Hiển thị các bài đăng có nhãn phù hợp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phù hợp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

KHÔNG LẠM DỤNG LÀM BIẾN TƯỚNG TỪ “QUỐC DÂN”

Để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng.

TỪ “QUỐC DÂN” MANG Ý NGHĨA LỚN LAO, TRANG TRỌNG

Quốc dân vốn có nghĩa là “người trong một nước”, “nhân dân trong một quốc gia”. Đây là một từ ngữ mang ý nghĩa chính trị, thể hiện tính trang nghiêm, trang trọng và thường gắn liền với những sự kiện, hoạt động gắn với đời sống chính trị của quốc gia.

Một trong những sự kiện chính trị quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam gắn liền với từ “quốc dân”, đó là ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (Tuyên Quang), dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã tổ chức khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc-Trung-Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào để bàn kế hoạch tổng khởi nghĩa giành chính quyền về nhân dân. Quốc dân Đại hội Tân Trào là tiền thân của Quốc hội Việt Nam - cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân và thể hiện sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Trong nhiều bài viết, bài nói ở những thời điểm quan trọng của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lúc dùng từ “quốc dân”, hay “quốc dân đồng bào” với hàm ý đề cao vị trí, vai trò, sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân trong nước, qua đó khích lệ đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước thương nòi và phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để đánh đuổi thực dân đế quốc, quyết giành độc lập, tự do cho dân tộc. Người từng khẳng định: “Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”.

Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng, khi nói đến từ “quốc dân” là nói đến những vấn đề mang tính quốc gia đại sự, những việc làm, hành động gắn với quy mô, tầm vóc lớn lao nên có sức tác động, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội.

ĐẾN LẠM DỤNG TỪ “QUỐC DÂN” TRÀN LAN, BIẾN TƯỚNG

Tuy vậy, thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội xuất hiện khá nhiều từ “quốc dân” gắn vào đối tượng cụ thể, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, giải trí, thể thao... gặt hái được một số thành tựu nào đó trong nghề nghiệp và thu hút sự quan tâm của công chúng. Ví như: “Mẹ chồng quốc dân” nói về vai diễn ấn tượng của một nữ diễn viên đóng vai mẹ chồng trong một bộ phim truyền hình dài tập. “Ông bố quốc dân” nói về một nam diễn viên đã có những cử chỉ chăm lo hết mực dành cho đứa con trai kém may mắn. “MC quốc dân” nói về một người dẫn chương trình thường “chiếm sóng” ở nhiều gameshow truyền hình. “Cầu thủ quốc dân” nói về một cầu thủ bóng đá mới nổi trong làng túc cầu Việt Nam. “Hoa hậu quốc dân” nói về một cô hoa hậu là người dân tộc thiểu số hay xuất hiện ở nhiều sự kiện văn hóa, giải trí...

Bên cạnh đó, từ “quốc dân” cũng được gán với những người có hành vi, cử chỉ, ngoại hình ít nhiều tạo sức ảnh hưởng trong cộng đồng, dù đôi khi đó chỉ là hiện tượng nhất thời, ví như: “thầy giáo quốc dân”, “bà vợ quốc dân”, “ông chồng quốc dân”, “bạn trai quốc dân”, “em gái quốc dân”...

Khách quan mà nói, việc dùng từ “quốc dân” gắn với những con người có cử chỉ, hành động, việc làm tích cực, nhân văn, lan tỏa những điều tốt đẹp cho cộng đồng, đất nước cũng không ngoài mục đích nhân lên những giá trị tiến bộ trong cuộc sống, xã hội. Tuy nhiên, sự lạm dụng từ “quốc dân” một cách thái quá, hay gán ghép không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng sẽ khiến cho không ít người được tung hô rất dễ tự ảo tưởng về bản thân và đó là “mảnh đất màu mỡ” dung túng cho “bệnh ngôi sao” như một “vết dầu loang” làm vẩn đục môi trường văn hóa xã hội và đời sống nghệ thuật, giải trí. Đấy là chưa kể một số người nào đó có những những hành vi tiêu cực, sai trái, nhố nhăng, phản cảm được nhiều người biết đến cũng được báo chí, truyền thông ghép với từ “quốc dân”, ví như: “tên trộm quốc dân”, “gã nghiện rượu quốc dân”, “cô ả hung dữ quốc dân”, “tay ăn chơi quốc dân”... Sự gán ghép này vừa gượng gạo, ngô nghê, vừa làm “ô nhiễm” sự trong sáng của tiếng Việt.

