Hiển thị các bài đăng có nhãn sử dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sử dụng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

KHÔNG LẠM DỤNG LÀM BIẾN TƯỚNG TỪ “QUỐC DÂN”

Để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng.

TỪ “QUỐC DÂN” MANG Ý NGHĨA LỚN LAO, TRANG TRỌNG

Quốc dân vốn có nghĩa là “người trong một nước”, “nhân dân trong một quốc gia”. Đây là một từ ngữ mang ý nghĩa chính trị, thể hiện tính trang nghiêm, trang trọng và thường gắn liền với những sự kiện, hoạt động gắn với đời sống chính trị của quốc gia.

Một trong những sự kiện chính trị quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam gắn liền với từ “quốc dân”, đó là ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (Tuyên Quang), dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã tổ chức khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc-Trung-Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào để bàn kế hoạch tổng khởi nghĩa giành chính quyền về nhân dân. Quốc dân Đại hội Tân Trào là tiền thân của Quốc hội Việt Nam - cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân và thể hiện sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Trong nhiều bài viết, bài nói ở những thời điểm quan trọng của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lúc dùng từ “quốc dân”, hay “quốc dân đồng bào” với hàm ý đề cao vị trí, vai trò, sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân trong nước, qua đó khích lệ đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước thương nòi và phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để đánh đuổi thực dân đế quốc, quyết giành độc lập, tự do cho dân tộc. Người từng khẳng định: “Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”.

Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng, khi nói đến từ “quốc dân” là nói đến những vấn đề mang tính quốc gia đại sự, những việc làm, hành động gắn với quy mô, tầm vóc lớn lao nên có sức tác động, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội.

ĐẾN LẠM DỤNG TỪ “QUỐC DÂN” TRÀN LAN, BIẾN TƯỚNG

Tuy vậy, thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội xuất hiện khá nhiều từ “quốc dân” gắn vào đối tượng cụ thể, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, giải trí, thể thao... gặt hái được một số thành tựu nào đó trong nghề nghiệp và thu hút sự quan tâm của công chúng. Ví như: “Mẹ chồng quốc dân” nói về vai diễn ấn tượng của một nữ diễn viên đóng vai mẹ chồng trong một bộ phim truyền hình dài tập. “Ông bố quốc dân” nói về một nam diễn viên đã có những cử chỉ chăm lo hết mực dành cho đứa con trai kém may mắn. “MC quốc dân” nói về một người dẫn chương trình thường “chiếm sóng” ở nhiều gameshow truyền hình. “Cầu thủ quốc dân” nói về một cầu thủ bóng đá mới nổi trong làng túc cầu Việt Nam. “Hoa hậu quốc dân” nói về một cô hoa hậu là người dân tộc thiểu số hay xuất hiện ở nhiều sự kiện văn hóa, giải trí...

Bên cạnh đó, từ “quốc dân” cũng được gán với những người có hành vi, cử chỉ, ngoại hình ít nhiều tạo sức ảnh hưởng trong cộng đồng, dù đôi khi đó chỉ là hiện tượng nhất thời, ví như: “thầy giáo quốc dân”, “bà vợ quốc dân”, “ông chồng quốc dân”, “bạn trai quốc dân”, “em gái quốc dân”...

Khách quan mà nói, việc dùng từ “quốc dân” gắn với những con người có cử chỉ, hành động, việc làm tích cực, nhân văn, lan tỏa những điều tốt đẹp cho cộng đồng, đất nước cũng không ngoài mục đích nhân lên những giá trị tiến bộ trong cuộc sống, xã hội. Tuy nhiên, sự lạm dụng từ “quốc dân” một cách thái quá, hay gán ghép không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng sẽ khiến cho không ít người được tung hô rất dễ tự ảo tưởng về bản thân và đó là “mảnh đất màu mỡ” dung túng cho “bệnh ngôi sao” như một “vết dầu loang” làm vẩn đục môi trường văn hóa xã hội và đời sống nghệ thuật, giải trí. Đấy là chưa kể một số người nào đó có những những hành vi tiêu cực, sai trái, nhố nhăng, phản cảm được nhiều người biết đến cũng được báo chí, truyền thông ghép với từ “quốc dân”, ví như: “tên trộm quốc dân”, “gã nghiện rượu quốc dân”, “cô ả hung dữ quốc dân”, “tay ăn chơi quốc dân”... Sự gán ghép này vừa gượng gạo, ngô nghê, vừa làm “ô nhiễm” sự trong sáng của tiếng Việt.

