Hiển thị các bài đăng có nhãn ngôn luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngôn luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2024

QUAN NIỆM CHUNG VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ

Tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những mục tiêu phấn đấu cơ bản của con người nhằm giành cho mình quyn được thông tin, trao đổi, giao tiếp, thể hiện ý chí và nguyện vọng của con người một cách công khai thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.

Cùng với sự phát triển của ngành in, gồm chế tạo ra máy in (1810), mực in (1814), sự ra đời của báo viết ở phương Tây gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, nhằm phổ biến tư tưởng dân chủ tư sản, chống lại sự thống trị hà khắc của chế độ phong kiến, góp sức thúc đẩy phát triển khoa học - kỹ thuật và xây dựng xã hội công dân trong các nước châu Âu. Như vậy, báo chí ra đời do nhu cầu phát triển nội tại của một chế độ chính trị - xã hội; trước đòi hỏi của một giai cấp, giai tầng xã hội cần thiết có một công cụ báo chí chuyền tải tâm tư, nguyện vọng của mình trước những vấn đề mà cả xã hội cùng quan tâm. Nói cách khác, nhu cầu tự do ngôn luận cũng chính là nhu cầu tự do báo chí.

Trong quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, với sự xuất hiện và phát triển của báo chí qua hàng trăm năm, đến nay, có thể khng định báo chí có mấy chức năng chủ yếu: Chức năng thông tin; Chức năng phản ánh; Chức năng tạo ra dư luận xã hội, góp sức định hướng dư luận xã hội; Chức năng nâng cao dân trí; Chức năng giải trí, ...Với những chức năng thiết yếu đó, báo chí ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt là vai trò định hướng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã hội. Vì vậy, “tự do báo chí” cũng phải nhằm phục vụ cho sự phát triển đó. Nhưng, cũng có một thực tế cần được làm sáng tỏ là, có những tổ chức, những nhóm ngưi thường núp dưới danh nghĩa “tự do báo chí” để chống lại sự phát triển của xã hội, bảo vệ những cái đã lỗi thời so với đà tiến lên của lịch sử loài người, gieo rắc thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội nhằm thực hiện những mưu đồ cá nhân, bảo vệ lợi ích của một thiểu số người, đi ngược lại xu thế tiến bộ chung của xã hội. Vậy, “tự do báo chí” cần được hiểu đúng và thực hiện đúng như thế nào?

Như nhiều người đã rõ, báo chí ra đời trong xã hội tư bản, được thiết kế trên nền tảng tư tưởng dân chủ tư sản, nhằm chống lại sự cản trở của chế độ phong kiến. Đó là bước tiến bộ lớn của lịch sử. Trong một chế độ chính trị có nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật thì mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội phải tuân theo pháp luật. Vì vậy, hoạt động báo chí không thể nằm ngoài yêu cu đó. Nhưng pháp luật trong chế độ tư bản là sự thể hiện ý chí của giai cấp tư sản. Họ sử dụng bộ máy nhà nước để duy trì trật tự xã hội vì lợi ích của giai cấp tư sản chiếm số ít trong dân cư. Vì vậy, không thể có tự do ngôn luận, t do báo chí thuần tuý nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước tư sản. Người ta hình như cố tình quên đi đặc điểm này để chỉ trích nước này, nước nọ; trong khi chính ở nước họ đã và đang diễn ra không ít hành động vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Cần khẳng định rằng, muốn có tự do báo chí theo nghĩa chân chính phải trên nền tảng một xã hội dân chủ; mọi hoạt động của báo chí phải phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân. Không thể có tự do báo chí trong một xã hội độc tài, phát xít, chuyên quyền, độc đoán. Những kẻ đóng cửa tất cả các tờ báo tiến bộ chống phát xít (như chủ nghĩa phát xít Đức ở châu Âu) thì không bao giờ có tự do báo chí, tự do ngôn luận vì lợi ích chính đáng của nhân dân. Lịch sử cận đại đã chứng minh rằng, không có tự do báo chí khi bọn thực dân thi hành chính sách phân biệt đối xử, nhằm nô dịch các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trong vòng tăm tối. Với mưu toan ấy, họ dùng mọi thủ đoạn hủy hoại các di sản văn hoá của cả một dân tộc. Hítle đã cướp bóc các tranh tượng, tác phẩm nghệ thuật của cả châu Âu về phục vụ riêng mình Trong các chế độ độc tài, vai trò tiến bộ của báo chí đã bị loại bỏ. Những tờ báo chỉ được tiếp tục xuất bản, nếu tỏ rõ ý thức phục vụ vô điều kiện sự tồn tại của chính quyền độc tài, chuyên chế, phát xít đó...

Trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản mi ra đi chống lại giai cấp phong kiến, báo chí tuyên truyền cho tư tưởng dân chủ tư sản, pháp luật tư sản, có tác dụng tích cực, cổ vũ việc xây dựng xã hội dân chủ tư sản. Tuy nhiên, khi giai cấp tư sản đã thiết lập được quyền thống trị của họ, thì pháp luật về báo chí lại là công cụ đắc lực phục vụ quyền lợi cho một thiểu số bóc lột. Để bảo vệ sự thống trị của mình, giai cấp tư sản đã xếp các loại báo bảo vệ chế độ tư bản là báo chí “tiến bộ”; còn lại các tờ báo nói lên tiếng nói phản kháng của số đông nhân dân thì họ liệt vào loại “phản động”. Các tờ báo của giai cấp công nhân mới bước lên vũ đài chính trị, c động cho một xã hội không có người bóc lột người, cũng đều bị coi là phản động! Chính quyền tư sản ban hành các đạo luật khắt khe, trong đó có các đạo luật về báo chí, quy định những điều cấm kỵ. Người ta có thể tha hồ nói, tha hồ viết về tất cả mọi vấn đề, nhưng có một nội dung không được động chạm đến, đó là “quyền tư hữu”, vì theo Hiến pháp họ soạn thảo, “tư hữu là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm” (!)

Thực tiễn nêu trên cho thấy, khi giai cấp cầm quyền còn đóng vai trò tiến bộ của lịch sử, thì tự do ngôn luận, tự do báo chí có vai trò quan trọng trọng sự phát triển xã hội. Và ngược lại, khi giai cấp cầm quyền đã là vật cản bước tiến của xã hội thì “tự do báo chí” không thể nào có được, theo đúng nghĩa của cụm từ này. Với sự phân tích các điều kiện chủ quan, khách quan trong bất cứ chế độ chính trị - xã hội nào, có thể khẳng định rằng, không thể có tự do ngôn luận, tự do báo chí thuần túy; càng không thể có thứ “tự do báo chí tuyệt đối” như giai cấp tư sản rêu rao. 

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TỰ DO BÁO CHÍ, TỰ DO INTERNET Ở VIỆT NAM

Vừa qua, trên mạng xã hội Vietnamthoibao xuất hiện bài viết của Tử Long: “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”. Nội dung bài viết cho rằng ở Việt Nam “Không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”; “Việt Nam kiểm soát và bóp nghẹt quyền tự do báo chí, tự do internet”… Mục đích của bài viết là cố tình xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin, hòng làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước ta với nhân dân và với quốc tế.

Bởi vì, việc đảm bảo mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 nêu rõ “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…Việc thực hiện các quy định này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi; Điều 11 Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 quy định công dân có quyền: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”. Rõ ràng, Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 hoàn toàn tương thích về mặt luật định đối với các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Đồng thời, Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 cũng nêu rõ: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân”.

Thực tế cho thấy, những năm qua, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, đồng thời được triển khai thực hiện trong thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam. Báo chí ở Việt Nam đã thể hiện được quyền tự do ngôn luận và đều được quyền thông tin. Báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; luôn tích cực đấu tranh với các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong xã hội, góp tiếng nói quan trọng vào việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời là cầu nối quan trọng với bạn bè quốc tế. Theo nhà báo Phương Hồ (TTXVN ngày 07/7/2021), Việt Nam có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh-truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Trong khi đó, sóng của các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam. Việt Nam cũng được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng Internet cao nhất thế giới với hơn 68 triệu người sử dụng Internet (chiếm 70% dân số).

Tại Việt Nam cũng không ai bị xét xử, bắt giữ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền. Chỉ có những đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật; tung tin giả, tin “xấu độc” hòng gây bất ổn tình hình đất nước, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận… mới bị xử lý theo pháp luật. Đáng tiếc, Tử Long lại cố tình không biết đến những văn bản luật đã được đưa vào thực hiện từ nhiều năm ở Việt Nam. Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam được thể hiện rất rõ qua sự phát triển đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của báo chí Việt Nam.

Chiêu bài mượn danh nghĩa tự do báo chí, tự do ngôn luận để chống phá Đảng, Nhà nước của các phần tử thù địch không đại diện cho quyền lợi, trách nhiệm xã hội của những người làm báo, cản trở và đi ngược lại xu thế đổi mới, phát triển toàn diện của đất nước, cần phải đấu tranh bác bỏ như những luận điệu phản động trên. Do vậy, để bảo vệ quyền lợi, tự do chính đáng, chúng ta luôn phải đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, kiên quyết vạch trần, kịp thời bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, cố tình lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí nhằm đưa ra những thông tin sai trái, xuyên tạc, tác động tiêu cực dư luận xã hội, xâm hại an ninh quốc gia, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

TỰ DO NGÔN LUẬN, BÁO CHÍ VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam luôn coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo. Pháp luật Việt Nam đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. 

Ở Việt Nam, không có việc cưỡng ép từ bỏ niềm tin, theo dõi, đe dọa, xúc phạm, giam giữ, tra tấn, hạn chế quyền tiếp cận tôn giáo. Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động hận thù, chia rẽ, gây mâu thuẫn và xung đột, làm tổn hại đến an ninh, ổn định của đất nước và cuộc sống yên bình của người dân. Các tôn giáo ở Việt Nam chung sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hiện có 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo, thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo in ấn, phát hành kinh sách và đồ dùng việc đạo; đảm bảo tự do tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số.

Về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp, thực tiễn cuộc sống là bằng chứng rất rõ nét về việc thụ hưởng quyền này ở Việt Nam. Có thể thấy, báo chí ở Việt Nam đã phát triển không ngừng, trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ bảo vệ quyền của người dân, lợi ích của xã hội, hỗ trợ công tác kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật, chính sách. 

