Hiển thị các bài đăng có nhãn động lực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn động lực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

NHỮNG CƠ HỘI ĐỂ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY

Việt Nam có bề dày truyền thống mấy nghìn năm lịch sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhiều biến cố thăng trầm nên kết tinh và lắng đọng được nhiều giá trị văn hóa tích cực, như truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm, khả năng thích ứng cao với sự thay đổi của hoàn cảnh, sự khoan dung, tinh thần cộng đồng, sự nhân ái, lạc quan và hồn hậu, trọng nghĩa tình, sự cần cù, siêng năng. Nền văn hóa hiện tại đang hướng đến việc kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những giá trị mới, hướng tới tương lai. Trong điều kiện mới, nền văn hóa Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển, trong đó đáng chú ý là:

Một là, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế giúp văn hóa Việt Nam có được cơ hội quảng bá rộng rãi trên thế giới. Văn hóa Việt Nam phát triển trong bối cảnh công nghệ thông tin có những bước phát triển như vũ bão, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng mở ra khả năng giao lưu, hợp tác và phát triển toàn diện về văn hóa, nâng cao cơ hội quảng bá văn hóa Việt Nam ra toàn thế giới. Khoa học - công nghệ, truyền thông đại chúng phát triển mang đến cho người dân khả năng sáng tạo và thụ hưởng các sản phẩm văn hóa mới nhanh chóng, hiệu quả và có tính tương tác cao.

Hai là, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế số tạo ra những thuận lợi cho sự phát triển văn hóa Việt Nam, giúp chúng ta khai thác tiềm năng kinh tế của văn hóa trên môi trường số. Công nghệ số, internet phát triển kéo theo khả năng tiếp cận các nội dung văn hóa trở nên dễ dàng và không bị giới hạn bởi các đường biên giới quốc gia, điều này cũng đòi hỏi sự khác biệt, độc đáo trong nội dung, ý tưởng của các sản phẩm văn hóa như là một ưu thế cạnh tranh quan trọng. Các nước phát triển trên thế giới đang chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo, công nghệ số hóa và sự số hóa các nội dung văn hóa. Những thay đổi này đã đem lại những cơ hội lớn về khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất, góp phần tạo ra các kênh phân phối, quảng bá sản phẩm mới, đòi hỏi những hành động nhạy bén và sự thích ứng liên tục với sự thay đổi của môi trường. Sự chuyển đổi kỹ thuật số và tinh thần kinh doanh đưa ra những cơ hội, khả năng và thách thức mới cho ngành văn hóa về phương thức hoạt động.

Ba là, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã và đang tạo ra sự tích cực xã hội và tích cực văn hóa cho người dân, là cơ hội thúc đẩy tinh thần tự quản, năng lực làm chủ của nhân dân trong việc tổ chức các hoạt động và sáng tạo văn hóa. Người dân ngày càng được khuyến khích tham gia vào các hoạt động xã hội và hoạt động văn hóa với tư cách như những nhân tố chủ động, từ hoạch định đến đánh giá các vấn đề xã hội và văn hóa, thậm chí là người đồng kiến tạo xã hội và văn hóa cùng với bộ máy nhà nước. Yếu tố nội sinh của sự phát triển xã hội và văn hóa được tăng lên cao, phần nào đó thể hiện vai trò tăng lên của người dân so với Nhà nước trong nhiều vấn đề xã hội và văn hóa.

Bốn là, chủ trương hội nhập quốc tế chủ động, tích cực, toàn diện của Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho văn hóa Việt Nam hội nhập và phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, văn hóa Việt Nam có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức, các nguồn lực và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và sáng tạo những giá trị văn hóa mới. Đặc biệt, công nghiệp văn hóa đang được định hướng là một trong những ngành trụ cột của kinh tế. Kinh tế đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện đã hình thành nên một thị trường tiêu dùng/hưởng thụ văn hóa với nhu cầu ngày càng lớn, là cơ sở quan trọng thúc đẩy văn hóa phát triển.

Sự phát triển văn hóa Việt Nam là nguồn lực nội sinh, là động lực phát triển bền vững đất nước. Vì vậy, cần tận dụng cơ hội để phát triển, đồng thời chủ động khắc phục những tồn tại, vượt qua được thách thức là cách thức tốt nhất để Việt Nam phát triển văn hóa, thực sự biến văn hóa trở thành động lực và mục tiêu cho sự phát triển đất nước.