Trên thực tế, không hẳn ai cũng thoải mái với việc được gán ghép với từ “quốc dân”. Mới đây, một hoa hậu khá tên tuổi từng lên tiếng đề nghị báo chí, truyền thông không gọi cô là “hoa hậu quốc dân”. Bởi cô thẳng thẳn bày tỏ, từ “quốc dân” mang ý nghĩa lớn lao, trang trọng, nên cô không dám nhận mình là “hoa hậu quốc dân”, mà ngược lại chỉ muốn tự nhận mình là “hoa hậu bình dân” cho thân mật, dân giã, phù hợp với tính cách mộc mạc, giản dị vốn có của cô.

Khi nói đến từ có yếu tố “quốc” (Tổ quốc, quốc gia, quốc dân, quốc kỳ, quốc khánh, quốc thể, quốc lễ...) đều là những từ mang ý nghĩa chính danh, trang trọng, chuẩn mực. Vì vậy, để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng./.

PHÚC NỘI

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI

Tình trạng tán phát tin giả, tin sai sự thật trên Internet, mạng xã hội đáng báo động và đang diễn biến rất phức tạp, theo chiều hướng gia tăng. Đây là đánh giá của Bộ Công an về tình trạng tin giả, phát tán các video phản cảm, độc hại trên mạng Internet trong báo cáo gửi đại biểu Quốc hội về một số nội dung liên quan đến nhóm vấn đề chất vấn tại phiên họp thứ 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Theo Bộ Công an, các đối tượng triệt để lợi dụng các tính năng của mạng xã hội để tuyên truyền, vu cáo, ý đồ kích động chống Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp, gây rối loạn về thông tin... Thủ đoạn phổ biến tạo lập các tài khoản cá nhân mạng xã hội mạo danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, người đứng đầu chính quyền các cấp, mạo danh người nổi tiếng; chỉnh sửa các thông số kỹ thuật của tập tin thời gian để đăng tải tin giả, tin sai sự thật nhằm dẫn dắt dư luận; lợi dụng các sự kiện nóng", các "vấn đề thu hút sự quan tâm của xã hội" để tạo dựng thông tin giả mạo, đánh lừa dư luận.

Bên cạnh đó, xuất hiện hiện tượng số đối tượng xấu vì động cơ vụ lợi kinh tế, đã tạo dựng tin giả, tin sai sự thật, tán phát trên không gian mạng, nhất là mạng xã hội để thu hút người dùng tương tác nhằm thu về lợi ích từ việc bán hàng, ủng hộ, tài trợ bằng tiền, lợi ích vật chất... gây hoang mang dư luận. Tình trạng tràn lan các video có nội dung nhảm nhí, giật gân trên mạng xã hội nhằm lôi kéo người xem để kiếm tiền. Thậm chí, một số đối tượng tìm mọi cách để nổi tiếng trên mạng xã hội, kể cả việc thực hiện cả hành vi vi phạm pháp luật, sản xuất các nội dung phản cảm, thiếu tính giáo dục, giả mạo thông tin, kích động bạo lực, bôi nhọ, nói xấu chính quyền...

Trước tình hình đó, Bộ Công an đã chỉ đạo các Công an các đơn vị, địa phương tăng cường công tác theo dõi, rà quét thông tin trên mạng xã hội, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức trên địa bàn có hành vi phát tán các tin giả, phản động, xấu độc, vi phạm pháp luật.

Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai nhiều giải pháp đấu tranh đồng bộ về pháp lý, kinh tế, kỹ thuật nhằm buộc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới tuân thủ pháp luật Việt Nam; qua đó kiểm soát, hạn chế, ngăn chặn, gỡ bỏ kịp thời thông tin giả, xấu, độc hại, phản cảm trên mạng xã hội.

