Hiển thị các bài đăng có nhãn thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI LÀ GÌ?

Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia, Xingapo và Ôxtrâylia có thể rút ra một số bài học trong giải quyết vấn đề dân tộc như sau:

Lợi ích quốc gia, dân tộc là cao nhất và được xây dựng, bảo đảm trên cơ sở nhà nước giải quyết tốt, hài hòa lợi ích các dân tộc thiểu số trong quốc gia, dân tộc. Vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc tồn tại lâu dài một cách khách quan và có xu hướng vận động khách quan riêng của nó. Mọi sự giản đơn, chủ quan duy ý chí, áp đặt trong quan điểm lý luận đường lối và phương thức xử lý quan hệ dân tộc đều có thể dẫn tới những hậu quả khôn lường, thậm chí làm tiêu vong cả một sự nghiệp, một chế độ xã hội, một đảng chính trị cầm quyền, làm tan rã cả một quốc gia mà không thể nào cứu vãn nổi.

Thể chế hóa và bảo đảm thực thi một cách nghiêm túc, hiệu quả các vấn đề liên quan đến dân tộc, quan hệ dân tộc, nhất là các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, v.v. Vấn đề dân tộc và phương thức xử lý mối quan hệ dân tộc là những vấn đề đặc thù. Các thể chế cầm quyền cần và có thể tác động đến xu hướng vận động của dân tộc bằng các phương thức thích hợp với đặc điểm dân tộc thay vì chỉ dùng biện pháp quyền lực, đặc biệt là yếu tố con người, trên cơ sở đó hình thành hệ thống chính sách công để giải quyết các vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc.

Vấn đề căn bản nhất trong xử lý quan hệ dân tộc ở các quốc gia đa dân tộc chính là quan hệ giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số. Mọi biến động chính trị - xã hội của thế giới đương đại đều liên quan đến vấn đề dân tộc, xét đến cùng đều do các mối quan hệ dân tộc chưa được xử lý thỏa đáng và hài hòa theo nghĩa đầy đủ của mối quan hệ này. Xử lý quan hệ dân tộc phải theo quan điểm toàn diện, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trong đó đặc biệt chú ý lĩnh vực văn hóa và tâm lý, ý thức dân tộc.

Vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc tồn tại lâu dài một cách khách quan và có xu hướng vận động khách quan riêng của nó. Tôn trọng xu hướng này là một tất yếu trong giải quyết vấn đề dân tộc. Các thể chế cầm quyền cần và có thể tác động đến xu hướng vận động của dân tộc bằng các phương thức thích hợp với đặc điểm dân tộc thay vì chỉ dùng biện pháp quyền lực, trong đó đặc biệt là yếu tố con người.

Lấy phát triển kinh tế cho các dân tộc thiểu số làm khâu đột phá, làm cơ sở để giải quyết các vấn đề khác trong phát triển. Sự phát triển không đồng đều là căn nguyên tạo nên sự phân hóa trên thế giới, gây sức ép và sự xáo trộn ở nhiều quốc gia.  Do vậy, trong giải quyết quan hệ dân tộc, phải giải quyết toàn diện, trong đó lấy phát triển kinh tế làm khâu đột phá, làm cơ sở trong giải quyết các vấn đề khác. 

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2023

THẾ GIỚI ĐÃ ĐỔI THAY, NHƯNG LUẬN THUYẾT SỨ MỆNH LỊCH SỬ GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, V.I.LÊNIN VẪN CÒN SỐNG MÃI

Hiện nay, Giai cấp công nhân đã, đang biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu cả số lượng, chất lượng, ngành nghề, nhưng địa vị kinh tế - xã hội của họ không hề thay đổi. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự hiện diện ngày càng lớn của kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, quốc tế hóa... đã làm thay đổi sâu sắc các yếu tố nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng: Vào cuối thế kỷ XIX số lượng công nhân trên thế giới chỉ có khoảng trên 10 triệu, đầu thế kỷ XX là 119 triệu, đến cuối thế kỷ XX đã tăng lên đến trên 660 triệu và đến năm 2003 khoảng trên 800 triệu. Tỷ trọng công nhân trong tổng số lao động chung của xã hội tăng lên; tỷ lệ công nhân trong ngành dịch vụ, công nghệ cao tăng lên: ở Mỹ hơn 71%, Nhật hơn 59%, Đức hơn 58%, Anh hơn 69%, Pháp hơn 66%.

Chủ nghĩa tư bản còn khả năng phát triển, nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có không được khắc phục mà còn tăng lên, tất yếu sẽ bị thay thế bằng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Các mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc với những nước phụ thuộc ngày càng tăng lên. Đặc biệt, nhiều nước tư bản, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800%. Ở Mỹ, 1% người giàu nhất đã làm chủ 40% tài sản, trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ. Trong năm 2017, 1% dân số thế giới sở hữu 82% tổng tài sản được tạo ra trên toàn cầu. Trong khi đó 3,7 tỉ người (chiếm một nửa dân số nghèo nhất thế giới) đã không hề tăng thêm chút tài sản nào. Thực chất sự phát triển của chủ nghĩa tư bản những năm qua chỉ hướng tới phục vụ cho một bộ phận giàu có nhất. Những điều chỉnh đó của chủ nghĩa tư bản chỉ làm dịu đi những mâu thuẫn xã hội, chứ không làm thay đổi bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Mặc dù, hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển, đời sống của giai cấp công nhân và người lao động đã được cải thiện, một bộ phận công nhân số lượng cổ phiếu trong công ty và trở thành tầng lớp trung lưu trong xã hội. Nhưng so với tài sản mà giai cấp tư sản có được tài sản của công nhân và người lao động cũng chỉ tựa như giọt nước trong đại dương lợi nhuận mà nhà tư bản thu được. Điều đó đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, làm bùng phát nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân và người lao động chống lại giới chủ tư sản như phong trào đấu tranh của công nhân từ “phố Wall” (nổ ra vào ngày 14 tháng 9 năm 2012), sau đó, lan rộng ra hàng chục thành phố của Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu để phản đối các biện pháp khắc khổ và tỉ lệ thất nghiệp, đói nghèo đang ngày càng gia tăng. Sự phản kháng xã hội mạnh mẽ càng làm bộc lộ bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản, không đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Đó là bản chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững của chủ nghĩa tư bản. Đúng như C.Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động và tài nguyên. Các mâu thuẫn giữa cơ bản trong chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại và ngày càng gay gắt, tất yếu chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ bị xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản thay thế trong tương lai.

Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã và đang đổi mới, cải cách thành công, tiếp tục vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa. Ở Trung Quốc, sau hơn 40 năm cải cách mở cửa (1979- 2018) đã thu được những kỳ tích. Năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng 12.300 tỷ USD, chiếm 15% GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Giai đoạn 1978 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9%. Trong giai đoạn 2012 - 2016, hằng năm, kinh tế Trung Quốc đóng góp 34% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Năm 1978, GDP bình quân đầu người ở Trung Quốc mới chỉ ở mức 156 USD, là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng đến năm 2017, GDP bình quân đầu người đã đạt 8.800 USD, được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Số người nghèo ở Trung Quốc giảm từ 770 triệu người năm 1978 xuống còn 30,46 triệu người năm 2017, tức tỷ lệ người nghèo giảm từ 97,5% năm 1978 xuống mức 3,1% năm 2017. Trong tương lai không xa, có thể dự đoán các chỉ số GDP, PPP theo GDP của nước này sẽ vượt Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) cộng lại. Trung Quốc hiện có 317 tỷ phú và hiện đứng thứ hai thế giới sau Mỹ về chỉ số này.

Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới, đã thu được những thành tựu to lớn, toàn diện: Nền kinh tế phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định, qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay"

Thực tế, các thế lực thù địch càng điên cuồng tiến công hòng phủ nhận, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, thì càng chứng tỏ giá trị và sức sống của học thuyết Mác - Lênin. Quy luật tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình phải thường xuyên đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phản khoa học, phản động đó. Thay cho lời kết xin trích khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”. Và khẳng định của Đảng ta: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.


Thứ Hai, 30 tháng 8, 2021

THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH: LỢI DỤNG TÌNH HÌNH THẾ GIỚI, KHU VỰC ĐỂ KÍCH ĐỘNG TRONG NƯỚC

Tình hình thế giới ngày nay, xu thế hòa bình hợp tác vẫn là xu thế lớn, Đất nước ta đang trên đà phát triển, Đảng và nhân dân ta đang nỗ lực cố gắng xây dựng một xã hội phồn vinh hòa bình hạnh phúc. Tuy nhiên, những nguy cơ về bất ổn chính trị vẫn còn diễn biến phức tạp, trong đó các thế lực thù địch vẫn không ngừng tung ra những chiêu trò mới để chống phá cách mạng nước ta.

Đằng sau những luận điệu tưởng chừng như đầy “thương cảm”, thực chất lại là những bộ mặt xảo trá. Núp dưới vỏ bọc “yêu nước”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã gieo rắc những quan điểm, nhận thức, đánh giá phiến diện, chủ quan, sai lệch nhằm đánh lạc hướng dư luận, từ đó lôi kéo, dụ dỗ, hướng lái những người nhẹ dạ, cả tin tham gia vào các hoạt động chống phá.

Câu chuyện bất ổn, biểu tình tại Myanmar hay trước đó là Hồng Kông (Trung Quốc), Thái Lan hay biểu tình tại Mỹ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc lấy những gì đã và đang diễn ra tại các nước này để so sánh với Việt Nam là hoàn toàn sai lệch. Đặc biệt, việc cho rằng biểu tình, chống đối với Nhà nước là thước đo cho sự “dũng cảm” trong đấu tranh dân chủ, nhân quyền như luận điệu các “nhà dân chủ mạng” đang rêu rao là không thể chấp nhận được.

Những thành tựu phát triển về mọi mặt của Việt Nam là minh chứng tiêu biểu, rõ ràng nhất cho thấy sự nghiệp cách mạng của nước ta đang đi đúng hướng. Đặc biệt, môi trường hòa bình, ổn định, tình hình an ninh, chính trị được giữ vững là nền tảng, cơ sở quan trọng, tiên quyết để thúc đẩy phát triển, đảm bảo tự do, dân chủ, nhân quyền.

Do đó, việc “mượn gió bẻ măng”, lợi dụng tình hình bất ổn tại tại một số quốc gia, vùng, lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới để rêu rao, lan truyền các luận điệu kích động biểu tình, bạo loạn là hoàn toàn sai trái, mà chúng ta cần phải tỉnh táo để không bị lợi dụng, cần sáng suốt nhận diện để đấu tranh chống lại.

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Các đặc điểm chủ yếu của quan hệ dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay?