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

TIẾP TỤC PHÁT HUY MẠNH MẼ ĐỘNG LỰC, NGUỒN LỰC CỦA ĐỔI MỚI

Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố tiềm ẩn và hiển hiện có thể nhận biết được.

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

Hai là, những thành quả của đổi mới lại tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực cho nó, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: Vốn, kỹ thuật-công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và của nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

Rõ ràng, công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2021

VAI TRÒ CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN AN SINH XÃ HỘI BỀN VỮNG

Quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững là vấn đề chiến lược, có vị trí quan trọng trong tổng thể hệ thống quản lý phát triển xã hội bền vững của quốc gia nhằm xây dựng một xã hội ổn định, hài hòa, đồng thuận, bao trùm, không có sự loại trừ, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước. Đây cũng là chỉ báo thể hiện bản chất, tính ưu việt của một chế độ. Là quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, để thực hiện hiệu quả quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững, việc xây dựng chính phủ kiến tạo và phát huy cao nhất vai trò của chính phủ kiến tạo là rất cấp thiết đối với Việt Nam. Xây dựng chính phủ kiến tạo trong quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững là bước chuyển mạnh từ chính phủ thực hiện chức năng quản lý là chính sang chính phủ vừa là chủ thể quản lý, vừa là chủ thể phục vụ nhân dân. Trong xây dựng chính phủ kiến tạo quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững, vấn đề cơ bản là phải xác định rõ vai trò của chính phủ và vai trò của thị trường, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội trong bảo đảm quyền an sinh xã hội của người dân. Chính phủ quản lý, đóng vai trò chủ đạo, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường phù hợp và phát huy tinh thần tự an sinh của người dân, mở rộng sự tham gia của cộng đồng, xã hội trong một thể chế “chính phủ nhỏ, xã hội lớn”. Đây chính là “phong cách mới quản trị xã hội” của chính phủ kiến tạo quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững một cách dân chủ, văn minh. Xây dựng chính phủ kiến tạo quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững sẽ đạt yêu cầu kép là chính phủ mạnh và thị trường mạnh, vừa phát huy vai trò, thế mạnh của chính phủ, vừa tăng cường vai trò, ưu thế của thị trường trong quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững.

Chính phủ kiến tạo được xây dựng và phát triển phải có đủ năng lực quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững trên cơ sở xác định đúng, khoa học vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức. Đây là giải pháp vĩ mô quan trọng và muốn thành công phải thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp, như có quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc, hành động quyết liệt của cả hệ thống chính trị; nghiên cứu, đổi mới tư duy lý luận về mô hình chính phủ kiến tạo, có lộ trình chuyển từ mô hình chính phủ quản lý là chính sang mô hình chính phủ quản lý và phục vụ trên cơ sở kế thừa, phát triển những yếu tố tích cực của Chính phủ trong các giai đoạn trước, đặc biệt chú ý đến tính ưu việt của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền văn hóa Việt Nam. Trong đó, ưu tiên xây dựng một nền hành chính công hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, nói không với tham nhũng quyền lực; phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao trong bộ máy hành chính; hiện đại hóa hoạt động của hệ thống chính phủ, bảo đảm các bộ, ngành chức năng ở Trung ương và địa phương, cơ sở liên quan đến quản lý an sinh xã hội bền vững đáp ứng yêu cầu của xây dựng chính phủ kiến tạo, chính phủ điện tử, chính phủ số.

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI NHỮNG NHẬN THỨC LỆCH LẠC, SAI TRÁI

Đối với Việt Nam, dân chủ là bản chất của chế độ; dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Dân chủ không phải là thứ bất biến mà nó vận động phát triển không ngừng theo quá trình đi lên của lịch sử xã hội. Bằng nhiều chủ trương, giải pháp chúng ta phấn đấu đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự; hoàn thiện hệ thống pháp luật... Thực chất đó là quá trình chúng ta hoàn thiện nền dân chủ, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực tế cho thấy việc thực hành dân chủ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; cũng như trên mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống ở Việt Nam đang ngày càng tốt hơn.

Sẽ là sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có “dân chủ thực sự”. Một điều mà chúng ta phải khẳng định với nhau rằng, dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền và bản chất của chế độ xã hội. Do đó thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ hay kém dân chủ. Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là nước nghèo, kém phát triển. Trong khi nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm; kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển; đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao. Đó là bằng chứng hùng hồn khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải cứu cánh cho dân chủ.