Cử đầu mối phối hợp với Trung tâm xử lý tin giả - Bộ Thông tin và Truyền thông thẩm định nguồn tin, xử lý tin giả. Ban hành "Quy trình công tác công an phát hiện, đấu tranh, xử lý tin giả, tin sai sự thật trên Internet, mạng xã hội", trong đó đã chỉ ra các bước tiến hành; các trường hợp có thể gặp phải trong quá trình đấu tranh xử lý; phân công trách nhiệm cụ thể của các đơn vị, địa phương trong chủ trì, phối hợp đấu tranh, xử lý tin giả, tin sai sự thật trên Internet, mạng xã hội .

Tuy nhiên, Bộ Công an nhận định, hiệu quả công tác đấu tranh với hành vi đưa tin không chính xác, phát tán các video phản cảm, độc hại trên mạng Internet vẫn chưa tương xứng với thực trạng. Nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng vi phạm trên các nền tảng số xuyên biên giới là do:

(1) Người sử dụng cho rằng, khi cung cấp, phát tán thông tin trên các nền tảng mạng xã hội của nước ngoài khó bị phát hiện danh tính, có tư tưởng "vô danh nên vô trách nhiệm", không sợ bị xử lý nên tự do phát ngôn và không nghĩ đến hậu quả, tác động tiêu cực cho xã hội, cho cá nhân, tổ chức bị ảnh hưởng.

(2) Người dân khó có căn cứ, cơ sở để xác định tin thật nếu cơ quan chức năng không kịp thời xác nhận nên tiếp tục phát tán theo cấp số nhân, nhất là những vấn đề "nóng" được nhiều người quan tâm, gây hoang mang trong xã hội.

(3) Các đối tượng phát tán thông tin thường xuyên tận dụng những thay đổi, phát triển mới về công nghệ để cải tiến các hình thức phát tán thông tin. (4) Người dân trong nước ngày càng phụ thuộc vào các mạng xã hội nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam chưa có các dịch vụ tương tự phục vụ nhu cầu của nhân dân trong khi đó, các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam vẫn tìm cách né tránh, không phối hợp thực hiện ngăn chặn thông tin xấu độc tại Việt Nam.

Để công tác đấu tranh phòng, chống tin giả, sai sự thật, tán phát các video phản cảm, độc hại đạt hiệu quả cao, trong thời gian tới, Bộ Công an tiếp tục thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

(1) Quản lý chặt chẽ thông tin trên Internet và mạng xã hội trên cơ sở luật pháp và các điều ước quốc tế. Chủ động rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng internet, mạng xã hội, báo chí.

(2) Chủ động bám sát diễn biến tình hình, nhất là các vấn đề, vụ việc nhạy cảm, phức tạp có nguy cơ bị các đối tượng khai thác để tạo dựng, tán phát, chia sẻ thông tin giả mạo, tin sai sự thật; chủ động rà soát, đánh giá xác định đối tượng "nguồn tin trọng điểm" để đôn đốc, hướng dẫn, điều phối tổ chức truy tìm, đấu tranh, xử lý, xử phạt nghiêm minh với những hành vi cố tình đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật lên mạng xã hội, hành vi xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phá hoại quan hệ quốc tế của đất nước; đồng thời tuyên truyền cảnh báo định hướng dư luận.

(3) Chủ động đấu tranh, ngăn chặn, gỡ bỏ, triệt phá, vô hiệu hóa thông tin xấu độc, tin giả, tin sai sự thật. Phát huy vai trò Ban Chỉ đạo 35 các cấp về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nghiên cứu áp dụng những giải pháp kỹ thuật mới về công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ công tác theo dõi, nắm bắt, phân tích, đánh giá, chỉ đạo, điều hành, phối hợp của các lực lượng thuộc Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và Ban Chỉ đạo 35 các ban, bộ, ngành, địa phương trong tổ chức đấu tranh, ngăn chặn, xử lý tin giả, tin sai sự thật, tán phát các video phản cảm, độc hại. Giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận diện, tự phòng chống các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu, độc trên mạng xã hội.

(4) Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống một cách đầy đủ, toàn diện. Đồng thời, chỉ rõ những thủ đoạn, tính chất nguy hại của thông tin xấu độc đối với xã hội; trang bị kiến thức cần thiết để mỗi người có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời "miễn dịch" với những thông tin xấu, độc làm nhiễu loạn môi trường xã hội.