Trên thực tế, không hẳn ai cũng thoải mái với việc được gán ghép với từ “quốc dân”. Mới đây, một hoa hậu khá tên tuổi từng lên tiếng đề nghị báo chí, truyền thông không gọi cô là “hoa hậu quốc dân”. Bởi cô thẳng thẳn bày tỏ, từ “quốc dân” mang ý nghĩa lớn lao, trang trọng, nên cô không dám nhận mình là “hoa hậu quốc dân”, mà ngược lại chỉ muốn tự nhận mình là “hoa hậu bình dân” cho thân mật, dân giã, phù hợp với tính cách mộc mạc, giản dị vốn có của cô.

Khi nói đến từ có yếu tố “quốc” (Tổ quốc, quốc gia, quốc dân, quốc kỳ, quốc khánh, quốc thể, quốc lễ...) đều là những từ mang ý nghĩa chính danh, trang trọng, chuẩn mực. Vì vậy, để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng./.

PHÚC NỘI

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC CỦA HỒ CHÍ MINH ĐÃ “LỖI THỜI”, KHÔNG CÒN PHÙ HỢP

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”, “khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại (?!)...

Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trải qua hơn 92 năm từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh;... là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người đã tổng hợp những giá trị văn hóa đạo đức của nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới về tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc. Bạn bè năm châu khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những giá trị về tư tưởng, lương tri và phẩm giá làm người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Giá trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân loại.

Sinh thời, Người từng nói: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”. Đúng như nhà nghiên cứu Hélène Tourmaire đã khẳng định: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lê-nin và tình cảm của người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”. Giá trị đạo đức Hồ Chí Minh không phải là con số cộng cơ học của những giá trị trên, mà là sự tổng hòa, hội tụ, hòa hợp tự nhiên tất cả lại để làm giàu trí tuệ và phẩm chất của mình. Đó là một giá trị đạo đức phổ quát mà nhân loại đang nỗ lực xây dựng, phát huy, tôn vinh và học hỏi để nâng tầm thời đại và tiến bộ trong xã hội văn minh hiện đại ngày nay./.

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2022

“TAM QUYỀN PHÂN LẬP” KHÔNG PHÙ HỢP VỚI THỰC TIỄN CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

Lịch sử lập hiến Việt Nam cho thấy, qua 5 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) nhân dân Việt Nam không chỉ tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, kế thừa những thành tựu của lịch sử lập hiến thế giới mà còn vận dụng phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trên thực tế, đây không phải là lần đầu tiên có những ý kiến đề nghị: “Cần thực hiện tam quyền phân lập trong tổ chức quyền lực nhà nước”. Trên thực tế, ở Việt Nam không theo mô hình nhà nước tư sản, nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vẫn luôn kiên định quan điểm về việc tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Điều này xuất phát từ những lý do sau:

Thứ nhất, tư duy cơ giới- nền tảng của thuyết tam quyền phân lập không phù hợp với truyền thống văn hóa và tâm lý dân tộc Việt Nam.

Suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, lịch sử đã chứng minh: Việt nam là dân tộc luôn đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Cách đây 726 năm (năm 1288) dân tộc ta dã đoàn kết một lòng “sát thát”, đánh tan quân Nguyên-Mông, chấm dứt thời kỳ đô hộ của quân xâm lược phương Bắc. Sau này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, các lực lượng cách mạng, cả dân tộc đã dồn sức cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, một lần nữa chứng minh cho tinh thần đoàn kết một lòng làm nên sức mạnh của dân tộc ta. Khi đất nước tiến hành đổi mới, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách hòng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng phá hoại khối đại đoàn kết, kích động, chống đối, nhằm gây mất ổn định chính trị- xã hội, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta, nhưng Đảng và Nhà nước ta tiếp tục phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững độc lập, chủ quyền của quốc gia.