Sự xuất hiện những luận điệu sai trái về nền dân chủ XHCN ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể khu biệt lại ở hai nguyên nhân chính là: do nhận thức hạn chế, thiếu hiểu biết mà vô tình nói sai và nhận thức rõ, có hiểu biết nhưng cố tình phát ngôn lệch chuẩn. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề này rất rõ ràng. Với những người do nhận thức hạn chế mà vô tình phát ngôn lệch chuẩn thì phải tuyên truyền để giúp họ nâng cao nhận thức, hiểu biết về dân chủ. Còn với những người hiểu biết rõ về dân chủ nhưng cố tình xuyên tạc, phụ họa, hùa theo các thế lực thù địch nhằm lợi dụng dân chủ để chống phá đất nước thì phải nghiêm trị theo pháp luật.

Đảng và Nhà nước ta luôn phấn đấu để bảo đảm và phát huy dân chủ của nhân dân, đi liền với đó là tăng cường pháp chế XHCN, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, theo tinh thần “Thượng tôn pháp luật” chứ không phải là thứ dân chủ tự do vô hạn độ như những phần tử bất mãn chính trị tung hô.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành nhưng cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và ĐBHĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công tốt đẹp. Cuộc bầu cử thành công mang ý nghĩa rất lớn trong việc đưa Nghị quyết Đại hội lần XIII của Đảng vào cuộc sống, đặc biệt là chủ trương tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN - Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Nhưng các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá Việt Nam. Một trong những chiêu trò quen thuộc của chúng là lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, gây phân tâm trong xã hội, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ. Nguy hại hơn các thế lực thù địch luôn tìm cách móc lối với các phần tử thoái hóa, biến chất ở trong nước hòng kích động, lôi kéo những người dân nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết về dân chủ phụ họa theo những luận điệu, chiêu trò của chúng.

Thực tế đòi hỏi một mặt chúng ta phải đẩy mạnh tuyên truyền giúp người dân nâng cao nhận thức về dân chủ; tổ chức để nhân dân phát huy quyền làm chủ trong đời sống xã hội. Mặt khác phải coi trọng công tác đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân chủ để chống phá Việt Nam mà các thế lực thù địch đang mưu toan móc nối với những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước để tiến hành./.

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

ĐỘNG LỰC VÀ NGUỒN LỰC CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

Về động lực, nguồn lực của đổi mới. Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển, thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố có thể nhận biết được.

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là định hướng đúng vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta luôn chủ động, sáng tạo trong mọi tình huống. Do vậy, chúng ta đứng vững và phát triển trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

Hai là, những thành quả của sự nghiệp đổi mới 35 năm qua tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới, lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế, lực, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển.

Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa dân tộc. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài là yếu tố quan trọng; nếu biết cách tranh thủ sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: vốn, kỹ thuật - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, sẽ khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa “ý Đảng” và “lòng dân” là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng và nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới phù hợp giữa “ý Đảng” và “lòng dân”, nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

Thành tựu của sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới đất nước của Việt Nam sáng tỏ như ban ngày, không thế lực đen tối nào có thể che phủ được. Đến nay, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt 343 tỉ USD, trong tốp 40 nền kinh tế lớn của thế giới và đứng thứ 4 trong ASEAN; GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt trên 3.500 USD; nằm trong tốp 10 quốc gia tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới và là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Nhận xét về Việt Nam, tờ báo cánh tả People’s World của Mỹ, ngày 25/01/2021 cho rằng: “Sở dĩ Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam thu hút sự chú ý của quốc tế vì Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ trên trường quốc tế, trở thành quốc gia hùng mạnh cả về kinh tế và ngoại giao”. Tờ The Straits Times nhật báo tiếng Anh, được xuất bản tại Singapore, ngày 22/02/2021 khẳng định: “Vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế đã gia tăng trong những năm gần đây. Trên cương vị Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2020, Việt Nam đã dẫn dắt tổ chức khu vực này vào thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng Covid-19 và giúp kinh tế toàn khu vực (RCEP) vượt qua vạch đích để ký được hiệp định. Việt Nam cũng là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021”. Đài truyền hình KBS của Hàn Quốc bình luận: “Việt Nam sau một thời gian lao khổ, hôm nay đứng dậy sáng lòa cùng nhân loại. Việt Nam ngẩng cao đầu, tự hào hòa đồng và đi lên cùng nhân loại”.

Rõ ràng là toàn bộ sự nghiệp cách mạng gần một thế kỷ của Đảng và nhân dân ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú, hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình của sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới phù hợp “ý Đảng” và “lòng dân” đã và đang kết hợp tất cả ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, yếu tố cơ bản nhất tạo nên những thành tựu mới to lớn hơn nữa thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao cả: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là câu trả lời đanh thép của chúng ta.

ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI NHỮNG NHẬN THỨC LỆCH LẠC, SAI TRÁI

Đối với Việt Nam, dân chủ là bản chất của chế độ; dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Dân chủ không phải là thứ bất biến mà nó vận động phát triển không ngừng theo quá trình đi lên của lịch sử xã hội. Bằng nhiều chủ trương, giải pháp chúng ta phấn đấu đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự; hoàn thiện hệ thống pháp luật... Thực chất đó là quá trình chúng ta hoàn thiện nền dân chủ, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực tế cho thấy việc thực hành dân chủ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; cũng như trên mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống ở Việt Nam đang ngày càng tốt hơn.

Sẽ là sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có “dân chủ thực sự”. Một điều mà chúng ta phải khẳng định với nhau rằng, dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền và bản chất của chế độ xã hội. Do đó thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ hay kém dân chủ. Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là nước nghèo, kém phát triển. Trong khi nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm; kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển; đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao. Đó là bằng chứng hùng hồn khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải cứu cánh cho dân chủ.

Sự xuất hiện những luận điệu sai trái về nền dân chủ XHCN ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể khu biệt lại ở hai nguyên nhân chính là: do nhận thức hạn chế, thiếu hiểu biết mà vô tình nói sai và nhận thức rõ, có hiểu biết nhưng cố tình phát ngôn lệch chuẩn. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề này rất rõ ràng. Với những người do nhận thức hạn chế mà vô tình phát ngôn lệch chuẩn thì phải tuyên truyền để giúp họ nâng cao nhận thức, hiểu biết về dân chủ. Còn với những người hiểu biết rõ về dân chủ nhưng cố tình xuyên tạc, phụ họa, hùa theo các thế lực thù địch nhằm lợi dụng dân chủ để chống phá đất nước thì phải nghiêm trị theo pháp luật.

Đảng và Nhà nước ta luôn phấn đấu để bảo đảm và phát huy dân chủ của nhân dân, đi liền với đó là tăng cường pháp chế XHCN, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, theo tinh thần “Thượng tôn pháp luật” chứ không phải là thứ dân chủ tự do vô hạn độ như những phần tử bất mãn chính trị tung hô.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành nhưng cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và ĐBHĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công tốt đẹp. Cuộc bầu cử thành công mang ý nghĩa rất lớn trong việc đưa Nghị quyết Đại hội lần XIII của Đảng vào cuộc sống, đặc biệt là chủ trương tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN - Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Nhưng các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá Việt Nam. Một trong những chiêu trò quen thuộc của chúng là lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, gây phân tâm trong xã hội, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ. Nguy hại hơn các thế lực thù địch luôn tìm cách móc lối với các phần tử thoái hóa, biến chất ở trong nước hòng kích động, lôi kéo những người dân nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết về dân chủ phụ họa theo những luận điệu, chiêu trò của chúng.

Thực tế đòi hỏi một mặt chúng ta phải đẩy mạnh tuyên truyền giúp người dân nâng cao nhận thức về dân chủ; tổ chức để nhân dân phát huy quyền làm chủ trong đời sống xã hội. Mặt khác phải coi trọng công tác đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân chủ để chống phá Việt Nam mà các thế lực thù địch đang mưu toan móc nối với những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước để tiến hành.

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

ĐỘNG LỰC CHO SỰ PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Bối cảnh quốc tế và những xu hướng phát triển của thời đại đặt yêu cầu phải phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng của toàn dân tộc cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã dự báo tình hình thế giới sẽ “…tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường”. Đáng chú ý, Văn kiện đã chỉ rõ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt… Trong hoàn cảnh thế giới phát triển phụ thuộc lẫn nhau, lợi ích quốc gia, dân tộc là nhân tố quyết định để mỗi quốc gia dân tộc tham gia vào các mối quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế thành công. Ngoài tiềm lực kinh tế, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc là chỗ dựa và điều kiện để mở rộng quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế. Trong điều kiện cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt, phức tạp, tác động mạnh mẽ đến Việt Nam hiện nay, việc giữ vững độc lập, tự chủ, khơi dậy và phát huy ý chí tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc góp phần giữ vững môi trường hòa bình, tận dụng cơ hội và hóa giải những thách thức đối với độc lập, hòa bình và phát triển của dân tộc.

Trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển rất mạnh mẽ, tạo nên đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Vai trò của nhân tố con người, đặc biệt là tri thức, trí tuệ, sáng tạo có ý nghĩa quyết định để có sự phát triển đột phá, làm thay đổi vị thế quốc gia trên bản đồ thế giới. Chúng ta có quyền tự hào về một dân tộc Việt Nam thông minh, sáng tạo, một đội ngũ người lao động có trình độ học vấn khá cao, một môi trường phát triển và hội nhập quốc tế có nhiều thuận lợi nhờ thắng lợi của công cuộc đổi mới và đường lối đối ngoại đúng đắn…, giúp nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Đúng như khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Và: “… Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn lúc nào hết, cần phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng phát triển trong toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm động lực cho sự phát triển trong giai đoạn phát triển mới. 

Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và mỗi người dân để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên xác định 5 quan điểm chỉ đạo công cuộc đổi mới hiện nay, trong đó, quan điểm về động lực phát triển nêu rõ: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”.  Để thực hiện quan điểm này, Nghị quyết yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam. Bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong thời kỳ mới, cần tập trung thực hiện hiệu quả một số giải pháp sau:

Một là, khơi dậy, nhân lên, phát huy giá trị, sức mạnh nội sinh của ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ chính ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc khi được khơi dậy, nhân lên, phát huy phù hợp sẽ tạo ra sức mạnh muôn người như một. Trong giai đoạn hiện nay, làm cho ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trở thành ý chí, khát vọng phát triển của mỗi người con đất Việt là trách nhiệm của Đảng, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ ý chí, khát vọng của mình, gương mẫu, làm lan tỏa, nhân lên ý chí, khát vọng phát triển của toàn dân tộc.

Hai là, để ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trở thành nguồn nội lực phát triển của đất nước, cần tập trung tuyên truyền, khẳng định những thành tựu rất đáng tự hào, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đạt được. Những thành tựu đó cũng là kết quả của sự phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của toàn dân tộc trước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, chúng ta thêm tin tưởng, tự hào, quyết tâm; thêm cơ sở khẳng định sự đúng đắn của con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Ba là, tiếp tục tháo gỡ những nút thắt trong cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý văn hóa, quản lý con người... Xóa bỏ triệt để cơ chế bao cấp, xin - cho, tạo điều kiện để tất cả các thành phần kinh tế, mỗi gia đình, cá nhân, địa phương… đều có cơ hội phát triển, làm giàu cho mình cho đất nước. Ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc chỉ có thể được phát huy trên nền tảng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân. Điều này phải được coi là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc.

Bốn là, muốn phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong bất kỳ thời đại nào cũng phải dựa vào dân; tin vào sức mạnh phi thường của quần chúng nhân dân. Sự đồng lòng của nhân dân là điều kiện tiên quyết để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc. Trong tình hình mới hiện nay, sự lãnh đạo đúng đắn, nhạy bén của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài là điều kiện để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam./.

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2019

NHẬN THỨC VỀ VẤN ĐỀ ĐỘNG LỰC CÁCH MẠNG TẠI ĐẠI HÔI XII

Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “cần nhận thức đúng và xử lý tốt các nhân tố tạo thành động lực: hài hòa lợi ích; phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy nhân tố con người, vai trò của khoa học - công nghệ; tiếp tục đổi mới tư duy, cơ chế, chính sách, tổ chức..., tạo thành động lực tổng hợp để đổi mới và hội nhập”. Tất cả những nhân tố trên, các kỳ đại hội cũng đã đã được đề cập đến, nhưng ở Đại hội XII, vấn đề này được đề cập trực tiếp, đầy đủ và toàn diện hơn.

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRỞ THÀNH MỘT ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Một là, thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển KTTN. Đây là nhiệm vụ giải pháp hàng đầu nhằm tạo sự đồng thuận cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong toàn xã hội, tạo điều kiện cho KTTN phát triển.
Trong đó, cần tập trung nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội về khuyến khích, tạo mọi điều kiện phát triển KTTN, về chức năng của Nhà nước và thị trường trong nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập.
Hai là, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển KTTN. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN” việc tạo lập “môi trường đầu tư, kinh doanh, khởi nghiệp còn nhiều hạn chế”. Vì vậy, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để KTTN phát triển có ý nghĩa rất quan trọng.
Ba là, hỗ trợ KTTN đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.
Khuyến khích KTTN đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo nhằm nâng cao năng suất lao động; Đẩy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực với hệ thống chính sách, giải pháp đồng bộ.
Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong đó, tập trung xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, tư tưởng chính trị vững vàng, trách nhiệm cao và liêm chính.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đối với việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với KTTN nhưng phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân và doanh nghiệp. Phòng, chống, xoá bỏ mọi biểu hiện của “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, quan hệ “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách đối với KTTN.
Năm là, đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp đối với KTTN
Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng trong khu vực KTTN phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Có giải pháp thực hiện chủ trương phát triển đảng trong khu vực KTTN. Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương của Đảng về phát triển KTTN; bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng trong khu vực KTTN.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong phát triển KTTN. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, làm tốt vai trò tổ chức đại diện, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo, kỹ thuật và tư vấn cho các hội viên./.