(5) Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet quản lý chặt chẽ thông tin trên không gian mạng; thực hiện chức năng quản lý nhà nước, yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới tại Việt Nam tuân thủ, chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam trên lĩnh vực đảm bảo an ninh, an toàn thông tin mạng.

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

HỌC BÁC HỒ TRONG VIỆC PHÁT HIỆN, SỬ DỤNG NHÂN TÀI

Lịch sử nhân loại đã chứng minh nhân tài luôn là yếu tố quyết định sự hưng thịnh của quốc gia. Nhiều nước trrên thế giới coi phát triển nhân tài là quốc sách của mọi quốc sách, là bí quyết để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, đánh giá cao tầm quan trọng của nhân tài.

1. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người luôn chú trọng đến việc phát hiện nhân tài, sử dụng nhân tài, trọng dụng nhân tài.

Đối với Hồ Chí Minh, việc tìm nhân tài để kiến thiết đất nước là rất quan trọng. Chính vì điều đó, mà ngay sau khi đất nước giành độc lập, Người đã hết sức chú ý đến việc tìm người có tài, có đức để giúp dân, giúp nước. Cuối năm 1946, Người đăng thông cáo “Tìm người tài đức” trên báo Cứu quốc, kêu gọi đồng bào cả nước ở đâu thấy có người tài giỏi thì xin mách bảo với Chính phủ để Chính phủ sử dụng. Người viết: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Người kêu gọi các địa phương phải tìm và giới thiệu người tài đức, những người “có thể làm được những việc ích nước, lợi dân”, “những người hiền năng” để Chính phủ tuyển lựa và trọng dụng. Nhờ có tấm lòng trọng dụng nhân tài như vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được một lực lượng lớn nhân tài để giúp dân, giúp nước.

Đi đôi với việc phát hiện nhân tài, một vấn đề rất quan trọng mà Bác Hồ yêu cầu đó là người lãnh đạo, quản lý phải biết sử dụng, trọng dụng nhân tài một cách hợp lý, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Theo Bác việc sử dụng, trọng dụng nhân tài là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Người cho rằng, trọng dụng nhân tài phải biết tuỳ tài mà dùng người, “tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”. Phải làm cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến, có gan phụ trách, có gan làm… người lãnh đạo phải biết cách trọng dụng họ, tạo cho họ điều kiện là việc thuận lợi, bố trí công việc hợp lý và có chế độ đãi nghộ thỏa đáng, đồng thời xã hội phải tôn vinh họ.

Trong thực tiễn, Bác Hồ là một tấm gương mẫu mực về trọng dụng nhân tài. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức khác nhau về xuất thân, địa vị xã hội nhưng họ đều là những trí thức có tâm huyết xây dựng nước Việt Nam mới. Thành phần trong Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rất đa dạng, thuộc các tầng lớp khác nhau, trí thức Nho học có các nhân sĩ như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe...; trí thức Tây học, trí thức cách mạng có Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai... Họ đều chung một ý chí, đoàn kết, chung tay góp sức xây dựng chế độ mới, bảo vệ độc lập dân tộc. Trong các giai đoạn cách mạng sau này, Người đã thu phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tài năng tham gia vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.

2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định đột phá chiến lược trong phát triển nhân tài: “Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả trong và ngoài nước”. Để hiện thực điều đó, trên tinh thần những chỉ dẫn của Bác Hồ, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số vấn đề sau đây.

Một là, trong công tác phát hiện và tuyển chọn nhân tài. Đảng và Nhà nước cần ban hành các tiêu chí, quy định, quy chế cụ thể để đánh giá nhân tài; thành lập các hội đồng đánh giá và tuyển chọn học sinh năng khiếu, sinh viên tài năng. Thường xuyên tổ chức các đợt tuyển chọn nghiêm ngặt, dân chủ, công khai những người giỏi trong tất cả các lĩnh vực thông qua các hình thức khác nhau. Thành viên hội đồng đánh giá, tuyển chọn nhân tài phải là những người thực sự có tài, gương mẫu, có uy tín, am hiểu sâu về lĩnh vực cần tuyển chọn nhân tài; làm việc công tâm, khách quan, dân chủ. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tài năng có thể tự tiến cử, hoặc tiến cử những người tài năng với Đảng và Nhà nước. Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quần chúng bình chọn và phát hiện tài năng thông qua các hình thức thi cử.