Có thể nói, tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc, thống nhất vì mục tiêu chung đã trở thành giá trị văn hóa, ăn sâu trong tiềm thức và lối sống của dân tộc ta. Chính vì lẽ đó, phương pháp tư duy cơ giới- nhìn nhận mọi việc theo hướng tách biệt, không có mối liên hệ với nhau, “kiềm chế- đối trọng tuyệt đối” của thuyết tam quyền phân lập đã không phù hợp với truyền thống văn hóa và tâm lý của dân tộc ta, không được dân tộc ta chấp nhận.

Thứ hai, khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” là phù hợp với thể chế chính trị Việt Nam.

Kế thừa những hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền, Đảng ta đã khẳng định nhất quán quan điểm: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó tiếp tục khẳng định “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do nhân dân và vì nhân dân”; tổ chức và hoạt động của nó dựa trên một trong những nguyên tắc nền tảng: “Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Có thể nói, nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của nhà nước pháp quyền XHCN: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Theo đó, nhân dân thông qua lập hiến mà trao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ rằng nhân dân không trao hết quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, Chính phủ và cơ quan tư pháp. Theo điều 84 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và điều 69 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, nhân dân chỉ giao cho Quốc hội 3 nhóm quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao; quyền hạn và nghĩa vụ về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Thực tiễn ở nước ta chỉ ra rằng, quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là ở nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền. Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhât trước tiên, là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước. Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta đã chỉ ra. Bên cạnh đó, quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất nói trên còn là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm trước nhân dân, hạn chế sự dự dẫm, ỷ lai trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà nhân dân đã ủy quyền. Đó cũng là cơ sở để không chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất là quyền lập pháp và quyền hành pháp. Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài là nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước nên tất yếu nhân dân phải phân công và kiểm soát quyền lực đó. Do đó, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ ở nước ta (sửa đôi, bổ sung năm 2011) và điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ hơn sự “phân công” và xác định kiểm soát quyền lực nhà nước là một nguyên tắc trong tổ chức quyền lực ở nước ta.

Như vậy, mặc dù nhà nước ta không thừa nhận cơ chế tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước nhưng Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) đã thể hiện rõ nội dung “ba quyền được xác lập”, bằng việc quy định rõ các cơ quan nhà nước thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên thực tế. Sự phân công rành mạch ba quyền này không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyên nghiệp hóa các quyền mà còn là yếu tố đầu tiên tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả giữa các cơ quan trong bộ máy Nhà nước. Thực tiễn đã cho thấy, chỉ trên cơ sở phân công một cách đúng đắn, hợp lý, minh bạch, rõ ràng giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để cho các quyền này có điều kiện thực hiện đầy đủ và đúng đắn ý nguyện của nhân dân đã được ghi nhận thành các quy định của Hiến pháp và các đạo luật thì việc kiểm soát quyền lực nhà nước mối có hiệu quả.  Ngoài ra, nhằm nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của kiểm soát quyền lực trên thực tiễn, bên cạnh việc quy định rõ sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) còn khẳng định cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Và theo đó, đã quy định một chương riêng về các thiết chế hiến định độc lập, bao gồm ba cơ quan: Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng Bầu cử Quốc gia và Kiểm toán Nhà nước. Việc ghi nhận các thiết chế hiến định độc lập này, một lần nữa cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện triệt để nguyên tắc kiểm soát nhà nước hiện nay.