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA TRONG QUÂN ĐỘI, TẠO ĐỘNG LỰC ĐỂ HOÀN THÀNH TỐT MỌI NHIỆM VỤ

Với tư tưởng: "lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi", trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đường lối, chủ trương, chính sách về văn hóa của Đảng ta được thể hiện thông qua các chỉ thị, nghị quyết, nhất là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”,… góp phần bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
Quán triệt và thực hiện Chỉ thị 143/CT, ngày 12-5-1992, của Tổng cục Chính trị, việc xây dựng môi trường văn hóa thường xuyên được coi trọng, trở thành nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", tạo sức mạnh tổng hợp và động lực để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Kết quả nổi bật là, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội đi vào nền nếp, đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội. Đáng chú ý là, việc xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội đã gắn kết chặt chẽ với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nên đã làm cho các giá trị văn hóa được lan tỏa, thấm sâu vào mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ và làm ngời sáng hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, tăng cường mối quan hệ quân - dân. Việc xây dựng môi trường văn hóa đã bám sát yêu cầu xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, nâng cao nhận thức chính trị, bồi dưỡng nhân sinh quan, thế giới quan, phẩm chất, đạo đức, văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ; cổ vũ, biểu dương cái tốt, cái đẹp, phê phán và lên án cái xấu, cái ác, cái lạc hậu trong các cơ quan, đơn vị. Qua đó, đã tạo được môi trường văn hóa lành mạnh, giàu tính giáo dục vì mục tiêu xây dựng con người mới trong Quân đội; đẩy mạnh phong trào tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thực hiện nếp sống chính quy. Đã xuất hiện nhiều mô hình đơn vị có môi trường văn hóa tốt, như: "Sẵn sàng chiến đấu cao, gắn với xây dựng điều lệnh tốt, kỷ luật nghiêm"; "Dạy tốt, học tốt"; "Các đồn Biên phòng là điểm sáng văn hóa vùng biên giới"; "Giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm"; "Đẹp nhà, đẹp doanh trại, đẹp trận địa, đẹp tình quân dân". Nhiều cuộc vận động sáng tác, cuộc thi, trại sáng tác được tổ chức, hướng về cơ sở, thu hút đông đảo tác giả trong và ngoài Quân đội tham gia, cho ra đời những tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của bộ đội. Việc bảo đảm sách, báo, phim ảnh, phát thanh, truyền hình, thông tin nội bộ,… được thường xuyên quan tâm chỉ đạo; mô hình xây dựng doanh trại “xanh, sạch, đẹp” được nhân rộng, làm cho khuôn viên của các đơn vị được quy hoạch, chỉnh trang, tạo cảnh quan, môi trường chính quy, thống nhất; các tệ nạn tiêu cực đều được ngăn chặn, loại bỏ. Có thể khẳng định, việc xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội đã làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức, tình cảm và nâng tầm cảm thụ về văn hóa của cán bộ, chiến sĩ. Các mối quan hệ trong đơn vị được xử lý hài hòa, trong sáng, đúng quy định của Quân đội, phù hợp với thuần phong, mỹ tục Việt Nam, luôn thấm đượm tình đồng chí, đồng đội, gắn kết chặt chẽ cá nhân với tập thể, giữa bộ đội với nhân dân, đơn vị với địa phương.
Với nhiều hình thức, nội dung hoạt động phong phú, các đơn vị đã tăng cường công tác dân vận, giao lưu, kết nghĩa, trở thành điểm sáng văn hóa, chỗ dựa tin cậy của nhân dân trên địa bàn. Nét đẹp văn hóa trong Quân đội được tỏa sáng qua các phong trào có ý nghĩa thiết thực, như: "Đền ơn đáp nghĩa", "Xóa đói giảm nghèo", "Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới"; xây dựng Nhà tình nghĩa, Nhà tình thương, Nhà đồng đội và trong các hoạt động giúp nhân dân lao động sản xuất, nâng cao đời sống, cũng như phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai. Quán triệt phương châm "gắn xây với chống", "lấy xây để chống", các đơn vị luôn coi trọng giáo dục, bồi dưỡng nâng cao khả năng tự đề kháng của cán bộ, chiến sĩ và chủ động đấu tranh với những loại hình văn hóa xấu độc, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đồng thời, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Tuy nhiên, nghiêm túc nhìn nhận, trong thực hiện vẫn còn những thiếu sót, khuyết điểm cần khắc phục, như: nhận thức về sự cần thiết phải xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội của một số cấp ủy, chỉ huy chưa sâu sắc, còn mắc bệnh hình thức, chạy theo thành tích, chưa chú ý đến chất lượng, hiệu quả; nội dung, hình thức tiến hành chậm đổi mới, thiếu linh hoạt. Một số cán bộ chuyên trách chưa bám sát thực tiễn, thiếu năng động, sáng tạo; nền nếp hoạt động các loại hình văn hóa chưa thường xuyên.
Những năm tới, nước ta tiếp tục hội nhập kinh tế thế giới sâu rộng, sự giao lưu, giao thoa văn hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến đời sống văn hóa, tinh thần của toàn xã hội. Trong khi đó, mặt trái cơ chế thị trường ảnh hưởng không nhỏ đến các giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống; những biểu hiện thương mại hóa trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, báo chí làm nảy sinh những thị hiếu thấp kém, hạ thấp chức năng giáo dục tư tưởng, thẩm mỹ... Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "Diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, chống phá ta quyết liệt dưới nhiều thủ đoạn, hình thức tinh vi, thâm độc. Do đó, việc tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, văn hóa, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây cũng là yêu cầu cốt lõi của xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội, gắn với Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" của Quốc gia. 
Nguồn: http://tapchiqptd.vn

