Hiển thị các bài đăng có nhãn lạm dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lạm dụng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

KHÔNG LẠM DỤNG LÀM BIẾN TƯỚNG TỪ “QUỐC DÂN”

Để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng.

TỪ “QUỐC DÂN” MANG Ý NGHĨA LỚN LAO, TRANG TRỌNG

Quốc dân vốn có nghĩa là “người trong một nước”, “nhân dân trong một quốc gia”. Đây là một từ ngữ mang ý nghĩa chính trị, thể hiện tính trang nghiêm, trang trọng và thường gắn liền với những sự kiện, hoạt động gắn với đời sống chính trị của quốc gia.

Một trong những sự kiện chính trị quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam gắn liền với từ “quốc dân”, đó là ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (Tuyên Quang), dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã tổ chức khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc-Trung-Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào để bàn kế hoạch tổng khởi nghĩa giành chính quyền về nhân dân. Quốc dân Đại hội Tân Trào là tiền thân của Quốc hội Việt Nam - cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân và thể hiện sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Trong nhiều bài viết, bài nói ở những thời điểm quan trọng của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lúc dùng từ “quốc dân”, hay “quốc dân đồng bào” với hàm ý đề cao vị trí, vai trò, sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân trong nước, qua đó khích lệ đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước thương nòi và phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để đánh đuổi thực dân đế quốc, quyết giành độc lập, tự do cho dân tộc. Người từng khẳng định: “Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”.

Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng, khi nói đến từ “quốc dân” là nói đến những vấn đề mang tính quốc gia đại sự, những việc làm, hành động gắn với quy mô, tầm vóc lớn lao nên có sức tác động, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội.

ĐẾN LẠM DỤNG TỪ “QUỐC DÂN” TRÀN LAN, BIẾN TƯỚNG

Tuy vậy, thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội xuất hiện khá nhiều từ “quốc dân” gắn vào đối tượng cụ thể, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, giải trí, thể thao... gặt hái được một số thành tựu nào đó trong nghề nghiệp và thu hút sự quan tâm của công chúng. Ví như: “Mẹ chồng quốc dân” nói về vai diễn ấn tượng của một nữ diễn viên đóng vai mẹ chồng trong một bộ phim truyền hình dài tập. “Ông bố quốc dân” nói về một nam diễn viên đã có những cử chỉ chăm lo hết mực dành cho đứa con trai kém may mắn. “MC quốc dân” nói về một người dẫn chương trình thường “chiếm sóng” ở nhiều gameshow truyền hình. “Cầu thủ quốc dân” nói về một cầu thủ bóng đá mới nổi trong làng túc cầu Việt Nam. “Hoa hậu quốc dân” nói về một cô hoa hậu là người dân tộc thiểu số hay xuất hiện ở nhiều sự kiện văn hóa, giải trí...

Bên cạnh đó, từ “quốc dân” cũng được gán với những người có hành vi, cử chỉ, ngoại hình ít nhiều tạo sức ảnh hưởng trong cộng đồng, dù đôi khi đó chỉ là hiện tượng nhất thời, ví như: “thầy giáo quốc dân”, “bà vợ quốc dân”, “ông chồng quốc dân”, “bạn trai quốc dân”, “em gái quốc dân”...

Khách quan mà nói, việc dùng từ “quốc dân” gắn với những con người có cử chỉ, hành động, việc làm tích cực, nhân văn, lan tỏa những điều tốt đẹp cho cộng đồng, đất nước cũng không ngoài mục đích nhân lên những giá trị tiến bộ trong cuộc sống, xã hội. Tuy nhiên, sự lạm dụng từ “quốc dân” một cách thái quá, hay gán ghép không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng sẽ khiến cho không ít người được tung hô rất dễ tự ảo tưởng về bản thân và đó là “mảnh đất màu mỡ” dung túng cho “bệnh ngôi sao” như một “vết dầu loang” làm vẩn đục môi trường văn hóa xã hội và đời sống nghệ thuật, giải trí. Đấy là chưa kể một số người nào đó có những những hành vi tiêu cực, sai trái, nhố nhăng, phản cảm được nhiều người biết đến cũng được báo chí, truyền thông ghép với từ “quốc dân”, ví như: “tên trộm quốc dân”, “gã nghiện rượu quốc dân”, “cô ả hung dữ quốc dân”, “tay ăn chơi quốc dân”... Sự gán ghép này vừa gượng gạo, ngô nghê, vừa làm “ô nhiễm” sự trong sáng của tiếng Việt.