Có thể nói, mục tiêu cuối cùng của quan điểm thống nhất quyền lực nhà nước là phục vụ nhân dân. Đây là tính ưu việt tuyệt đối của Hiến pháp Việt Nam do thiết chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan quyền lực đem lại. Cả hệ thống chính trị Việt Nam: từ Đảng, Nhà nước cho đến Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, xã hội… với chức năng, quyền hạn, mối quan hệ chính trị, xã hội, pháp lý của minh đều nằm trong nội hàm của nhân dân, hướng tâm phục vụ nhân dân; thực hiện “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” chứ không phải để phân tách, phân giã quyền lực của nhân dân như các thiết chế tam quyền phân lập. Trong bối cảnh một Đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo hệ thống chính trị, dựa trên nền tảng là khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, mục đích của việc giành chính quyền không phải là giành quyền thống trị riêng cho minh, mà để giải phóng toàn xã hội, đưa người lao động, nhân dân lên địa vị làm chủ “xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”… thì quan điểm về “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập, hành pháp và tư pháp” càng được thực tiễn chức minh là đúng đắn, phù hợp với thể chế chính trị Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, vẫn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ lập pháp, hành pháp và tư pháp. Với nhân thức chủ đạo trong tổ chức quyền lực là phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nên chính phủ là cơ quan hành pháp vẫn thực hiện cả chức năng lập pháp và tư pháp như soạn thảo luật, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, xử lý vi phạm hành chính… Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp (xét xử) vẫn được giao thực hiện quyền lập pháp (như trình các dự án luật, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật) và có cả quyền hành pháp (như việc bổ nhiệm thẩm phán…). Quốc hội- cơ quan lập pháp vẫn thực hiện một số nhiệm vụ thuộc chức năng hành pháp và tư pháp (thể hiện trong việc thực hiện một số quyết định thuộc thẩm quyền của hành pháp và tư pháp)… Sự phân công không rõ ràng, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ như trên đã dẫn đến việc phối hợp khó khăn, kém hiệu quả và khó kiểm soát lẫn nhau trong nội bộ các cơ quan, khó cho giám sát của nhân dân. Do vậy, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) đã có những quy định cụ thể nhằm khắc phục tình trạng nêu trên.

Tóm lại, xuất phát từ nguồn gốc tư tưởng, những ưu điểm, hạn chế của học thuyết tam quyền phân lập, xu hướng thống nhất quyền lực ở các nước tư bản, từ thực tiễn thể chế chính trị Việt Nam và truyền thống văn hóa, tâm lý dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã không lựa chọn thể chế “Tam quyền phân lập” trong tổ chức quyền lực nhà nước của mình là phù hợp. Tư tưởng về sự thống nhất quyền lực, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đã được khẳng định, thể hiện nhất quán trong đường lối, quan điểm và thực tiễn xây dựng mô hình thể chế chính trị Việt Nam. Đây là một trong những quan điểm, đường lối thể hiện sự vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta đối với những hạt nhân hợp lý của thuyết Tam quyền phân lập. Trong giai đoạn hiện nay, tư tưởng này đã và đang phát huy được vai trò của minh trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, trở thành nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách, xây dựng bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ THỜI ĐẠI

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và của Nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xử thế phát triển của thời đại.

Thực tiễn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mang đặc thù riêng từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành độc lập đã bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn đúng đắn, mang tính thời đại, phù hợp với xu thế và thực tiễn lịch sử.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh trên thế giới chủ nghĩa tư bản đang phát triển chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân lao động chính quốc. Lúc này với Liên Xô, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt. Trong bối cảnh ấy, ngay từ khi ra đời trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta đã xác định, làm cách mạng tư sản dân quyền giành độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa cộng sản, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sự lựa chọn này phù hợp với xu thế phát triển và mang tính thời đại sâu sắc.

Năm 1945, sau khi giành độc lập, Đảng ta lựa chọn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Đây là sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp xu thế thời đại và yêu cầu thực tiễn. Bởi sau chiến tranh thế giới thứ 2, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã hình thành và phát triển. Sự lựa chọn đúng đắn ấy đã tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ “9 năm làm một Điện Biên” chống thực dân Pháp và 21 năm kháng chiến “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Việt Nam đã trở thành tấm gương mẫu mực trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự độc đáo, sáng tạo về đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự do của dân tộc.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là đường lối cơ bản, xuyên suốt và nhất quán của cách mạng Việt Nam, khẳng định sự đúng đắn của Đảng và Bác Hồ trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu thế thời đại, khẳng định bản lĩnh, sự sáng tạo của Đảng trong lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mang đặc thù riêng của dân tộc Việt Nam.