Tính đến tháng 6-2018, cả nước đã có tới có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm, số lượng trang thông tin điện tử tổng hợp được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép đến hết tháng 6-2018 là 1.510. Hơn 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Internet phát triển vô cùng nhanh chóng đang tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Tỷ lệ hộ gia đình có truy cập internet là 28,35%, số người dùng Internet ở Việt Nam là khoảng 50 triệu người, chiếm 54% dân số (so với 30,8 triệu người năm 2013). Việt Nam có 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook.

Quyền lập hội đã được quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật hình sự 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Đến năm 2017, Việt Nam có 68.125 hội, trong đó có các tổ chức, hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật, các hội từ thiện, các tổ chức khoa học, nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ. 5 tổ chức chính trị-xã hội lớn có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội là: Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Luật về Hội. Dự thảo Luật về Hội đã được tham vấn nhiều lần ý kiến của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia và người dân để trình Quốc hội cho ý kiến.

Quyền bình đẳng trước tòa án và quyền được xét xử công bằng đã được quy định trong Hiến pháp, các đạo luật liên quan và đã đi vào thực tế. Năm 2017, Tòa án gia đình và người chưa thành niên đã được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em dưới 18 tuổi. Các cơ chế tố tụng được bảo đảm theo hướng công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; thủ tục phiên tòa được đổi mới. Việc tiếp cận công lý của người dân luôn được khẳng định … Năm 2018, các Trung tâm trợ giúp pháp lý (TGPL) đã tiếp nhận, thực hiện 58.887 vụ việc TGPL cho 51.608 lượt người, trong đó có 18.358 vụ việc tham gia tố tụng (tăng 12,7% so với năm 2017). Đặc biệt, 100% các vụ án hình sự mà yêu cầu phải chỉ định luật sư bào chữa thì đều có sự tham gia của luật sư, trợ giúp viên pháp lý.

Lĩnh vực hành chính và tư pháp - lĩnh vực gắn chặt với người dân, doanh nghiệp - đã được chú trọng nâng cao chất lượng. Một khối lượng lớn nhu cầu liên quan đến vấn đề hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã được giải quyết, trong đó các cơ quan có chức năng của Việt Nam thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, từng bước hiện đại hóa, tạo thuận lợi cho người dân cũng như đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước. 

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2021

TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Gần đây, nhiều người hay đề cập đến thuật ngữ “tự do ngôn luận trên mạng”. Tất nhiên, để có thể nói về điều đó đòi hỏi hai điều kiện cơ bản: Một là, xuất phát từ quyền tự nhiên của con người được tôn trọng, bảo vệ và thực thi trên thực tế và, hai là, kể từ khi Internet (nhất là mạng xã hội) trở nên phổ biến.

Tự do và tự do ngôn luận - đó là giá trị và là quyền con người. Đề cập đến điều này, không phải tới tận xã hội cận hiện đại mới có, mà từ thời cổ đại cả ở phương Tây và phương Đông đều nêu lên rồi. Chẳng hạn, Solon, vị chính khách thời cổ đại Hy Lạp cho rằng, muốn có tự do và công bằng thì chúng ta phải đặt luật pháp ngang hàng với sức mạnh (chính trị). Tới thế kỷ XVIII, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp đã chính thức khẳng định: “tự do là quyền của con người được làm tất cả những gì mà không phương hại đến quyền của người khác”.

Ở Trung Quốc cổ đại, Tử Sản, khi còn làm quan nước Trịnh (thời Xuân Thu) đã đặt ra quy định cho phép mọi người dân được phê bình kẻ chấp chính, hay Chiêu Công Hổ - một quan đại thần nhà Tây Chu đã ví việc tạo điều kiện cho người dân có thể nêu ý kiến về mọi việc trong đời sống xã hội chẳng khác gì khơi thông dòng nước cho con sông chảy ra biển.

Đối với Việt Nam, vào năm 1919, quyền tự do ngôn luận lần đầu tiên được nêu lên khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành chính thức sử dụng tên Nguyễn Ái Quốc để thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước ký vào Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị các nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Véc-xây (cách thủ đô Paris của nước Pháp 14 km) mà trong đó, quyền tự do ngôn luận được đặt ở vị trí thứ 3 trong 8 điều của bản Yêu sách. Kể từ đó, nhân dân Việt Nam đã trải qua hơn 25 năm đấu tranh đầy cam go, gian khổ để hiện thực hóa thành công cuộc cách mạng vô sản, giành lại nền độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam vào năm 1945. Đặc biệt, năm 1946, quyền tự do ngôn luận được trịnh trọng ghi nhận và bảo đảm thực hiện tại điều 10 Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Cho tới hiện nay, quyền tự do ngôn luận tiếp tục được khẳng định và bảo đảm thực hiện tại điều 25 Hiến pháp 2013.

