Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế tư nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế tư nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Trước việc Đảng ta có nhiều thay đổi trong chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, từ chỗ coi kinh tế tư nhân là một thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân đến việc xem kinh tế tư nhân là động lực rồi động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có ý kiến cho rằng Đảng ta đã “lúng túng”, “không nhất quán” trong việc kiên định mục tiêu phát triển kinh tế. Hơn nữa, có ý kiến cho rằng việc Đảng ta khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân như hiện nay, nền kinh tế của Việt Nam tất yếu sẽ phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa như các nước tư bản khác chứ không phải phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói “định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ là chủ quan, duy ý chí hay là tự lừa dối chính mình, lừa dối người khác mà thôi” .

Trong thời gian qua, những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch được tung ta khắp nơi nhằm gây nên sự nghi ngờ trong tư tưởng, mơ hồ trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta. Mục đích sâu xa của các thế lực thù địch là nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, “bẻ lái” sự phát triển của Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đây là âm mưu thâm độc đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2020

KHÔNG THỂ TUYỆT ĐỐI HÓA VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN

Thành phần kinh tế tư nhân ở nước ta ra đời trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân hay chế độ tư hữu (sở hữu cá thể, tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân), bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân (nói gọn là tư nhân và cá thể).

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRỞ THÀNH MỘT ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Một là, thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển KTTN. Đây là nhiệm vụ giải pháp hàng đầu nhằm tạo sự đồng thuận cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong toàn xã hội, tạo điều kiện cho KTTN phát triển.
Trong đó, cần tập trung nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội về khuyến khích, tạo mọi điều kiện phát triển KTTN, về chức năng của Nhà nước và thị trường trong nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập.
Hai là, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển KTTN. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN” việc tạo lập “môi trường đầu tư, kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế”. Vì vậy, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để KTTN phát triển có ý nghĩa rất quan trọng.
Ba là, hỗ trợ KTTN đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
Khuyến khích KTTN đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo nhằm nâng cao năng suất lao động; Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực với hệ thống chính sách, giải pháp đồng bộ.
Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong đó, tập trung xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, tư tưởng chính trị vững vàng, trách nhiệm cao và liêm chính.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đối với việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với KTTN nhưng phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp. Phòng, chống, xoá bỏ mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách đối với KTTN.
Năm là, đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với KTTN
Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong khu vực KTTN phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Có giải pháp thực hiện chủ trương phát triển đảng trong khu vực KTTN. Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương của Đảng về phát triển KTTN; bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng trong khu vực KTTN.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong phát triển KTTN. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, làm tốt vai trò tổ chức đại diện, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo, kỹ thuật và tư vấn cho các hội viên./.