Trên thực tế, không hẳn ai cũng thoải mái với việc được gán ghép với từ “quốc dân”. Mới đây, một hoa hậu khá tên tuổi từng lên tiếng đề nghị báo chí, truyền thông không gọi cô là “hoa hậu quốc dân”. Bởi cô thẳng thẳn bày tỏ, từ “quốc dân” mang ý nghĩa lớn lao, trang trọng, nên cô không dám nhận mình là “hoa hậu quốc dân”, mà ngược lại chỉ muốn tự nhận mình là “hoa hậu bình dân” cho thân mật, dân giã, phù hợp với tính cách mộc mạc, giản dị vốn có của cô.

Khi nói đến từ có yếu tố “quốc” (Tổ quốc, quốc gia, quốc dân, quốc kỳ, quốc khánh, quốc thể, quốc lễ...) đều là những từ mang ý nghĩa chính danh, trang trọng, chuẩn mực. Vì vậy, để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng./.

PHÚC NỘI

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

NHẬN DIỆN BIỂU HIỆN LẠM DỤNG QUYỀN LỰC NHÂN DÂN

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”… Thế nhưng, trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đang phải đối mặt với những lực cản, trong đó có biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân - thực chất là biến quyền lực tập thể, quyền lực nhân dân thành quyền lực cá nhân.

Thời gian qua, vẫn còn một số cán bộ thuộc các bộ, ngành, địa phương khi xây dựng và đề xuất dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật thường đưa vào những điều khoản có lợi cho lĩnh vực mình quản lý, nhất là những lĩnh vực có điều kiện để trục lợi về kinh tế và phục vụ lợi ích nhóm. Cử tri rất dễ nhận ra biểu hiện này khi một số đại biểu còn vận động hành lang (lobby) để hợp pháp hóa một số ngành nghề, lĩnh vực nhạy cảm trái với thuần phong, đạo đức dân tộc, trái với giá trị của chủ nghĩa xã hội và không đồng ý thông qua Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia! Thậm chí có đại biểu nhân danh việc phản ánh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân đã tuyệt đối hóa, thổi phồng những khó khăn, bức xúc của đơn vị, địa phương và của cử tri nơi mình công tác để được ưu tiên giải quyết trước hoặc “tô hồng” tình hình đơn vị, ngành, địa phương mình để tạo uy tín giả cho bản thân, cho nhóm lợi ích...

Trong thực thi công vụ, biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân thể hiện ở việc để bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành, địa phương mình, một số ít cán bộ, đảng viên giữ vị trí quản lý đã chậm cắt giảm những thủ tục hành chính gây phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp. Mặt khác, lại “đẻ” thêm các quy định, rào cản mới làm cho nhân dân và doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ công... Cũng có trường hợp cán bộ đi cơ sở, tranh thủ phát biểu, úy lạo tinh thần cấp dưới, nói bằng giọng “dân túy” đánh vào tâm lý vốn đang bức xúc của một bộ phận người dân, doanh nghiệp để vận động hành lang, tranh thủ sự ủng hộ. Trong khi đó lại có người sẵn sàng “xắn tay vớt bèo”, làm sạch môi trường “trống dong, cờ mở”, kéo theo hàng loạt các phóng viên báo chí để đánh bóng tên tuổi…

Tất cả đều để mị dân, tạo uy tín giả và để khỏa lấp đi những hạn chế về phẩm chất, năng lực cũng như những sai phạm trước đó của bản thân…

Trong công tác cán bộ, vì tư tưởng cục bộ, bản vị, một số cán bộ nhân danh sự tín nhiệm của nhân dân địa phương đối với mình, tìm mọi cách để “kéo dài” vị trí công tác nhằm mục đích đưa người nhà, người thân vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp hay trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Không những vậy, họ tìm cách để gây khó khăn, cản trở cán bộ từ địa phương, ban, ngành và đơn vị khác được các cấp có thẩm quyền điều động đến. Có cán bộ chủ trì nhân danh tập thể hoặc là áp đặt ý kiến của cá nhân bắt tập thể phải thông qua các quyết định thiếu dân chủ về công tác cán bộ. Vì vậy, trong các kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với các vụ việc nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng vừa qua đều chỉ ra khuyết điểm là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của cán bộ chủ chốt và cấp ủy.