Khái lược một số thông tin lịch sử để thấy rằng, nhân loại, trong đó có nhân dân Việt Nam, khi thức tỉnh và đấu tranh cho những quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, đã phải trải qua những cuộc đấu tranh khốc liệt, thậm chí hy sinh xương máu của bao thế hệ. Vì lẽ đó, quyền tự do ngôn luận nhất quyết không phải là thứ mà những kẻ nào đó đem tới đất nước này để rao giảng, dạy dỗ hay xuyên tạc, bịa đặt về việc thực hiện nó trong cuộc sống. Nó cũng không phải là một quyền mà một bộ phận với nhận thức nông cạn, nửa vời, thô thiển có thể sử dụng để dễ dãi lên tiếng phê phán, chỉ trích, kích động, nói xấu vô căn cứ đối với các cá nhân, tổ chức. Thậm chí, trong bối cảnh hiện nay, một bộ phận xã hội tự cho mình cái quyền tự do ngôn luận lại “tung tăng buông lời trên mạng” một cách vô nguyên tắc.

Vậy thì, muốn thực hiện tự do ngôn luận, trong đó cụ thể ở đây là tự do ngôn luận trên mạng, đòi hỏi mỗi cá nhân công dân phải tuân thủ và đáp ứng một số yêu cầu sau:

Một là, phải nắm vững, hiểu rõ những quy định của pháp luật có liên quan. Nhà triết học cổ điển Đức G.W.F. Hegel từng có luận điểm nổi tiếng: “Tự do là nhận thức được cái tất yếu”. C.Mác tán thành quan điểm này và còn làm rõ thêm: “Luật pháp không phải là những biện pháp đàn áp chống lại tự do… Ngược lại, luật pháp là những tiêu chuẩn khẳng định rõ ràng, phổ biến, trong đó tự do có một sự tồn tại vô ngã, có tính chất lý luận, không phụ thuộc vào sự tùy tiện của cá nhân riêng lẻ. Bộ luật là kinh thánh của tự do của nhân dân”. Công dân Việt Nam phải hiểu biết đầy đủ, chính xác pháp luật, biết được quyền và nghĩa vụ của mình khi thực hiện quyền tự do ngôn luận. Chỉ khi thực hiện quyền tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật sẽ mang đến cho họ quyền tự do, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người khác.

Hai là, tự do ngôn luận, nhất là tự do ngôn luận trên mạng là tự tương tác của cá nhân có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, ít chịu sự giám sát, phê duyệt mang tính tổ chức, chính vì vậy đòi hỏi mỗi cá nhân công dân phải tự chịu trách nhiệm đối với mỗi lời nói, câu viết của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng xã hội, không phải thích nói và viết một cách bừa bãi, cảm tính nhất thời. Thực hiện quyền tự do ngôn luận trên mạng phải chính đáng, có tính mục đích tiến bộ rõ ràng, mang tính xây dựng, mang đến điều tốt đẹp, tích cực cho bản thân, cộng đồng, xã hội và quốc gia.

Ba là, tự do ngôn luận trên mạng là được bày tỏ quan điểm, chính kiến trên các báo mạng, diễn đàn, mạng xã hội, v.v.. Cho nên, cá nhân công dân bên cạnh việc tuân thủ những quy định của pháp luật chung, còn phải tuân thủ Luật Báo chí, đưa tin lên mạng phải trung thực, đúng sự thật, không được bóp méo, cắt gọt gây hiểu lầm hoặc khi đánh giá, phê bình phải có căn cứ rõ ràng.

Bốn là, thực hiện quyền tự do trên mạng phải phù hợp với văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, lời nói hay câu viết cần phải phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt. Khi bình phẩm, nhận xét phải có lời lẽ ôn hòa, văn minh, lịch sự, không được sử dụng ngôn từ cực đoan, gay gắt hay lai căng mang tính lăng mạ, sỉ nhục, kỳ thị người khác.

Thực hiện quyền tự do ngôn luận nói chung và tự do ngôn luận trên mạng nói riêng là điều hoàn toàn chính đáng và được bảo đảm thực hiện trong xã hội. Mỗi cá nhân công dân cần nhận rõ quy định pháp luật liên quan, nhận rõ tư duy và hành vi xử sự của bản thân, góp phần xây dựng một xã hội Việt Nam tiến bộ, văn minh và phát triển.


Thứ Hai, 16 tháng 11, 2020

SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Có một thực tế hiển nhiên mà phần lớn người dân cả nước, bạn bè quốc tế đã biết, đó là công tác phòng, chống thiên tai, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân luôn được Đảng, Nhà nước, quân đội đặc biệt quan tâm, không chỉ khi thiên tai xảy ra mà từ việc chủ động phòng ngừa. Chúng ta đã sớm ban hành các chủ trương, chính sách, đề án, chiến lược về phòng, chống thiên tai và chống biến đổi khí hậu; đầu tư rất lớn cho nhiệm vụ này. Chính phủ, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, các bộ, ngành, địa phương đều có những phương án, kịch bản để phòng, chống với mọi tình huống thiên tai, sự cố. Chúng ta đã tổ chức Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn ở tất cả các cấp chính quyền, các địa phương, luôn chủ động chuẩn bị theo phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; vật tư, phương tiện và kinh phí tại chỗ; hậu cần tại chỗ) đồng thời thường xuyên tổ chức luyện tập, diễn tập để sẵn sàng ứng phó hiệu quả với mọi tình huống thiên tai. Việc khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố cũng luôn được triển khai bài bản, đồng bộ.