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

Nhận diện và phê phán quan điểm phủ nhận động lực đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

a. Nhận diện
- Phủ nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam với lý do: giai cấp công nhân Việt Nam nhỏ bé, số lượng ít, chiếm tỷ lệ thấp. Đa số đảng viên Đảng Cộng sản xuất thân từ nông dân.
Đề cao vai trò của trí thức, doanh nhân, phủ nhận khả năng và điều kiện xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Cho rằng, Việt Nam từ một nước phong kiến, đẳng cấp, phường hội…; chưa qua chủ nghĩa tư bản, cho nên thiếu hiểu biết những điều sơ đẳng về dân chủ… Tóm lại, phải qua chủ nghĩa tư bản, qua dân chủ tư sản…
- Phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một động lực - động lực khoa học; tách rời, thậm chí đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tách rời dẫn đến phủ nhận sự cần thiết phải kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của Hồ Chí Minh; tách rời độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Tuyệt đối hóa cực đoan chủ nghĩa dân tộc, lợi ích quốc gia dân tộc.
b. Phê phán
Cần chỉ ra rằng, giai cấp công nhân Việt Nam tuy ra đời muộn, số lượng còn ít (1930: 220.000 công nhân) tỷ lệ thấp 1% dân số, đa số xuất thân từ nông dân, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật thấp. Nhưng 1/ thời đại mới: thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội… 2/ thực tiễn cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX cho thấy chủ nghĩa yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, chủ nghĩa yêu nước theo xu hướng tư sản đều đã thất bại; 3/ Nguyễn Ái Quốc trải qua 10 năm bôn ba khắp các châu lục… 10 năm chuẩn bị trên cả 3 phương diện tư tưởng lý luận, tổ chức cán bộ và đường lối chính trị (tổng cộng 20 năm) đưa tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930; 4/ thực tiễn cách mạng Việt Nam (cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình, cơ chế cũ, lãnh đạo đổi mới…) đủ khẳng định khả năng, điều kiện và thành quả cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Giai cấp công nhân lãnh đạo bằng hệ tư tưởng của mình là chủ nghĩa Mác - Lênin, ở Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; lãnh đạo bằng đường lối chính trị của mình là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và lãnh đạo thông qua đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ở Việt Nam: 1/ giai cấp nông dân tuy đông, chiếm tỷ lệ cao trong dân cư (90% năm 1945; hiện nay 70%...) nhưng không đại biểu phương thức sản xuất tiến bộ; không hệ tư tưởng độc lập…; 2/ tầng lớp trí thức có khả năng phát minh khoa học (xã hội, tự nhiên, kỹ thuật). Một số trí thức có khả năng khái quát hệ tư tưởng của giai cấp dưới hình thái lý luận, nhưng cũng giống nông dân ở chỗ không đại biểu lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất nào, không có hệ tư tưởng riêng, sống trong xã hội nào thì phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội ấy => trí thức chủ nô, trí thức phong kiến, trí thức tư sản, trí thức vô sản (trí thức của giai cấp công nhân); 3/ Tầng lớp doanh nhân Việt Nam trước đây ra đời trong điều kiện một nước thuộc địa; doanh nhân dân tộc yếu, doanh nhân mại bản cấu kết với doanh nhân đế quốc. Tầng lớp doanh nhân ra đời trong thời đại mới: 1/ là kết quả của đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng của giai cấp công nhân; 2/ được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo hành lang pháp lý (Hiến pháp, luật…); 3/ Nhà nước xã hội chủ nghĩa giúp về tài chính; 4/ Tạo điều kiện doanh nhân mở rộng hợp tác quốc tế.
Cần chỉ ra rằng, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ra đời gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; gắn liền với cuộc cách mạng của nhân dân do Đảng lãnh đạo và xác lập, củng cố quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ xã hội chủ nghĩa trở thành mục tiêu và động lực cách mạng Việt Nam. Mọi quan điểm cho rằng chúng ta phải qua giai đoạn cách mạng dân chủ đồng nghĩa với việc phủ nhận dân chủ xã hội chủ nghĩa về bản chất là xây dựng dân chủ tư sản.
Ý kiến cho rằng Bác Hồ đặt tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chứ không phải Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ đó cho rằng Việt Nam phải qua nền Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nền dân chủ, cộng hòa nào? Cộng hòa dân chủ tư sản như Mỹ, Pháp hay Cộng hòa xã hội chủ nghĩa như nước Nga Xô Viết, Liên Xô… Từ 1927, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nước Mỹ, Pháp từng gọi là cộng hòa, dân chủ nhưng trong thì bóc lột công nông, ngoài thì áp bức thuộc địa”. Dân chủ, cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là dân chủ, cộng hòa tư sản.