Trong giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, một số “công bộc”, “đầy tớ” của dân, chẳng những không “lấy dân làm gốc” mà còn “lấy gốc làm thớt” khi kê khai khống thiệt hại của bà con lúc giáp hạt, thiên tai, dịch bệnh để trục lợi các gói an sinh xã hội của Nhà nước. Qua đó làm méo mó chính sách nhân văn, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta, gây bức xúc trong nhân dân. Đó còn là những cán bộ hứa vô tội vạ, khi thực hiện quyền vận động bầu cử nhưng khi trúng cử thì "thất hứa"...

Những biểu hiện trên thực chất là tha hóa quyền lực, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân bằng hình thức này hay hình thức khác. Quyền lực đó được nhân dân ủy quyền cho đội ngũ cán bộ để bảo đảm quyền làm chủ của mình theo luật định. Thế nhưng, họ lại bị chính người được ủy quyền đó biến quyền lực nhân dân thành quyền lực cá nhân và sử dụng sai mục đích, làm biến dạng bản chất của chế độ dân chủ ở ta. Đó là trở lực lớn để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Các biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân trong đội ngũ cán bộ được nhận diện ở trên không phải là phổ biến, là bản chất của chế độ ta mà chỉ rơi vào một số cán bộ trong hệ thống chính trị các cấp và ở một số lĩnh vực nhất định. Mặc dù chỉ là hiện tượng, nhưng nếu không nhận diện đúng và trúng để kịp thời có phương cách khắc phục thì rất dễ để xảy ra vi phạm quyền làm chủ của nhân dân trên diện rộng. Vì vậy, từ thực tiễn công cuộc đổi mới, nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, một trong những bài học kinh nghiệm quý báu mà Đảng đúc rút là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Bài học đó vẫn vẹn nguyên giá trị trong thời điểm hiện nay cũng như lâu dài.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