Một là, quan hệ dân tộc, sắc tộc rất đa dạng, nhạy cảm và ngày càng phong phú, sinh động cùng với sự phát triển của thời đại. Sự đa dạng và phức tạp được biểu hiện trên các lĩnh vực từ nguồn gốc, nội dung của chính các khác biệt giữa các tộc người, dân tộc. Các cộng đồng người khác nhau có nhiều mối quan hệ tác động lẫn nhau, có lợi ích khác nhau về kinh tế, lãnh thổ, văn hóa, chính trị... đòi hỏi phải giải quyết. Các mối quan hệ đó đan xen nhiều chiều, giằng chéo nhau giữa các quan hệ dân tộc biểu hiện phong phú và sinh động trong các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Sự nhạy cảm trong quan hệ dân tộc do động chạm tới tình cảm, tâm lý, ý thức dân tộc, tới quyền và lợi ích; tới bản sắc văn hóa và những sự khác biệt của các tộc người, dân tộc. Các quan hệ đó thường gắn với các vấn đề nảy sinh trong lịch sử và hiện tại, đã in sâu vào tâm lý, ý thức của tộc người, rất dễ bị kích động, bùng nổ và dễ bị lợi dụng, can thiệp.
Hai là, quan hệ dân tộc, sắc tộc còn tồn tại lâu dài. Như V.I. Lênin đã từng nói, khi giai cấp và vấn đề giai cấp mất đi, thì dân tộc và quan hệ dân tộc vẫn còn tồn tại. Trong xã hội có áp bức, bóc lột, các quan hệ dân tộc, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp gắn bó mật thiết với nhau và diễn ra quyết liệt, gay gắt. Song một khi đối kháng giai cấp không, ở xã hội xã hội chủ nghĩa, con người vẫn tồn tại trong các tộc người, các quốc gia dân tộc. Và do đó, quan hệ dân tộc tiếp tục đặt ra những vấn đề cần giải quyết.

Ba là, quan hệ dân tộc, sắc tộc trên thế giới diễn ra nóng bỏng, vừa mang tính toàn cầu, vừa là vấn đề chính trị - xã hội phức tạp, nhức nhối của nhiều quốc gia và khu vực. Mối quan hệ dân tộc, sắc tộc đã và đang bùng nổ thành mâu thuẫn, xung đột, nội chiến và chiến tranh ở những quy mô, phạm vi, cường độ khác nhau; tạo ra các điểm nóng, gây nên mất ổn định, khủng hoảng, phá vỡ thống nhất quốc gia, đe dọa nghiêm trọng hòa bình, an ninh quốc gia và quốc tế.

Tình hình quan hệ dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay như thế nào?

Hiện nay, mâu thuẫnxung đột dân tộc, sắc tộc diễn ra khắp các châu lục, mang tính toàn cầu. Từ những năm 80 thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề dân tộc, sắc tộc nổi lên khắp nơi, không phụ thuộc vào thể chế chính trị, trình độ phát triển ở các quốc gia, hay vị trí địa lý. Trào lưu ly khai, phân lập dân tộc diễn ra mạnh mẽ đan xen cùng xu hướng liên kết.
Các “điểm nóng” dân tộc xảy ra với nhiều hình thức, cấp độ khác nhau, mang các sắc thái tộc người, dân tộc, tộc người - tôn giáo… Mâu thuẫn và xung đột đa dạng trên mọi lĩnh vực, bằng nhiều phương thức vũ trang, phi vũ trang từ xung đột hòa bình, nội chiến đến chiến tranh khu vực… nhằm tranh giành quyền lực giữa các phe phái, tranh giành lãnh thổ, biển đảo, lợi kinh tế, ảnh hưởng tôn giáo, văn hóa.
Ở châu Âu, mặc dù đang diễn ra quá trình liên minh châu Âu với sự nhất thể hóa về kinh tế, chính trị, tiền tệ... song xung đột dân tộc, sắc tộc vẫn bùng nổ ở nhiều nơi. Điển hình là sự tan vỡ của Liên bang Nam Tư, xung đột sắc tộc ở Ban Căng giữa người Xécbi với người Bôxnhia, Crôatia; sự ly khai của người Anbani ở Côxôvô; sự căng thẳng, xung đột ở Nga và các nước Liên Xô (cũ) như: tranh chấp vùng Nam Ôsêtia giữa Grudia với Nga, vùng Nagorơnưi Karabắc giữa Azecbaigian và Acmênia; Trecnhia đòi ly khai thành lập nhà nước riêng. Xung đột ở Bắc Ai Len giữa người Tin Lành với người Thiên Chúa giáo, và xứ này đòi tách khỏi Liên hiệp Anh. Phong trào ly khai xứ Baxcơ (Tây Ban Nha). Hiện mâu thuẫn và xung đột diễn ra gay gắt ở Ucraina.
Ở châu Á, Trung Đông đang là chảo lửa xung đột dân tộc như: phong trào đòi độc lập của người Cuốc ở Irắc, Thổ Nhĩ Kỳ; cuộc chiến hàng thập kỷ nay ở Ápganixtan giữa quân chính phủ với phe Taliban, giữa các phe phái bộ tộc địa phương; cuộc chiến tranh xung đột giữa Ixraen với Palextin các nước Ảrập về lãnh thổ; đặc biệt là hoạt động tàn bạo của Nhà nước Hồi giáo (IS). Ở Nam Á: phong trào ly khai ở Tây Tạng (Trung Quốc); tranh chấp biên giới giữan Độ với Pakixtan. Ở Thái Lan, Philippin và Myanma, xung đột dân tộc đòi phân tách, tự trị nổi lên từ nhiều thập kỷ nay chưa được giải quyết. Các tranh chấp lãnh thổ, biển đảo đang diễn gay gắt ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Ở châu Phi, địa bàn đã gia tăng chưa từng thấy các cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc. Hàng chục nước châu Phi chìm đắm nhiều thập kỷ trong đói nghèo, lạc hậu và xung đột dân tộc, sắc tộc. Xung đột có tính chất tộc người - tôn giáo ở Nam Xuđăng giữa người Thiên Chúa với người Hồi giáo đi đến thành lập 2 nhà nước riêng. Nội chiến ở Êtiôpia đã đi đến phân tách thành 2 quốc gia là Êtiôpia và Êtơria. Nội chiến giữa các bộ tộc ở Libi; phong trào Hồi giáo cực đoan hoạt động mạnh ở Angiêri, Xuđăng, Ai Cập, Êtiôpia.
Ở châu Mỹ và châu Đại Dương, nổi lên mâu thuẫn, xung đột giữa người dân gốc Âu di cư đến với người thổ dân. Ở Canađa, cộng đồng người nói tiếng Pháp đòi ly khai ở bang Quêbec. Vấn đề dân tộc, sắc tộc mang đặc điểm nổi bật ở châu Mỹ là xung đột tộc người - chủng tộc. Ví dụ, ở Mỹ, sự phân biệt chủng tộc giữa người da trắng và người da màu, nhất là với bộ phận người Mỹ gốc Phi đã và đang diễn ra từ nhiều thập kỷ nay. Ở Mêhicô, các bộ lạc da đỏ bị dồn vào các vùng đất hẻo lánh khô cằn đã nổi dậy ở bang Chiapat đòi ly khai. Căng thẳng trong quan hệ biên giới giữa Côlômbia với Vênêruêla.