Hai là, trong công tác sử dụng và đãi ngộ nhân tài. Cần thực hiện đẩy đủ, nghiêm ngặt trong tuyển dụng nhân tài, thực hiện đồng bộ các khâu từ tiêu chuẩn hóa, dân chủ hóa, trách nhiệm hóa, cấp độ hóa, kiểm nghiệm hóa. Cần sử dụng những hình thức khác nhau, như: thi tuyển, bầu tuyển, tiến tuyển, ứng tuyển, bổ tuyển, tranh tuyển, cử tuyển. Tùy thuộc và từng đối tượng, từng chức danh công việc, từng thời điểm, điều kiện mà cơ quan tuyển dụng sử dụng linh động phù hợp các hình thức đó. Cần tạo môi trường thuận lợi, chú ý đến sở trường, khả năng của nhân tài để bố trí công việc phù hợp, từ đó nhân tài phát huy, cống hiến hết năng lực của mình. Lựa chọn một số người có năng lực, trí tuệ nổi trội để bồi dưỡng họ trở thành những nhân tài trên một số lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn, đồng thời phát triển đội ngũ này trở thành cán bộ lãnh đạo, lãnh đạo cấp cao trong tương lai. Cần xây cơ chế, chính sách ưu tiên, đãi ngộ cho nhân tài qua hệ thống lương, thưởng xứng đáng với sự cống hiến của họ.

Ba là, trong công tác thu hút nhân tài. Cần xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể để thu hút nhân tài từ bên ngoài, đặc biệt là những trí thức người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Cần tuyên truyền vận động toàn xã hội thực sự coi trọng đội ngũ trí thức, nhân tài này, coi họ là tài sản quý giá của đất nước. Đề ra chính sách thông thoáng và hấp dẫn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân tài là kiều bào, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những nhân tài kiều bào có nguyện vọng, có điều kiện về thăm quê hương, kinh doanh sản xuất, nghiên cứu khoa học… nhằm cống hiến cho đất nước. Đối với những nhân tài xuất chúng ở các lĩnh vực mà Việt Nam đang cần thì có thể trả lương tương đương hoặc cao hơn mức lương họ đang hưởng để thu hút họ về nước chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao trí tuệ, công nghệ.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

NHẬN DIỆN ÂM MƯU TRIỆT ĐỂ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XUYÊN TẠC, ĐẢ KÍCH CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

Triệt đề sử dụng các phương tiện truyền thông xuyên tạc, đả kích chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Các thế lực thù địch triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, báo chí, mạng internet để tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc, công kích chủ nghĩa Mác – Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta nhằm phá vỡ trận địa tư tưởng vô sản, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam đối với xã hội. Trong báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Mỹ, John Aloisi (cựu Phó Đại sứ Mỹ tại Việt Nam) cho rằng: “Thành công lớn nhất là đã thực hiện việc đưa vào Việt Nam mạng Internet. Đó là phương tiện hữu hiệu cho chiến dịch truyền bá các tư tưởng phương Tây nắm trong chiếm lược nhằm thay đổi chính thể ở quốc gia này”. Hiện nay, có khoảng trên 400 trang mạng, 380 tờ báo, tạp chí, 60 đài phát thanh tiếng Việt ngày đêm chĩa vào chống phá cách mạng Việt Nam. Các đài, báo phương Tây như Đài BBC, VOA, RFA, RFI… với chiêu bài “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, đẩy mạnh về móc nối, trả lời phóng vấn, phàn biện xã hội để phát tán các quan điểm cá nhân, xuyên tạc, vu cáo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta làm lung lạc quần chúng nhân dân.