NGĂN NGỪA LẠM DỤNG QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

Quyền tự do ngôn luận, báo chí và quyền tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản, quan trọng của cá nhân được quy định trong nhiều công ước quốc tế về quyền con người (QCN) và đã được quy định trong các Hiến pháp Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp 2013. Thế nhưng cách đây không lâu trong dịp đầu năm 2018, trên mạng Dân luận và nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây đã tán phát “Bản lên tiếng về quyền được nói và nghe sự thật”.
Văn bản mạng này do những tổ chức xã hội mạng phi pháp và một số cá nhân tự xem mình người “bất đồng chính kiến” ký. Điều đáng chú ý là có nhiều mạng và cá nhân ở nước ngoài, như Hoa Kỳ, Canada, Australia… cũng tham gia. “Bản lên tiếng” đưa ra một số vụ án, trong đó những bị can, bị cáo đã sử dụng mạng xã hội, nhất là mạng Facebook làm minh chứng.
Văn bản ảo này đòi hủy bỏ nhiều điều luật trong Chương XI- Về các tội phạm an ninh quốc gia, như Điều 79 (Tội lật đổ chính quyền nhân dân), Điều 88, Điều 258 Bộ luật Hình 1999 (vẫn được giữ lại trong Bộ luật Hình sự 2015). Họ còn đòi “trả lại toàn bộ sự thật” liên quan đến “biến cố Mậu Thân, 1968”.
Pháp luật nước ta cũng như các quốc gia, quyền bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ. Hiến pháp và nhiều bộ luật nước ta đã quy định rõ ràng các quyền tự do ngôn luận, báo chí, kể cả sử dụng mạng xã hội, và quyền tiếp cận thông tin.
Theo tổ chức nghiên cứu về mạng xã hội quốc tế Next Web, Việt Nam nằm trong “top 10” quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới. Số người có tài khoản trên Facebook là 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu. Người dân có thể đăng tải lên mạng “Upload” các video/clip hoàn toàn không bị cấm đoán nếu không vi phạm pháp luật. Vậy vì sao trong số 64 triệu tài khoản trên Facebook của người Việt chỉ có một số rất ít người, như Hồ Văn Hải, Vũ Quang Thuận, Hoàng Đức Bình… bị ra tòa?
Đó là vì họ đã vi phạm pháp luật. Chẳng hạn Hồ Văn Hải với trang blog và tài khoản facebook đã đăng nhiều bài viết bôi nhọ, xuyên tạc đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước; Vũ Quang Thuận và Nguyễn Văn Điển đã đăng tải nhiều video clip lên mạng Internet, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật.
Hoàng Đức Bình phạm tội “Chống người thi hành công vụ”; “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, quy định tại Điều 257, 258 Bộ luật Hình sự (1999) trong vụ “biển tình bất bạo động” đòi đuổi Formosa, tụ tập động người cố tình gây ách tắc quốc lộ 1A đoạn qua Hà Tĩnh, Nghệ An vào tháng 5-2017.
Còn về cái gọi là “biến cố Mậu Thân” thì sự thật là: Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nằm trong chiến lược quân sự - chính trị tạo ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Cuộc tiến công này đã đập tan ý chí giành chiến thắng của đế quốc, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, tạo thế và lực để quân dân ta giành toàn thắng vào năm 1975.
Tôn trọng và bảo đảm QCN thuộc bản chất và là một mục mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta. Cho đến nay, trong thời kỳ đổi mới, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các QCN được được tôn trọng và bảo đảm trên thực tế.
Lần đầu tiên Hiến pháp 2013 đã giành cả một chương (Chương II ) quy định về “QCN, quyền và nghĩa vụ công dân”. Chương này không chỉ quy định đầy đủ các QCN, quyền và nghĩa vụ công dân mà còn quy định những nguyên tắc cơ bản về QCN. Đó là: 1) Nguyên tắc về mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân, trong đó Nhà nước có nghĩa vụ, người dân là chủ thể của quyền; 2) nguyên tắc hạn chế quyền (chẳng hạn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo… (Điều 24); quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình… (Điều 25) có thể bị hạn chế “vì lợi ích an ninh quốc gia, trật tự xã hội…”. Cần lưu ý rằng, quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tiếp cận thông tin…” là những quyền bị hạn chế.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến hết năm 2017, cả nước có 849 cơ quan báo chí, tạp chí in, trong đó có 86 báo Trung ương, 99 báo địa phương, 664 tạp chí và 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, 5 đơn vị hoạt động truyền hình với tổng số kênh phát thanh, truyền hình trong nước được cấp phép là 281 kênh; 195 cơ quan báo chí điện tử đã được cấp phép, trong đó có 171 cơ quan báo chí, đài, tạp chí thực hiện loại hình báo chí điện tử; 178 giấy phép được thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp được cấp cho các cơ quan báo chí in, phát thanh, truyền hình để khai thác thế mạnh của loại hình thông tin hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin trong tình hình mới, nhất là khi thông tin trên mạng xã hội ngày càng có ảnh hưởng đến xã hội.  
Năm 2016, Quốc hội ta đã thông qua Luật tiếp cận thông tin (LTCTT). Đây là một đạo luật cụ thể hóa về quyền tự do ngôn luận, báo chí được quy định trong Hiến pháp 2013. Theo quy định của LTCTT thì quyền tiếp cận thông tin là một quyền có thể bị hạn chế hoặc là quyền có điều kiện. Những quyền bị hạn chế chẳng hạn: “Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, ...”; nhữngthông tin được tiếp cận có điều kiện: “Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận nếu chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý”... Thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, nếu được người đó đồng ý” (Điều 7).
Điều 11 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm: “Cố ý cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, trì hoãn việc cung cấp thông tin; hủy hoại thông tin; làm giả thông tin… Cung cấp hoặc sử dụng thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, gây kỳ thị về giới, gây thiệt hại về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức...”
Trước tình hình nhiều cá nhân, tổ chức mạng sử dụng mạng xã hội, internet vi phạm quyền, lợi ích quốc gia, quyền, lợi ích cá nhân, Bộ luật Hình sự 2015 đã có những quy định bảo vệ các quyền này. Điều 288 về “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” quy định, người nào thực hiện hành vi vi  phạm pháp luật nhằm thu lợi bất chính thì bị phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù cao nhất đến 7 năm.
Trong thời gian qua, không ít người cho rằng, mọi người đều có quyền sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng xã hội, xem đó là một quyền tuyệt đối không có giới hạn cả những thông tin sai sự thật, thông tin bịa đặt... lên mạng mà không phải chịu trách nhiệm gì. “Bản lên tiếng” nói trên là một ví dụ.
Hơn lúc nào hết cán bộ, đảng viên và người dân cần hiểu rõ, nắm vững các quy định của pháp luật về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin; nâng cao tinh thần cảnh giác với những thủ đoạn tung tin ảo trên mạng xã hội, tránh tình trạng vô tình trở thành người vi phạm pháp luật.

Nguồn: cand.com.vn