Như vậy, các mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới rất phức tạp, căng thẳng, gây ra nhiều hậu quả hết sức nặng nề; không chỉ làm suy yếu các lực lượng cách mạng và tiến bộ, mà còn làm các quốc gia bị chia rẽ, phân lập, chìm trong nội chiến kéo dài. Hàng triệu người đã bị chết, hàng chục triệu người tị nạn do xung đột, nhất là gây ra làn sóng di cư khủng hoảng nhân đạo từ Trung Đông và Bắc Phi vào châu Âu hiện nay.

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

TRẬT TỰ THẾ GIỚI PHIÊN BẢN 2.0 CÓ GÌ KHÁC SO VỚI PHIÊN BẢN TRƯỚC ĐÓ?

Điểm lại, Hiệp ước Westphalia năm (1648), Hội nghị Viên (1815), Hội nghị Paris (1917) và trật tự sau Chiến tranh Thế giới II đã tạo nền móng cho thế giới phiên bản l.0. Một  phiên bản mà thế giới chủ yếu vận hành dựa trên chủ quyền quốc gia theo đó các chính phủ có toàn quyền hành động trong lãnh th của mình.
Từ sau Chiến tranh Lạnh, thế giới cũ đang sụp đổ và chuyển sang một thời kỳ mới hay còn gọi là thế giới phiên bản 2.0 theo đó chủ quyền không còn là tuyệt đối mà các nước phải có trách nhiệm đối với cách hành xử nội bộ cũng như quốc tế của mình.Nguyên nhân của sự sụp đổ này là do:
(1) Các cơ chế quốc tế sau Chiến tranh Thế giới II không giải quyết được các vấn đề hiện nay. Liên hợp quốc không xử lý được các vấn đề nội bộ quốc gia và các thách thức toàn cầu. Hiệp ước Không phổ biến Hạt nhân không ngăn được các nước theo đuổi chương trình hạt nhân;
(2) Các thách thức mà thế giới phải đối mặt trở nên đa dạng hơn bao gồm quyền chủ quyền, quyền tự quyết, can thiệp nhân đạo, khủng bố, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, biến đổi khí hậu, không gian mạng, và sức khỏe toàn cầu.
(3) Kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ do các thể chế thương mại quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), KhuVực Mậu dịch Tự do Mỹ Latinh (Mercosur). Tuy nhiên, sự phát triển này thiếu cơ chế kiểm soát, xử lý khủng hoảng.
(4) Mỹ đã hành động (hoặc không hành động) sai trên một loạt vấn đề:
(i) Mỹ không giúp đỡ Nga trở thành nước dân chủ trong khi mở rộng NATO coi Nga là đối thủ do đó làm chủ nghĩa dân tộc của Nga trỗi dậy, khiến Nga mạnh tay ở Grudia, Ucraina, và hiện nay là Xyria;
(ii) Mỹ tăng cường quan hệ và dẫn đến phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế với Trung Quốc. Do đó, hiện nay Mỹ bị rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan: Mỹ không muốn Trung Quốc dừng mua hàng Mỹ; chưa muốn trả nợ Trung Quốc trong khi vẫn xung đột với Trung Quốc trong vấn đề nhân quyền, Đài Loan.
(iii) Mỹ can thiệp vào Irắc với mong muốn tạo tiền lệ để các nước phát triển theo mô hình Mỹ. Muốn Iraq trở thành nước dân chủ và đồng thời gửi thông điệp là không nhà độc tài nào có thể đứng vững. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển của mạng xã hội và các tổ chức xã hội dân sự thì chính việc làm của Mỹ đối với quốc gia Trung Đông này đã tạo ra cái làn sóng gọi là Mùa Xuân Ả- rập.
(iv) Mỹ can thiệp không đúng mức và không cần thiết vào Trung Đông làm tình hình các nước trầm trọng hơn.
Hiện nay, thế giới đang bước vào Trật tự thế giới phiên bản 2.0 có một số tiếp nối của trật tự phiên bản 1.0 như: biên giới vẫn được tôn trọng, việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực sẽ bị lên án, và chính phủ vẫn gần như tự do hành động trong phạm vi lãnh th của mình.
Tuy nhiên,vấn đề đặt ra là trong thế giới phiên bản 2.0, các nước cần có cách tiếp cận mới đối với chủ quyền (quyền lợi và cả nghĩa vụ của quốc gia). Có cách tiếp cận mới đối với chủ nghĩa đa phương, linh hoạt hơn trong quan hệ quốc tế, và nhận thức rõ các thách thức an ninh quốc gia không chỉ đơn thuần từ bên ngoài mà cả các yếu t nội bộ.
Thứ hai,Mỹ, nước hiện và sẽ tiếp tục là nước hùng mạnh nhất thế giới trong nhiều thập kỷ nữa, không nên can thiệp công việc nội bộ, mà chỉ tập trung vào chính sách đối ngoại giúp các nước nhận rõ “nghĩa vụ chủ quyền” của mình.
Mỹ tiếp tục giữ vai trò chi phối trong quan hệ quốc tế, nhưng các quan hệ giữa Mỹ với Nga và Trung Quốc sẽ định hình quan hệ quốc tế. Mỹ cần tỏ cho Nga và Trung Quốc thấy Mỹ sẵn sàng cứng rắn chống lại việc sử dụng vũ lực đơn phương để thay đi hiện trạng lãnh thổ. Tuy nhiên, Mỹ cần đưa Nga và Trung Quốc vào các thể chế quốc tế để Nga và Trung Quốc nhận thấy trách nhiệm của mình, thay vì trừng phạt bởi lẽ trừng phạt không mang lại kết quả mà chỉ khích động chủ nghĩa dân tộc.
Thứ ba, các vấn đề toàn cầu cần có cách tiếp cận mới: Các quốc gia cần chống khủng bố, nhưng đúng đối tượng. Không phổ biến vũ khí hủy diệt, và sẵn sàng đánh phủ đầu nếu có bằng chứng cho thấy vũ khí này bị đưa vào tay khủng bố hoặc mang ra sử dụng, cần xây dựng thiết chế quản lý không gian mạng. Không nên quy kết trách nhiệm gây ra biến đổi khí hậu mà nên xác định mục tiêu thế giới cần làm và để các nước tự nhận thức và tự cam kết (như Hiệp định Paris 2015). Các chính phủ vẫn tự bảo vệ sức khỏe mọi người trong lãnh thổ của mình, nhưng cần tăng cường hợp tác quốc tế.