Từ nhiều năm nay, mỗi khi có các vụ thiên tai lớn, nhỏ xảy ra ở các địa phương trong cả nước, trước khi nhân dân chung tay cứu trợ thì Nhà nước và các cơ quan, tổ chức chính trị-xã hội, đặc biệt là các đơn vị quân đội, lực lượng vũ trang đã kịp thời có mặt để cứu giúp nhân dân vượt qua hoạn nạn. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cùng cán bộ, chính quyền các cấp không chỉ xông pha vào những vùng bão, lũ, sự cố hiểm nguy nhất, thậm chí sẵn sàng chấp nhận hy sinh thân mình để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, mà còn nỗ lực giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, tổng dọn vệ sinh môi trường, tái thiết cuộc sống... Giá trị của những việc làm ấy không thể đong đếm được và càng không thể bị phủ nhận, so sánh bằng tiền. Chưa kể, chính những con người vượt qua mọi nguy hiểm để cứu giúp nhân dân, trực tiếp nhường cơm sẻ áo cho người dân trong hoạn nạn ấy, lại tiếp tục tự nguyện trích một phần tiền lương của mình để ủng hộ, giúp đỡ đồng bào sớm vượt qua khó khăn, hoạn nạn. Ngay ca sĩ Thủy Tiên cũng viết trên facebook cá nhân rằng, không thể so sánh việc làm của cô với các cơ quan chức năng của Nhà nước, bởi Nhà nước làm những công việc rất lớn mà khi ra hiện trường thực tế cô đã thấy rõ điều đó và rất trân trọng; còn việc làm của cô chỉ là rất nhỏ với mong muốn giúp được người dân chút nào hay chút đó với tinh thần "lá lành đùm lá rách" mà thôi.

Để đất nước có được sự phát triển như hôm nay, song song với việc ban hành các cơ chế, chính sách, thực hiện chiến lược quốc gia về xóa đói giảm nghèo, Nhà nước đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, đầu tư rất lớn để người dân các địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, những nơi thường xảy ra thiên tai tập trung phát triển kinh tế-xã hội và vươn lên làm giàu. Việc xây dựng đường sá ngày càng to, đẹp đến các địa phương hẻo lánh; xây dựng các công trình chống lũ, thoát lũ; quy hoạch và di dân ra khỏi những nơi có nguy cơ cao để phòng tránh thiên tai... là minh chứng cho thấy Đảng, Nhà nước đã rất coi trọng làm việc này từ xa và từ sớm.

Một việc nữa mà chúng ta đều thấy rất rõ là, trước khi thiên tai xảy ra, ngoài việc các cơ quan chức năng đưa ra cảnh báo, khuyến cáo người dân; cử lực lượng giúp dân sơ tán, chằng chống nhà cửa, bảo vệ tính mạng và tài sản, thì các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội và các địa phương cũng đi thị sát, kiểm tra và chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống thiên tai để giảm nhẹ thiệt hại; triển khai ngay các phương án ứng cứu, hỗ trợ nhân dân khắc phục hậu quả, sớm ổn định cuộc sống. Thậm chí có không ít cán bộ, công chức trong và ngoài quân đội, cả cán bộ cấp cao đã anh dũng hy sinh ngay trong lúc ứng cứu nhân dân. Thế nên việc ai đó so sánh công lao của một vài cá nhân trong huy động tiền cứu trợ với những việc mà Đảng, Nhà nước, cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị-xã hội đã, đang và sẽ làm trong công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, để rồi quy chụp theo dụng ý xấu xa của cá nhân, không chỉ thể hiện sự thiển cận, mà còn là sự phản động khi cố tình phủ nhận công sức, vai trò của Đảng, Nhà nước, quân đội và các tổ chức chính trị-xã hội, nhằm hướng dư luận xã hội đi theo quán tính, phục vụ cho mục đích xấu xa của họ, đó là kích động, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá đất nước.   

Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận. Nhưng những phát ngôn không đúng pháp luật với âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc, phá hoại đất nước thì cần phải kiên quyết đấu tranh, xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Đó cũng là mong muốn của đại đa số người dân, nhất là trong lúc rất cần tăng cường sự đoàn kết, chung tay góp sức của toàn xã hội để giúp nhân dân miền Trung sớm vượt qua thiên tai, gian khó./.

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2020

PHẢI CHĂNG VIỆT NAM VI PHẠM TỰ DO INTERNET, TỰ DO MẠNG XÃ HỘI?

Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, tự do internet nói chung và MXH nói riêng. Điều này đã được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, được cụ thể hóa trong nhiều luật, nghị định cùng nhiều văn bản pháp luật khác và được biểu hiện sinh động trên thực tế.

