã, hình thái gia đình chủ yếu là tiểu gia đình phụ quyền. Nhưng ở các vùng sâu, vùng xa trước đây, đại gia đình phụ quyền khá phổ biến. Người Tà-ôi, Cơ-tu còn bảo lưu nhà dài phụ hệ, nhưng hôn nhân cư trú bên chồng, huyết thống tính theo dòng cha. Tính chất hôn nhân mua bán đã phổ biến. Dấu vết quần hôn còn thấy ở tục hôn nhân con cô con cậu và ở rể khá nặng nề.
Nhóm tộc người có dân số đông như Mường, Tày, Nùng, Thái, Việt, Hoa, Khơ-me... hôn nhân gia đình mang tính phụ quyền tiêu biểu. Hình thức chủ đạo là tiểu gia đình phụ quyền có 2-3 thế hệ cùng chung sống. Hôn nhân cư trú bên chồng, mang tính mua bán nặng nề. Nam giới được đề cao, thân phận phụ nữ thấp kém do ảnh hưởng tư tưởng phong kiến gia trưởng. Dấu vết hôn nhân nguyên thủy còn tồn tại, như tục cướp vợ của người Hmông; tục lại mặt.

Nhìn chung, hôn nhân và gia đình truyền thống của các dân tộc Việt Nam  có những tiến bộ như: chế độ một vợ, một chồng; hôn nhân ngoại tộc; hôn nhân dựa trên tình yêu; tăng cường gắn kết gia đình, dòng họ. Tuy nhiên, tình trạng tảo hôn, cưỡng ép hôn nhân, thách cưới cao và hôn lễ tốn kém; truyền thống gia đình đông con, tập quán sinh đẻ nhiều, trọng nam khinh nữ, mê tín dị đoan trong hôn nhân như so tuổi, cúng lễ, lấy lá số... vẫn còn thấy không ít. 

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Lịch sử tộc người trên thế giới đã trải qua các hình thái hôn nhân nào