Thứ tư, các cơ chế đa phương không chỉ đơn thuần của các chủ thể nhà nước hay các nhà ngoại giao mà cần để cho các đối tượng khác liên quan trực tiếp, như công ty, xã hội dân sự... tham gia trên từng trường hợp cụ thể. Chế độ 1 nước, 1 phiếu bầu như hiện nay không giúp các thể chế đa phương giải quyết các vấn đề toàn cầu./.

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Tình hình quan hệ dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay

Hiện nay, mâu thuẫnxung đột dân tộc, sắc tộc diễn ra khắp các châu lục, mang tính toàn cầu. Từ những năm 80 thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề dân tộc, sắc tộc nổi lên khắp nơi, không phụ thuộc vào thể chế chính trị, trình độ phát triển ở các quốc gia, hay vị trí địa lý. Trào lưu ly khai, phân lập dân tộc diễn ra mạnh mẽ đan xen cùng xu hướng liên kết.
Các “điểm nóng” dân tộc xảy ra với nhiều hình thức, cấp độ khác nhau, mang các sắc thái tộc người, dân tộc, tộc người - tôn giáo… Mâu thuẫn và xung đột đa dạng trên mọi lĩnh vực, bằng nhiều phương thức vũ trang, phi vũ trang từ xung đột hòa bình, nội chiến đến chiến tranh khu vực… nhằm tranh giành quyền lực giữa các phe phái, tranh giành lãnh thổ, biển đảo, lợi kinh tế, ảnh hưởng tôn giáo, văn hóa.
Ở châu Âu, mặc dù đang diễn ra quá trình liên minh châu Âu với sự nhất thể hóa về kinh tế, chính trị, tiền tệ... song xung đột dân tộc, sắc tộc vẫn bùng nổ ở nhiều nơi. Điển hình là sự tan vỡ của Liên bang Nam Tư, xung đột sắc tộc ở Ban Căng giữa người Xécbi với người Bôxnhia, Crôatia; sự ly khai của người Anbani ở Côxôvô; sự căng thẳng, xung đột ở Nga và các nước Liên Xô (cũ) như: tranh chấp vùng Nam Ôsêtia giữa Grudia với Nga, vùng Nagorơnưi Karabắc giữa Azecbaigian và Acmênia; Trecnhia đòi ly khai thành lập nhà nước riêng. Xung đột ở Bắc Ai Len giữa người Tin Lành với người Thiên Chúa giáo, và xứ này đòi tách khỏi Liên hiệp Anh. Phong trào ly khai xứ Baxcơ (Tây Ban Nha). Hiện mâu thuẫn và xung đột diễn ra gay gắt ở Ucraina.
Ở châu Á, Trung Đông đang là chảo lửa xung đột dân tộc như: phong trào đòi độc lập của người Cuốc ở Irắc, Thổ Nhĩ Kỳ; cuộc chiến hàng thập kỷ nay ở Ápganixtan giữa quân chính phủ với phe Taliban, giữa các phe phái bộ tộc địa phương; cuộc chiến tranh xung đột giữa Ixraen với Palextin các nước Ảrập về lãnh thổ; đặc biệt là hoạt động tàn bạo của Nhà nước Hồi giáo (IS). Ở Nam Á: phong trào ly khai ở Tây Tạng (Trung Quốc); tranh chấp biên giới giữan Độ với Pakixtan. Ở Thái Lan, Philippin và Myanma, xung đột dân tộc đòi phân tách, tự trị nổi lên từ nhiều thập kỷ nay chưa được giải quyết. Các tranh chấp lãnh thổ, biển đảo đang diễn gay gắt ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Ở châu Phi, địa bàn đã gia tăng chưa từng thấy các cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc. Hàng chục nước châu Phi chìm đắm nhiều thập kỷ trong đói nghèo, lạc hậu và xung đột dân tộc, sắc tộc. Xung đột có tính chất tộc người - tôn giáo ở Nam Xuđăng giữa người Thiên Chúa với người Hồi giáo đi đến thành lập 2 nhà nước riêng. Nội chiến ở Êtiôpia đã đi đến phân tách thành 2 quốc gia là Êtiôpia và Êtơria. Nội chiến giữa các bộ tộc ở Libi; phong trào Hồi giáo cực đoan hoạt động mạnh ở Angiêri, Xuđăng, Ai Cập, Êtiôpia.
Ở châu Mỹ và châu Đại Dương, nổi lên mâu thuẫn, xung đột giữa người dân gốc Âu di cư đến với người thổ dân. Ở Canađa, cộng đồng người nói tiếng Pháp đòi ly khai ở bang Quêbec. Vấn đề dân tộc, sắc tộc mang đặc điểm nổi bật ở châu Mỹ là xung đột tộc người - chủng tộc. Ví dụ, ở Mỹ, sự phân biệt chủng tộc giữa người da trắng và người da màu, nhất là với bộ phận người Mỹ gốc Phi đã và đang diễn ra từ nhiều thập kỷ nay. Ở Mêhicô, các bộ lạc da đỏ bị dồn vào các vùng đất hẻo lánh khô cằn đã nổi dậy ở bang Chiapat đòi ly khai. Căng thẳng trong quan hệ biên giới giữa Côlômbia với Vênêruêla.