Ngoài các báo điện tử, các trang tin, thông qua MXH (Facebook, YouTube, Lotus, Viber, Zalo, Twitter, Instagram...), người dân Việt Nam có thể tự do chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương ở Việt Nam ngày càng nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng MXH để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính, giữ mối liên hệ với người dân, nắm bắt và giải quyết kịp thời những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân…

Hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin của công dân là cơ bản đầy đủ, đồng bộ và tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Đặc biệt, Luật An ninh mạng (ANM), sau một năm có hiệu lực đã dần đi vào cuộc sống, mang lại những hiệu quả rất rõ nét, thiết thực trong đời sống xã hội. Trước, trong và sau khi luật ra đời, không ít thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cho rằng việc Việt Nam ban hành Luật ANM là "vi phạm quyền con người, bóp nghẹt tự do dân chủ, tự do ngôn luận...". Thực tế, sau một năm thực thi đã chứng minh Luật ANM hoàn toàn không vi phạm quyền con người, không bóp nghẹt tự do ngôn luận, mà ngược lại đã tạo nên nền tảng pháp lý vững chắc, phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân... Mọi cá nhân vẫn được bày tỏ chính kiến trên không gian mạng, tự do ngôn luận hoàn toàn không bị hạn chế nếu chấp hành các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, luật đã giúp tạo môi trường lành mạnh, an toàn. Nhiều thông tin, bài viết, video clip ảnh hưởng tiêu cực đến chuẩn mực, đạo đức xã hội đã được ngăn chặn, xử lý; đời tư cá nhân được bảo vệ; hoạt động kinh doanh trên môi trường mạng được bảo đảm; các đối tượng tung tin sai lệch, nhất là về dịch Covid-19, tình hình bão lũ, thiên tai gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, bão lũ đã bị xử lý.

Việc Việt Nam ban hành Luật ANM, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thực chất là nhằm bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, tự do internet, tự do MXH của người dân ngày càng tốt hơn; làm cho môi trường mạng của Việt Nam ngày càng trong lành và an toàn hơn, phục vụ tốt cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luận điệu cho rằng Luật ANM, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP cùng các văn bản quy phạm pháp luật mà Việt Nam ban hành và thực hiện là “bóp nghẹt tự do dân chủ, tự do ngôn luận...”, “vi phạm tự do mạng xã hội”... thực chất là hành vi tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta. Việt Nam luôn hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền, tiến bộ, dân chủ và văn minh, trong đó các quyền con người nói chung, quyền tự do internet, tự do MXH nói riêng được tôn trọng và bảo đảm. Đồng thời, Việt Nam kiên quyết vạch trần và đấu tranh không khoan nhượng với những tổ chức, cá nhân lợi dụng vấn đề này để vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích của đất nước và nhân dân.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG, BẢO ĐẢM CÁC QUYỀN VÀ TỰ DO CƠ BẢN CỦA NGƯỜI DÂN

Ngày 15/4, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến thông báo ngày 13/5/2016 của Người Phát ngôn của Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ), Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nguyễn Trung Thành, Đại diện Thường trực của Việt Nam bên cạnh LHQ (Geneva) nhấn mạnh: Việt Nam bác bỏ các thông tin không chính xác, thiếu khách quan, không được kiểm chứng của Người Phát ngôn của Cao ủy, đồng thời lấy làm tiếc và thất vọng về phản ứng vội vã này.
Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của người dân, trong đó có quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, phù hợp với Hiến pháp 2013 và các chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Các công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước về quyền dân sự và chính trị cũng quy định rõ các quyền và tự do cá nhân cần phải thực thi trong khuôn khổ pháp luật, không ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội, trật tự công cộng, đạo đức, sức khỏe cộng đồng và quyền, lợi ích của cá nhân khác.
Trên tinh thần đó, các biện pháp cần thiết được tiến hành là phù hợp với luật pháp Việt Nam và chuẩn mực quốc tế nhằm đảm bảo trật tự giao thông, an ninh, an toàn cho người dân, nhất là người già, phụ nữ và trẻ em. Những hành vi kích động bạo lực, bài ngoại, gây rối trật tự ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân cần phải được ngăn chặn trong khuôn khổ luật pháp, vì lợi ích chung của cộng đồng.
Trước sự những khó khăn, thách thức của đất nước hiện nay, Chính phủ, các địa phương cùng các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể và toàn thể nhân dân Việt Nam đã và đang hết sức nỗ lực tìm mọi biện pháp để khắc phục nhằm giữ vững sự ổn định đồng thời tạo đà cho phát triển mọi mặt đời sống xã hội. Kết quả là Việt Nam đã từng bước khắc phục được những khó khăn, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Đảng, Nhà nước luôn nhất quán quan điểm lấy nhân dân làm gốc mục tiêu cuối cùng là vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, chưa và không bao giờ Việt Nam vi phạm các quyền tự do cơ bản của nhân dân, Những phát ngôn như vừa qua đều là không có cơ sở thiếu khách quan../.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