Chế độ hôn nhân trong lịch sử loài người thường gắn liền với quá trình lịch sử tộc người, gồm các hình thái hôn nhân sau đây:
Tạp hôn - loại hình hôn nhân chưa có sự chi phối và sự ràng buộc bởi quy định của xã hội, diễn ra vào thời kỳ bầy người nguyên thủy đang trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người; loại hình hôn nhân này không phân biệt giữa những người cùng huyết thống hay khác thế hệ, đồng thời thừa nhận chế độ nhiều chồng (đa phu) và chế độ nhiều vợ (đa thê).
Quần hôn - hình thái hôn nhân đặc trưng trong xã hội nguyên thủy thời kỳ thị tộc mẫu hệ, là sự chung sống giới tính trong một thời gian nào đó hoặc thường xuyên của những cặp trai gái thuộc cùng một lứa tuổi của những thị tộc khác nhau. Con cái sinh ra chỉ biết mẹ mà không xác định được người cha.  Quần hôn còn tồn tại dưới dạng tàn dư ở một số tộc người trong xã hội về sau.
Chế độ lưỡng hợp ngoại hôn - loại hình hôn nhân ngoại tộc, tức là hôn nhân với người ngoài thị tộc và chỉ được phép trao đổi hôn nhân giữa hai thị tộc. Đây một hình thức quần hôn, tất cả đàn ông của thị tộc này là chồng của đàn bà thuộc thị tộc kia và ngược lại. Chế độ hôn nhân này đặc trưng cho thị tộc suốt thời đại nguyên thủy.
Nội hôn - hình thức hôn nhân trong nội bộ thị tộc hoặc bộ lạc, là hôn nhân trong cùng một dòng họ xảy ra không phổ biến vào thời kỳ thị tộc phụ hệ.
Hôn nhân đối ngẫu - hình thái hôn nhân thời kỳ thị tộc phụ hệ, tính chất quần hôn vẫn rõ nét nhưng diễn ra từng cặp đôi theo nhóm nhỏtheo thế hệ giữa một vài người đàn ông của thị tộc này với vài người phụ nữ của thị tộc lưỡng hợp kia; con cái có thể nhận biết được người cha của mình.  
Chế độ hôn nhân một vợ một chồng - hình thái hôn nhân chỉ cho phép lấy một vợ, một chồng; hình thức hôn nhân hợp pháp duy nhất được tìm thấy trong các xã hội có giai cấp từ cổ đại đến nay. Tuy nhiên, có không ít trường hợp thực hiện chế độ một vợ một chồng nhưng với nhiều người - hết người này đến người kia (có thể cưới nhiều người khác nhau không vào cùng một lúc).
Về tính chất, có các hình thức hôn nhân:
Hôn nhân tự do - hình thức hôn nhân mà nam nữ được tự do tìm đến với nhau để quan hệ giới tính và tự do kết hôn.
Hôn nhân cướp đoạt - hình thức hôn nhân cướp vợ với sự đồng ý hay không đồng ý của người con gái và gia đình, bố mẹ cô ta. Người Hmông ở một số vùng nước ta hiện nay vẫn còn tục “cướp vợ”.
Hôn nhân mua bán - hình thức hôn nhân mà gia đình người chồng phải nộp cho gia đình vợ một số của cải bằng tiền hoặc hiện vật để mua người con gái hoặc con rể. Cùng đặc điểm với hình thức này, có dạng hôn nhân giao dịch - người con trai phải làm việc tại gia đình cô gái một thời gian nhất định, sau đó mới có quyền cưới hỏi cô gái làm vợ. Người Khơ mú ở nước ta vẫn còn tàn dư hôn nhân này.
Hôn nhân cư trú riêng lẻ - hình thức chung sống không thường xuyên của đôi vợ chồng. Vợ và chồng ở hai thị tộc khác nhau, khi lấy nhau, người chồng phải về cư trú bên vợ nhưng chồng không ở trong nhà vợ mà ở tại một nhà gọi là nhà của đàn ông chung trong thị tộc - ngôi nhà dành riêng cho những người thuộc các thị tộc khác về ở rể.
Hôn nhân khách - những người khách có cùng lứa tuổi và cùng thị tộc với chủ nhà thì được phép và có quyền sinh hoạt giới tính với vợ của chủ nhà. Đây là biểu hiện của loại hình quần hôn.
Hôn nhân một vợ một chồng - hình thức trao đổi hôn nhân có tính chung thủy giữa một người nam và một người nữ được cộng đồng, xã hội thừa nhận.
Chế độ hôn nhân đa thê - hình thức hôn nhân cho phép một người đàn ông có thể cưới nhiều vợ. Chế độ này thay đổi tùy theo từng thời kỳ xã hội nhưng với điều kiện là người đàn ông phải có khả năng cấp dưỡng cho các bà vợ cũng như con cái của họ. Chế độ đa thê rất tốn kém.
Chế độ hôn nhân đa phu - hình thức hôn nhân cho phép một người phụ nữ sống chung với người chồng. Thời phong kiến ở Ấn Độ có hình thái này.
Chế độ đa phu anh em ruột - loại hình hôn nhân ở đó một nhóm anh em cưới chung một phụ nữ. Người anh lớn tuổi nhất đóng vai chú rể, tất cả các người anh em này đều bình đẳng trong quan hệ giới tính với người vợ và tất cả đều là cha của những đứa con.
Chế độ đa thê chị em ruột - loại hình hôn nhân mà một người đàn ông được phép cưới các chị em ruột. Về hình thức, nó cũng giống như loại hình hôn nhân đa phu anh em ruột, nhưng trong hệ thống này một nhóm anh em có thể cưới một nhóm chị em.
Hôn nhân con chú, con bác - hôn nhân giữa con trai và con gái, cháu trai và cháu gái của hai người anh em trai có mối quan hệ huyết thống tính theo dòng cha.

Hôn nhân con cô, con cậu - hình thức hôn nhân giữa những người có quan hệ là anh em họ cùng một thế hệ thuộc hai thị tộc có quan hệ hôn nhân với nhau, thường diễn ra theo chiều những người con trai của cô quay trở lại lấy con gái của những người anh em trai với mẹ mình. Các tộc người Khơ mú, Mảng, Kháng, Xinh mun ở Tây Bắc nước ta vẫn ưa thích hình thức này.