Như vậy, các mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới rất phức tạp, căng thẳng, gây ra nhiều hậu quả hết sức nặng nề; không chỉ làm suy yếu các lực lượng cách mạng và tiến bộ, mà còn làm các quốc gia bị chia rẽ, phân lập, chìm trong nội chiến kéo dài. Hàng triệu người đã bị chết, hàng chục triệu người tị nạn do xung đột, nhất là gây ra làn sóng di cư khủng hoảng nhân đạo từ Trung Đông và Bắc Phi vào châu Âu hiện nay.

Các xu hướng cơ bản của quá trình tộc người trên thế giới

Quá trình tộc người có hai xu hướng cơ bản, mang tính quy luật là:
1) Xu hướng liên hợp – là xu hướng các tộc người liên kết, hợp nhất lại để tạo thành cộng đồng người lớn hơn. Xu hướng này đặc trưng cho sự phát triển lớn mạnh của các tộc người, phản ánh quy luật khách quan tồn tại, phát triển của các tộc người trong quá trình lịch sử, thúc đẩy hình thành các quốc gia đa tộc người. Xu hướng này có 3 hình thức:
Cố kết là quá trình hợp nhất các nhóm người, tộc người có quan hệ gần gũi với nhau về nguồn gốc, về tiếng nói, văn hóa để hình thành một cộng đồng người lớn hơn, thành các quốc gia.
Hòa hợp là sự xích lại gần nhau, giao lưu gắn bó giữa các tộc người tuy khác nhau về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, bản sắc văn hóa, song do có nhiều mối liên hệ chung, cùng sinh sống đan xen hoặc gần nhau, tương đồng về môi trường sinh thái, địa - kinh tế, địa - chính trị... để đi đến thành lập nên cộng đồng lớn hơn.
Đồng hóa là quá trình tộc người này bị “hòa tan” vào tộc người khác, đánh mất bản sắc văn hóa của mình khi giao lưu, tiếp xúc tộc người. Có đồng hóa tự nhiên và đồng hóa cưỡng bức. Đồng hóa tự nhiên là, trong quá trình tiếp xúc, hội nhập, tộc người có trình độ kinh tế - xã hội thấp hơn, dân số ít hơn, đã tự nguyện hòa nhập vào cộng đồng tộc người có trình độ kinh tế - xã hội cao hơn, dân số đông hơn. Đồng hóa cưỡng bức quá trình tộc người mạnh hơn, giữ địa vị thống trị (thông qua giao lưu, xâm lược, nô dịch tộc người) đã dùng công cụ hành chính và bạo lực để áp đặt các giá trị văn hóa của mình, bắt buộc các tộc người yếu thế hoặc bị trị phải từ bỏ bản sắc tộc người để hòa tan vào tộc người thống trị.
2) Xu hướng phân tách - là xu hướng từ một cộng đồng tộc người ban đầu, do điều kiện lịch sử - cụ thể mà đi đến chia tách  thành các bộ phận, các nhóm phân tán; đến một lúc nào đó trở thành các tộc người độc lập hoặc đi đến thành lập các quốc gia khác nhau. Sự phân tách có thể do sự phát triển của các tộc người có dân số ngày càng lớn, phải tách ra, di cư đến vùng đất mới, nhưng thường là do bị áp bức và nô dịch dân tộc.
Xu hướng phân tách diễn ra mạnh mẽ vào thời nguyên thủy với sự phân tách của các thị tộc, bộ lạc. Trong xã hội có giai cấp, quá trình phân tách vẫn tiếp diễn, một số tộc người có số dân ít, trình độ kinh tế - xã hội thấp, trước áp lực cạnh tranh của các tộc người lớn, mạnh hơn, phải phân tán đi các nơi. Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa, sau Cách mạng tháng Mười Nga 1917, sau thế chiến thứ II năm 1945, ý thức dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc ngày càng được thức tỉnh dẫn đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển rộng khắp, hàng loạt các quốc gia mới được thành lập.
Trong thời hiện đại, do những lý do kinh tế, chính trị, xã hội, và với sự thức tỉnh ý thức tộc người, dân tộc, một số tộc người có xu hướng tách khỏi quốc gia dân tộc để hình thành quốc gia độc lập. Xu hưng này nổi lên mấy thập kỷ gần đây, đang là một vấn đề chính trị - xã hội phức tạp ở nhiều quốc gia, khu vực. Nhiều quốc gia mới được thành lập, song nhiều quốc gia đang đứng trước nguy cơ phân tách ở các châu lục, như ở Ucraina, Xyri, Libi...