NGĂN NGỪA LẠM DỤNG QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

Quyền tự do ngôn luận, báo chí và quyền tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản, quan trọng của cá nhân được quy định trong nhiều công ước quốc tế về quyền con người (QCN) và đã được quy định trong các Hiến pháp Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp 2013. Thế nhưng cách đây không lâu trong dịp đầu năm 2018, trên mạng Dân luận và nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây đã tán phát “Bản lên tiếng về quyền được nói và nghe sự thật”.
Văn bản mạng này do những tổ chức xã hội mạng phi pháp và một số cá nhân tự xem mình người “bất đồng chính kiến” ký. Điều đáng chú ý là có nhiều mạng và cá nhân ở nước ngoài, như Hoa Kỳ, Canada, Australia… cũng tham gia. “Bản lên tiếng” đưa ra một số vụ án, trong đó những bị can, bị cáo đã sử dụng mạng xã hội, nhất là mạng Facebook làm minh chứng.
Văn bản ảo này đòi hủy bỏ nhiều điều luật trong Chương XI- Về các tội phạm an ninh quốc gia, như Điều 79 (Tội lật đổ chính quyền nhân dân), Điều 88, Điều 258 Bộ luật Hình 1999 (vẫn được giữ lại trong Bộ luật Hình sự 2015). Họ còn đòi “trả lại toàn bộ sự thật” liên quan đến “biến cố Mậu Thân, 1968”.
Pháp luật nước ta cũng như các quốc gia, quyền bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ. Hiến pháp và nhiều bộ luật nước ta đã quy định rõ ràng các quyền tự do ngôn luận, báo chí, kể cả sử dụng mạng xã hội, và quyền tiếp cận thông tin.
Theo tổ chức nghiên cứu về mạng xã hội quốc tế Next Web, Việt Nam nằm trong “top 10” quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới. Số người có tài khoản trên Facebook là 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu. Người dân có thể đăng tải lên mạng “Upload” các video/clip hoàn toàn không bị cấm đoán nếu không vi phạm pháp luật. Vậy vì sao trong số 64 triệu tài khoản trên Facebook của người Việt chỉ có một số rất ít người, như Hồ Văn Hải, Vũ Quang Thuận, Hoàng Đức Bình… bị ra tòa?
Đó là vì họ đã vi phạm pháp luật. Chẳng hạn Hồ Văn Hải với trang blog và tài khoản facebook đã đăng nhiều bài viết bôi nhọ, xuyên tạc đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước; Vũ Quang Thuận và Nguyễn Văn Điển đã đăng tải nhiều video clip lên mạng Internet, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật.
Hoàng Đức Bình phạm tội “Chống người thi hành công vụ”; “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, quy định tại Điều 257, 258 Bộ luật Hình sự (1999) trong vụ “biển tình bất bạo động” đòi đuổi Formosa, tụ tập động người cố tình gây ách tắc quốc lộ 1A đoạn qua Hà Tĩnh, Nghệ An vào tháng 5-2017.
Còn về cái gọi là “biến cố Mậu Thân” thì sự thật là: Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nằm trong chiến lược quân sự - chính trị tạo ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Cuộc tiến công này đã đập tan ý chí giành chiến thắng của đế quốc, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, tạo thế và lực để quân dân ta giành toàn thắng vào năm 1975.
Tôn trọng và bảo đảm QCN thuộc bản chất và là một mục mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta. Cho đến nay, trong thời kỳ đổi mới, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các QCN được được tôn trọng và bảo đảm trên thực tế.
Lần đầu tiên Hiến pháp 2013 đã giành cả một chương (Chương II ) quy định về “QCN, quyền và nghĩa vụ công dân”. Chương này không chỉ quy định đầy đủ các QCN, quyền và nghĩa vụ công dân mà còn quy định những nguyên tắc cơ bản về QCN. Đó là: 1) Nguyên tắc về mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân, trong đó Nhà nước có nghĩa vụ, người dân là chủ thể của quyền; 2) nguyên tắc hạn chế quyền (chẳng hạn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo… (Điều 24); quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình… (Điều 25) có thể bị hạn chế “vì lợi ích an ninh quốc gia, trật tự xã hội…”. Cần lưu ý rằng, quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tiếp cận thông tin…” là những quyền bị hạn chế.
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến hết năm 2017, cả nước có 849 cơ quan báo chí, tạp chí in, trong đó có 86 báo Trung ương, 99 báo địa phương, 664 tạp chí và 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, 5 đơn vị hoạt động truyền hình với tổng số kênh phát thanh, truyền hình trong nước được cấp phép là 281 kênh; 195 cơ quan báo chí điện tử đã được cấp phép, trong đó có 171 cơ quan báo chí, đài, tạp chí thực hiện loại hình báo chí điện tử; 178 giấy phép được thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp được cấp cho các cơ quan báo chí in, phát thanh, truyền hình để khai thác thế mạnh của loại hình thông tin hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin trong tình hình mới, nhất là khi thông tin trên mạng xã hội ngày càng có ảnh hưởng đến xã hội.  
Năm 2016, Quốc hội ta đã thông qua Luật tiếp cận thông tin (LTCTT). Đây là một đạo luật cụ thể hóa về quyền tự do ngôn luận, báo chí được quy định trong Hiến pháp 2013. Theo quy định của LTCTT thì quyền tiếp cận thông tin là một quyền có thể bị hạn chế hoặc là quyền có điều kiện. Những quyền bị hạn chế chẳng hạn: “Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, ...”; nhữngthông tin được tiếp cận có điều kiện: “Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận nếu chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý”... Thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, nếu được người đó đồng ý” (Điều 7).
Điều 11 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm: “Cố ý cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ, trì hoãn việc cung cấp thông tin; hủy hoại thông tin; làm giả thông tin… Cung cấp hoặc sử dụng thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, gây kỳ thị về giới, gây thiệt hại về tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức...”
Trước tình hình nhiều cá nhân, tổ chức mạng sử dụng mạng xã hội, internet vi phạm quyền, lợi ích quốc gia, quyền, lợi ích cá nhân, Bộ luật Hình sự 2015 đã có những quy định bảo vệ các quyền này. Điều 288 về “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” quy định, người nào thực hiện hành vi vi  phạm pháp luật nhằm thu lợi bất chính thì bị phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù cao nhất đến 7 năm.
Trong thời gian qua, không ít người cho rằng, mọi người đều có quyền sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng xã hội, xem đó là một quyền tuyệt đối không có giới hạn cả những thông tin sai sự thật, thông tin bịa đặt... lên mạng mà không phải chịu trách nhiệm gì. “Bản lên tiếng” nói trên là một ví dụ.
Hơn lúc nào hết cán bộ, đảng viên và người dân cần hiểu rõ, nắm vững các quy định của pháp luật về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin; nâng cao tinh thần cảnh giác với những thủ đoạn tung tin ảo trên mạng xã hội, tránh tình trạng vô tình trở thành người vi phạm pháp luật.