Cần chỉ ra rằng, trong thời đại mới và thực tiễn lịch sử thế giới và Việt Nam cho thấy độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước gắn với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một chỉnh thể. Mọi sự tách rời, đối lập giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh đều sai lầm.

Thứ Ba, 12 tháng 9, 2017

Sự phát triển tư duy của Đảng ta - động lực phát triển kinh tế xã hội Việt Nam

Sau hơn ba mươi năm đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm phát triển và coi trọng các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Đảng luôn coi trọng sự phát triển của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Đối với kinh tế tư nhân, ngay từ Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị khóa VI (15-7-1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, Đảng đã chủ trương tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế địa bàn, quy mô, ngành nghề mà pháp luật không cấm. Đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 3-2002) Đảng tiếp tục xác định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Đến Đại hội X  của Đảng, kinh tế tư nhân chính thức được xác nhận là một thành phần kinh tế trên cơ sở hợp nhất hai thành phần kinh tế: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân và được xác định rõ: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”. Đại hội đã thông qua một quyết định quan trọng là cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân. Nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân tiếp tục được Đại hội XI phát triển: coi “Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế”, cho đến Đại hội XII, quan điểm đó được nâng lên ở một tầm cao hơn: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế”. Đây là một trong những điểm mới nhất của Văn kiện Đại hội XII. Điều đó thể hiện sự tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế của Đảng để phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế sau 30 năm đổi mới. Đảng khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh việc tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân thông qua hàng loạt các biện pháp, trong đó hoàn thiện cơ chế, chính sách được coi là “chiếc gậy thần” để khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Điểm đột phá chính là Nghị quyết Hội nghị trung ương 5 khóa XII, phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các nội dung của Nghị quyết nếu thực hiện hiệu quả, sẽ khuyến khích phát triển lực lượng kinh tế tư nhân, khơi nguồn cho sự đổi mới, là cơ sở để giải phóng sức sản xuất, sức sáng tạo và phát huy toàn diện vai trò kinh tế tư nhân trong mọi công đoạn của chuỗi giá trị sản xuất. Đồng thời, tạo sức mạnh và động lực để chúng ta hội nhập sâu hơn, khai thác các thành phần kinh tế nhiều tiềm năng tốt hơn, là điều kiện để áp dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, tiến vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.