Hiện cả hai xu hướng vẫn song song tồn tại, biểu hiện dưới các cấp độ và hình thức khác nhau. Tùy từng điều kiện lịch sử - cụ thể mà xu hướng nào nổi trội, song khuynh hướng liên hợp vẫn là chủ đạo. 

Các hình thái gia đình trong lịch sử tộc người trên thế giới

Cùng với hình thái hôn nhân, có các hình thái gia đình tương ứng trong lịch sử tộc người như sau:
Gia đình huyết tộc - loại hình gia đình đầu tiên của loài người vào thời kỳ bầy người nguyên thủy, gồm những người nam nữ cùng chung sống theo huyết thống và quan hệ giới tính theo kiểu quần hôn, bầy đàn lẫn lộn giữa các thế hệ.
Gia đình Pualua - hình thái gia đình hôn nhân theo nhóm nam và nữ nhưng quan hệ giới tính tiến triển theo 3 giai đoạn: giữa bố mẹ và con cái; giữa thế hệ bố mẹ với nhau và giữa thế hệ con cái với nhau. Loại hình gia đình này ở thời kỳ quần hôn của công xã thị tộc mẫu hệ.
Gia đình đối ngẫu - loại hình gia đình ở thời kỳ thị tộc phụ hệ; trong đó, sự liên kết từng đôi nam nữ trong từng thời kỳ nhất định, chưa bền vững, chưa trở thành một tế bào của xã hội mà còn phải phụ thuộc vào xã hội thị tộc.
Gia đình cá thể - hình thức kết hợp lâu dài giữa từng cặp nam nữ trong thị tộc phụ hệ; nó bắt đầu đối lập với tổ chức thị tộc mang tính quần hôn.
Gia đình một vợ một chồng, là tế bào kinh tế, xã hội của xã hội có giai cấp được Ph.Ăngghen gọi là hình thức gia đình tiêu biểu của xã hội văn minh.
Xét về quy mô số lượng người trong gia đình, loài người đã trải qua 3 hình thức gia đình:
Đại gia đình mẫu hệ - hình thái gia đình từ hai hay nhiều thế hệ gồm cặp vợ chồng bố mẹ và các cặp vợ chồng của con gái, cháu gái cùng sinh sống trong một nhà dài. Hình thức này tồn tại trong suốt thời kỳ thị tộc mẫu hệ. Trong đó, ngoài các thành viên quan hệ thân thuộc theo huyết thống của người mẹ, còn có các thành viên (chồng, con rể) do quan hệ hôn nhân đối ngẫu hoặc từng cặp hôn nhân cá thể. Phụ nữ nắm quyền điều hành gia đình, đứng đầu là một người phụ nữ lớn tuổi. Con cái sinh ra tính theo họ mẹ.
Đại gia đình phụ hệ - hình thái gia đình từ hai hay nhiều thế hệ ra đời từ thời kỳ thị tộc phụ hệ, gồm nhiều cặp vợ chồng bố mẹ, con cái, cháu chắt tính theo huyết thống của người cha. Đàn ông trong gia đình có vị trí quan trọng hơn so với phụ nữ, đứng đầu là một người đàn ông lớn tuổi. Con cái sinh ra tính theo họ cha, hôn nhân cư trú bên nhà chồng.

Tiểu gia đình hạt nhân - loại hình gia đình này được tạo bởi hai thế hệ gồm cha mẹ và con cái chưa lập gia đình, tương ứng với thời kỳ hôn nhân một vợ một chồng. Mối quan hệ chính trong tiểu gia đình là: quan hệ vợ chồng, cha mẹ với con cái, con cái với nhau.