Nguồn: cand.com.vn

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

RSF THÔI ĐỪNG XUYÊN TẠC!

            Thời gian qua, một số tờ báo, trang Blog cá nhân, mạng xã hội đăng tải thông tin sai sự thật, vu khống lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc tình hình Việt Nam đã ảnh hưởng rất lớn tới hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới. Gần đây nhất dư luận không khỏi bức xúc về vụ việc Tổ chức Phóng viên không biên biên giới (RSF) đưa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào danh sách “kẻ thù của tự do truyền thông” và xếp Việt Nam đứng thứ 175 trong số 180 quốc gia “đàn áp tự do báo chí”. Chúng hả hê xuyên tạc rằng: Tại Việt Nam báo chí hoàn toàn bị cấm đoán, internet bị theo dõi và kiểm soát chặt chẽ; Nhiều công dân mạng và Blogger bị chính quyền đàn áp vì những cáo buộc mơ hồ…thực hư vấn đề này như thế nào chưa nói chắc bạn đọc củng đã rõ mấy phần.
             Trước tiên tác giả muốn bạn đọc biết được Tổ chức Phóng viên không biên biên giới (RSF) là gì? Đây là một tổ chức phi Chính phủ hoạt động toàn cầu với mục đích bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tổ chức hoạt động dựa trên điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Phóng viên không biên giới do nhà báo người Pháp Robert Ménard thành lập năm 1985. Những năm gần đây dưới sự tài trợ, thao túng của Mỹ và các nhà tài phiệt phương Tây tôn chỉ, mục đích ban đầu mà Tổ chức Phóng viên không biên biên giới đã đề ra đang dần trở nên méo mó hơn bao giờ hết. Mặc dù, đang khoác lên mình cái nhãn hiệu bảo vệ quyền lợi của các nhà báo, nhưng trên thực tế, RSF không hề bảo vệ các nhà báo chân chính mà chỉ chăm chăm tiếp tay một số Blogger và nhà báo giả danh để hoạt động chống phá chính quyền mà không ít Quốc gia đã lên tiếng để phản đối.
             Tại Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Hiến pháp ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực thi. Theo đó, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ trước đến nay đều có những quy định về tự do ngôn luận, tự do báo chí và khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân.
             Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định
                Điều 2, Luật báo chí Việt Nam quy định:
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.
Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân...”
             Hành động trên của RSF rõ ràng là một sự xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt, vu cáo, bôi đen thực tế xã hội và thực trạng tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, thể hiện cái nhìn phiến diện và áp đặt của tổ chức này.
             Hơn nữa, những trường hợp mà RSF gọi là “các Bloggers có tiếng nói đối lập bị đàn áp” như: Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Văn Đài, Tạ Phong Tần, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay Hồ Hải họ đã lợi dụng việc tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quan điểm sai trái, thù hằn với Việt Nam tự ý thành lập các trang Blog cá nhân, các website, lợi dụng mạng xã hội facebook, twitter… để tuyên truyền những vấn đề không đúng với sự thật tại Việt Nam, vu khống Việt Nam đàn áp tự do tôn giáo, không có dân chủ, nhân quyền. Đây là những hành động hoàn toàn sai trái vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam và  phải bị xử lý nghiêm khắc để đảm bảo mọi người dân Việt Nam cũng như trên thế giới có quyền tiếp cận những thông tin chính thống, đúng sự thật về tình hình Việt Nam. Đây là lẽ đương nhiên, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
       RSF thực chất chỉ là một công cụ đắc lực cho các tổ chức phản động bên cạnh các tổ chức như HRW nhằm chống phá tình hình nội bộ các quốc gia, can thiệp sâu vào các sự việc điều này làm lộ rõ bản chất diều hâu của tổ chức này là hoạt động dựa trên sự chỉ đạo của các thế lực thù địch chứ chẳng hề có cái gọi là “tự do” như họ quảng bá.