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2020

NIỀM TIN VỮNG CHẮC VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Nước ta quá độ lên CNXH tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước, nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, không chỉ có thời cơ mà còn có cả những thách thức, những nguy cơ. Trong hợp tác kinh tế với các nước, nhất là với các nước tư bản phát triển, là những trung tâm kinh tế, kỹ thuật hùng mạnh, họ có thể lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để gây sức ép đối với chúng ta, nhất là trong những lúc chúng ta gặp khó khăn, buộc chúng ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho họ, hòng lái chúng ta đi chệch khỏi định hướng XHCN. Mặc dù hòa bình, hợp tác, phát triển là xu hướng của thời đại nhưng còn một xu hướng khác đối lập là xu hướng cường quyền, áp đặt. Mưu toan của các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang thể hiện trong các điểm nóng trên nhiều khu vực của thế giới, đang là những mưu toan độc chiếm các vùng biển đảo, xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước khác.

Đó là những thách thức, những nguy cơ mà chúng ta cần có sự nhận thức sâu sắc và tỉnh táo, không một chút mơ hồ, mất cảnh giác, để có những chủ trương, biện pháp ngăn ngừa, đối phó hữu hiệu. Chúng ta thực hiện phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc về mục tiêu chiến lược và mềm dẻo linh hoạt về sách lược. Đấu tranh không phải để phá vỡ hợp tác mà để phát triển sự hợp tác. Phải biết khéo tận dụng thời cơ, tranh thủ quan hệ với các nước lớn trong xu hướng đa cực hóa để mở rộng sự hợp tác vừa có lợi, vừa bảo vệ được mình và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Một vấn đề nữa cũng không kém phần quan trọng là khi nước ta hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, chúng ta cũng chịu sự tác động hai chiều tích cực và tiêu cực đến kinh tế của nước ta. Tác động tích cực khi kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ổn định phát triển, tác động tiêu cực khi kinh tế thế giới và kinh tế khu vực rơi vào trì trệ khủng hoảng. Chúng ta cần có chính sách sử dụng tốt mặt tích cực và ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực, giữ cho nền kinh tế nước ta ổn định và phát triển. Đây là bài học thực tế đã xử lý trước những tác động tiêu cực của cơn khủng hoảng tài chính-tiền tệ và khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới trong thời gian qua.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ TBCN theo quan điểm của V.I.Lênin, người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; nhất định thực hiện được mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

TÍNH HAI MẶT CỦA LIÊN MINH QUÂN SỰ

“Liên minh quân sự là sự liên kết hoạt động quân sự giữa hai hoặc nhiều nước hay tập đoàn chính trị trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích. Tùy thuộc vào mục đích chính trị, liên minh quân sự có thể là tiến bộ hay phản động, tự vệ hay xâm lược”. Theo đó có thể thấy: (1). Liên minh quân sự tất yếu không chỉ hỗ trợ và ràng buộc nhau về quân sự mà còn cả chính trị và kinh tế; (2). Liên minh quân sự phải dựa trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích, trước hết là phải chấp nhận các điều kiện có đi, có lại về chính trị, kinh tế, nhiều khi là cả chủ quyền quốc gia; (3). Tùy theo mục đích chính trị, kinh tế, “lợi lộc” đến đâu mà các nước liên minh trước sau sẽ bộc lộ bản chất tiến bộ - phản động, tự vệ - xâm lược, chính nghĩa - phi nghĩa, vụ lợi - cùng có lợi.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2018

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM: VIỆT NAM ĐI THEO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN MỚI GIÀU CÓ VÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI

Trong thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến sự ra đời, tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Mặc dù gặp phải sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, song chủ nghĩa xã hội hiện thực đã vượt lên trên những khó khăn, thử thách và đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực; đồng thời đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển của lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đã làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào khủng hoảng và tạm thời thoái trào; song những thành tựu mà chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đạt được trên thực tế là không thể phủ nhận.
Kể từ đó đến nay, chủ nghĩa xã hội hiện thực luôn bị các thế lực thù địch, phản động và chủ nghĩa cơ hội - xét lại ra sức công kích, xuyên tạc. Đáng chú ý là không chỉ các lực lượng đối lập mà ngay trong hàng ngũ những người cộng sản cũng có không ít người muốn phủ định học thuyết Mác-Lênin trên các vấn đề thời đại hiện nay, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ... Những biến cố to lớn của lịch sử cũng đã tác động đến tiến trình cách mạng Việt Nam, làm cho một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên bi quan, giao động và cho rằng: “Đi theo chủ nghĩa tư bản, Việt Nam mới giàu có và phù hợp với xu thế của thời đại”. Vậy, đây là một cách nhìn thực tế, hay chỉ là sự mơ hồ, thiển cận về lý luận và ảo tưởng trước những hào nhoáng bên ngoài của chủ nghĩa tư bản hiện đại?
Để không rơi vào trạng thái mập mờ, bấp bênh về tư tưởng, lý luận và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm phản động, sai trái của các thế lực thù địch về các vấn đề trên, cần phải nắm vững một số nội dung cơ bản là: Phải luôn nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu trong hơn 30 năm đổi mới đã khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn.
Việc giành cho được độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” luôn là khát vọng và hành động cách mạng của mọi người dân Việt Nam trong nhiều thế kỷ qua. Kể từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng đến nay, những khát vọng ấy đã từng bước được hiện thực hóa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, với thái độ khách quan, nhìn thẳng vào thực tế, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, trong xã hội hiện nay còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, hối lộ, làm giàu bất chính, thu vén cho gia đình, dòng họ, địa phương, bạn bè thân hữu… Trong khi đó, đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nếu không khắc phục kịp thời những vấn đề trên thì tất yếu sẽ dẫn đến nhiều cái nhìn lệch lạc, tiêu cực, thiếu thiện chí về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT LỊCH SỬ CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ “ĐI VÀO VẾT XE ĐỔ CỦA LIÊN XÔ”

Trong thời gian vừa qua lợi dụng sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cùng những khó khăn mà Đảng và nhân dân ta gặp phải trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, các học giả tư sản và những thế lực thù địch đã đưa ra cái gọi là: “những nhận định, đánh giá khách quan về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”. Trong đó cho rằng Việt Nam kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội là đã tự dẫn mình “đi theo vết xe đổ của Liên Xô”.
Cần khẳng định rõ rằng, sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể của chủ nghĩa xã hội đã lạc hậu, không đồng nghĩa với sự sụp đổ của học thuyết khoa học, cách mạng là chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng không phải là sự cáo chung của lý tưởng cộng sản mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại. Càng sai lầm nếu nghĩ đó là sự kết thúc của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội mà C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin xây dựng. Sự sụp đổ đó là một bài học đắt giá, đã khách quan tạo cho những người cộng sản có thêm những dữ liệu mới đối với việc nhận thức như thế nào cho đúng, bổ sung và hoàn thiện hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội, trở về đúng với quan điểm, lập trường của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, để phát triển đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới.
Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là kiên định con đường vận động khách quan của lịch sử, là kiên định một lý tưởng tốt đẹp và hiện thực, nhân văn, nhân đạo. Đó là đi theo lý tưởng và những giá trị của cách mạng Tháng Mười Nga, những thành quả và giá trị nhân văn tốt đẹp mà hơn 70 năm nhân dân Liên Xô bằng xương máu của mình đã tạo dựng nên. Tuyệt nhiên đó không phải là dập khuôn máy móc, làm theo một mô hình đã lạc hậu, cùng những sai lầm mang tính hệ thống trong cải tổ, không phải là “đi theo vết xe đổ của Liên Xô” như sự công kích của các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị rêu rao.
Thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã chứng minh tính đúng đắn cho sự lựa chọn của Đảng và nhân dân ta. Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời rút ra được những bài học quý báu từ sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, vận dụng một cách linh hoạt vào điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế của thời đại nên cách mạng Việt Nam đã từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và ngày càng vững bước đi lên. Thành tựu đó được thể hiện: Kinh tế ngày càng phát triển, nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc; môi trường chính trị luôn giữ vững sự ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; văn hóa – xã hội ngày càng phát triển; đối ngoại được mở rộng và đi vào chiều sâu, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế. Việt Nam vẫn luôn là hình mẫu để nhiều nước đang và chậm phát triển noi theo.

Tất cả những thành tựu đạt được trên đã chứng tỏ rằng sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với quy lật của lịch sử. Những luận điệu tuyên truyền trên đều là những lời vu khống vô căn cứ khoa học, đều là những lời hằn học, thù địch sớm muộn chúng cũng sẽ nhận lấy những thất bại.