Lịch sử tộc người trên thế giới đã trải qua các hình thái hôn nhân nào

Chế độ hôn nhân trong lịch sử loài người thường gắn liền với quá trình lịch sử tộc người, gồm các hình thái hôn nhân sau đây:
Tạp hôn - loại hình hôn nhân chưa có sự chi phối và sự ràng buộc bởi quy định của xã hội, diễn ra vào thời kỳ bầy người nguyên thủy đang trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người; loại hình hôn nhân này không phân biệt giữa những người cùng huyết thống hay khác thế hệ, đồng thời thừa nhận chế độ nhiều chồng (đa phu) và chế độ nhiều vợ (đa thê).
Quần hôn - hình thái hôn nhân đặc trưng trong xã hội nguyên thủy thời kỳ thị tộc mẫu hệ, là sự chung sống giới tính trong một thời gian nào đó hoặc thường xuyên của những cặp trai gái thuộc cùng một lứa tuổi của những thị tộc khác nhau. Con cái sinh ra chỉ biết mẹ mà không xác định được người cha.  Quần hôn còn tồn tại dưới dạng tàn dư ở một số tộc người trong xã hội về sau.
Chế độ lưỡng hợp ngoại hôn - loại hình hôn nhân ngoại tộc, tức là hôn nhân với người ngoài thị tộc và chỉ được phép trao đổi hôn nhân giữa hai thị tộc. Đây một hình thức quần hôn, tất cả đàn ông của thị tộc này là chồng của đàn bà thuộc thị tộc kia và ngược lại. Chế độ hôn nhân này đặc trưng cho thị tộc suốt thời đại nguyên thủy.
Nội hôn - hình thức hôn nhân trong nội bộ thị tộc hoặc bộ lạc, là hôn nhân trong cùng một dòng họ xảy ra không phổ biến vào thời kỳ thị tộc phụ hệ.
Hôn nhân đối ngẫu - hình thái hôn nhân thời kỳ thị tộc phụ hệ, tính chất quần hôn vẫn rõ nét nhưng diễn ra từng cặp đôi theo nhóm nhỏtheo thế hệ giữa một vài người đàn ông của thị tộc này với vài người phụ nữ của thị tộc lưỡng hợp kia; con cái có thể nhận biết được người cha của mình.  
Chế độ hôn nhân một vợ một chồng - hình thái hôn nhân chỉ cho phép lấy một vợ, một chồng; hình thức hôn nhân hợp pháp duy nhất được tìm thấy trong các xã hội có giai cấp từ cổ đại đến nay. Tuy nhiên, có không ít trường hợp thực hiện chế độ một vợ một chồng nhưng với nhiều người - hết người này đến người kia (có thể cưới nhiều người khác nhau không vào cùng một lúc).
Về tính chất, có các hình thức hôn nhân:
Hôn nhân tự do - hình thức hôn nhân mà nam nữ được tự do tìm đến với nhau để quan hệ giới tính và tự do kết hôn.
Hôn nhân cướp đoạt - hình thức hôn nhân cướp vợ với sự đồng ý hay không đồng ý của người con gái và gia đình, bố mẹ cô ta. Người Hmông ở một số vùng nước ta hiện nay vẫn còn tục “cướp vợ”.
Hôn nhân mua bán - hình thức hôn nhân mà gia đình người chồng phải nộp cho gia đình vợ một số của cải bằng tiền hoặc hiện vật để mua người con gái hoặc con rể. Cùng đặc điểm với hình thức này, có dạng hôn nhân giao dịch - người con trai phải làm việc tại gia đình cô gái một thời gian nhất định, sau đó mới có quyền cưới hỏi cô gái làm vợ. Người Khơ mú ở nước ta vẫn còn tàn dư hôn nhân này.
Hôn nhân cư trú riêng lẻ - hình thức chung sống không thường xuyên của đôi vợ chồng. Vợ và chồng ở hai thị tộc khác nhau, khi lấy nhau, người chồng phải về cư trú bên vợ nhưng chồng không ở trong nhà vợ mà ở tại một nhà gọi là nhà của đàn ông chung trong thị tộc - ngôi nhà dành riêng cho những người thuộc các thị tộc khác về ở rể.
Hôn nhân khách - những người khách có cùng lứa tuổi và cùng thị tộc với chủ nhà thì được phép và có quyền sinh hoạt giới tính với vợ của chủ nhà. Đây là biểu hiện của loại hình quần hôn.
Hôn nhân một vợ một chồng - hình thức trao đổi hôn nhân có tính chung thủy giữa một người nam và một người nữ được cộng đồng, xã hội thừa nhận.
Chế độ hôn nhân đa thê - hình thức hôn nhân cho phép một người đàn ông có thể cưới nhiều vợ. Chế độ này thay đổi tùy theo từng thời kỳ xã hội nhưng với điều kiện là người đàn ông phải có khả năng cấp dưỡng cho các bà vợ cũng như con cái của họ. Chế độ đa thê rất tốn kém.
Chế độ hôn nhân đa phu - hình thức hôn nhân cho phép một người phụ nữ sống chung với người chồng. Thời phong kiến ở Ấn Độ có hình thái này.
Chế độ đa phu anh em ruột - loại hình hôn nhân ở đó một nhóm anh em cưới chung một phụ nữ. Người anh lớn tuổi nhất đóng vai chú rể, tất cả các người anh em này đều bình đẳng trong quan hệ giới tính với người vợ và tất cả đều là cha của những đứa con.
Chế độ đa thê chị em ruột - loại hình hôn nhân mà một người đàn ông được phép cưới các chị em ruột. Về hình thức, nó cũng giống như loại hình hôn nhân đa phu anh em ruột, nhưng trong hệ thống này một nhóm anh em có thể cưới một nhóm chị em.
Hôn nhân con chú, con bác - hôn nhân giữa con trai và con gái, cháu trai và cháu gái của hai người anh em trai có mối quan hệ huyết thống tính theo dòng cha.

Hôn nhân con cô, con cậu - hình thức hôn nhân giữa những người có quan hệ là anh em họ cùng một thế hệ thuộc hai thị tộc có quan hệ hôn nhân với nhau, thường diễn ra theo chiều những người con trai của cô quay trở lại lấy con gái của những người anh em trai với mẹ mình. Các tộc người Khơ mú, Mảng, Kháng, Xinh mun ở Tây Bắc nước ta vẫn ưa thích hình thức này.