HẠN CHẾ, YẾU KÉM CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN

Một là, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân (KTTN) phát triển còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ.
Các qui định pháp luật và các cơ chế, chính sách về tài chính, tín dụng, thuế, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, về lao động, tiền lương, giáo dục đào tạo, về dịch vụ công, về khoa học và công nghệ, về thương mại và hội nhập quốc tế, …để khuyến khích KTTN phát triển còn chưa đồng bộ, bất cập, thiếu linh hoạt và chưa được thực hiện nghiêm. Môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao, thiếu sự an toàn và tính minh bạch. Kinh tế vĩ mô chưa ổn định vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định. Nguy cơ lạm phát, tỷ giá, lãi suất cao trở lại, thiếu ổn định còn lớn. Bội chi ngân sách nhà nước và nợ công cao; đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro an toàn hệ thống tài chính còn cao. Trật tự và kỷ luật thị trường còn nhiều yếu kém; vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh diễn ra khá phổ biến trên thị trường. Sự minh bạch, công khai trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế.
Hai là, KTTN chưa đáp ứng được vai trò là một động lực.
Tốc độ tăng trưởng GDP của KTTN có xu hướng giảm trong những năm gần đây. “Giai đoạn 2003-2010: 11,93 %/năm; giai đoạn 2011-2015: 7,54%/năm”[3]. KTTN có qui mô nhỏ, chủ yếu vẫn là kinh tế hộ kinh doanh.“Số lượng các hộ gia đình, cá thể chiếm khoảng 95% tổng số chủ thể KTTN”
Trình độ công nghệ, trình độ quản trị, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh thấp. Phần lớn doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu và phụ thuộc vào nhập khẩu “số lao động có kỹ thuật chuyên môn chỉ khoảng 7%; đầu tư cho đổi mới thiết bị, công nghệ chiếm 3% doanh thu”. Quản trị của các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh cá thể trong KTTN còn rất yếu, hệ thống kế toán, quản lý tài chính chưa thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật, hoạt động thiếu minh bạch.
KTTN có cơ cấu ngành nghề còn bất hợp lý, thiếu liên kết với nhau và với các thành phần kinh tế khác khoảng 81% cho các hoạt động thương mại và dịch vụ nhỏ, lẻ phục vụ người tiêu dùng; phần còn lại khoảng 19% hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Khả năng tham gia chuỗi giá trị sản xuất trong nước, khu vực và toàn cầu thấp. Tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động cao, “bình quân giai đoạn 2007-2015 là 45% tổng số doanh nghiệp còn hoạt động trong nền kinh tế. Năm 2016 có 73.130 doanh nghiệp chấm dứt hoạt động và 20.345 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, trong khi số doanh nghiệp thành lập mới là 110.100 doanh nghiệp”.
Ba là, vi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong KTTN còn khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp có số vốn ít nhưng đăng ký nhiều ngành nghề kinh doanh, không xác định rõ mục tiêu sản xuất kinh doanh, xây dựng dự án đầu tư thiếu tính khả thi. Một số doanh nghiệp của tư nhân được lập ra để tiến hành các hoạt động bất hợp pháp như mua bán hoá đơn khống, buôn lậu,... Tình trạng gian lận thương mại, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu xảy ra phổ biến.
Bốn là, nhiều qui định của pháp luật về KTTN chưa được thực hiện nghiêm; nhất là lĩnh vực đầu tư, đất đai, tín dụng, thuế và hải quan. Môi trường đầu tư kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro cao và thiếu minh bạch. Quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản, tiếp cận các cơ hội kinh doanh, nguồn lực xã hội chưa thực sự bình đẳng giữa KTTN và các thành phần kinh tế khác; chi phí trung gian, không chính thức còn nhiều; vẫn còn biểu hiện của cơ chế xin - cho.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là: Chưa có sự thống nhất cao về lý luận và nhận thức đối với phát triển KTTN; thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất cập. Chưa tạo được bước đột phá trong đổi mới, hoàn thiện thể chế KTTN và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTN đạt hiệu quả chưa cao và còn chưa nghiêm túc. Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của KTTN thấp.

NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN


       Qua 15 năm thực hiện, Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN”, đã góp phần quan trọng thúc đẩy KTTN phát triển nhanh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, đồng thời góp phần hình thành, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
       Một là, nhận thức về vị trí, vai trò của KTTN đã có những bước tiến quan trọng, ngày càng tích cực hơn. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức được thể chế hóa và được pháp luật bảo vệ. Phương thức quản lý của Nhà nước đối với KTTN được đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường.
       Hai là, KTTN đã phát triển trên nhiều phương diện; hiệu quả, sức cạnh tranh dần được nâng lên; bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn KTTN có qui mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trong những năm qua, vai trò, vị trí của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ hơn và đánh giá đúng hơn. KTTN ngày càng đóng góp lớn hơn trong huy động các nguồn lực xã hội cho sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội và tăng cường quốc phòng, an ninh. “KTTN liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 39 - 40% GDP thu hút khoảng 85% lao động trong nền kinh tế”; “tỷ trọng nguồn vốn của các doanh nghiệp tư nhân trong cơ cấu tổng lượng vốn đầu tư xã hội tăng qua các năm: năm 2002 chiếm 25,3%, năm 2010 chiếm 36,1%, năm 2015 chiếm 38,7%”.
       Ba là, đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đạo đức, văn hóa kinh doanh của doanh nhân dần được nâng lên.
       Bốn là, mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng trong khu vực KTTN được cấp ủy đảng quan tâm đổi mới, hoàn thiện; đảng viên được làm kinh té tư nhân và chủ doanh nghiệp của tư nhân được thí điểm kết nạp vào đảng.
       Năm là, hoạt động giám sát, phản biện chính sách, vai trò tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp được quan tâm đổi mới, nâng cao hiệu quả.