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA HÀNH VI TRỤC LỢI TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Hành vi trục lợi trong quản lý, sử dụng tài sản công có những biểu hiện rất đa dạng và tinh vi, bao gồm:

Một là, trục lợi qua ban hành chính sách trong quản lý tài sản công. Trục lợi trong ban hành chính sách là việc lạm dụng quyền hoặc gây tác động ban hành chính sách và đánh giá chính sách để phục vụ lợi ích của cá nhân hoặc phe nhóm. Đây là một hành vi tham nhũng, trục lợi đặc biệt, nó tạo ra hành lang pháp lý cho việc trục lợi trong một thời gian dài. Đó là tình trạng các cá nhân, doanh nghiệp mưu cầu lợi ích riêng cho bản thân mình, nhóm mình, móc nối, gây ảnh hưởng với những người thiết kế chính sách, những người ra quyết định để đưa ra chính sách, quy định có lợi cho họ, tác động xấu đến lợi ích chung.  

Hai là, trục lợi trong quá trình triển khai thực thi chính sách. Đó chính là việc cố tình chậm chễ trong việc đưa chính sách vào cuộc sống, hoặc là những hành vi cấu kết cố tình làm sai các quy định.  

Ba là, trục lợi trong quản lý hành chính công. Những người được giao quyền đã sử dụng quyền lực hành chính, trình tự thủ tục hành chính để gây khó khăn cho công dân hoặc tổ chức nhằm trục lợi cho bản thân.  

Bốn là, trục lợi trong thu hồi tài sản công. Đó là sự thiếu tích cực và quyết liệt, thậm chí là sự cấu kết với người tham nhũng, trục lợi che giấu, tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản chiếm đoạt, đặc biệt là tẩu tán tài sản ra nước ngoài dẫn đến khó khăn cho việc truy vết và thu hồi tài sản, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước.

 Năm làhành vi trục lợi thường là lợi dụng và lạm dụng quyền lực, cả quyền lực kinh tế và quyền lực hành chính, kể cả "mua quan bán chức" để kiếm lợi bất chính. Để trục lợi, các các nhân hoặc nhóm trục lợi thường lợi dụng sự chênh lệch giá cả thị trường và giá cả nhà nước quy định có tính định hướng để đầu cơ, làm sai lệch mục tiêu định giá của nhà nước và gây thiệt hại cho cộng đồng và chiếm đoạt khoản chênh lệch. Hành vi trục lợi không chỉ ở các cá nhân biến chất, suy thoái, mà chúng cấu kết, liên kết tạo thành nhóm, thậm chí tổ chức liên kết những phân tử có động cơ vụ lợi, trục lợi hoạt động ngầm, dưới hình thức tổ chức phi chính thức. 

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

NỖ LỰC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ ĐÁNG GHI NHẬN CỦA VIỆT NAM TRONG PHÒNG, CHỐNG COVID-19

Việt Nam đã sử dụng công nghệ để theo dõi, truy vết... giúp việc kiểm soát và khoanh vùng dịch bệnh nhanh chóng. Các công nghệ được sử dụng hiệu quả như:

1. Ứng dụng

Việt Nam hiện có 3 ứng dụng khai báo y tế phổ biến và hỗ trợ truy vết trong trường hợp người dùng bị lây nhiễm. Đó là Bluezone, Ncovi và Vietnam Health Declareation (VHD).

Ncovi và VHD là ứng dụng khai báo sức khỏe tự nguyện dành cho người Việt Nam và khách nhập cảnh. Dựa trên dữ liệu được người dùng chia sẻ, hệ thống y tế sẽ biết được các trường hợp cần chú ý để hỗ trợ nhanh nhất.

Bluezone là ứng dụng hỗ trợ truy vết sử dụng sử dụng công nghệ sóng Bluetooth. Smartphone cài ứng dụng Bluezone có thể giao tiếp với nhau trong khoảng cách hai mét, ghi nhận sự tiếp xúc gần vào lúc nào và trong bao lâu qua công nghệ định vị Bluetooth năng lượng thấp.

Khi có một ca nhiễm Covid-19 mới, cơ quan y tế nhập dữ liệu F0 này vào hệ thống. Hệ thống sau đó gửi dữ liệu F0 đến các smartphone khác trong cộng đồng Bluezone. Lịch sử tiếp xúc F0 trong 14 ngày trước đó sẽ được phân tích, đối chiếu và nếu trùng khớp, Bluezone sẽ cảnh báo cho người dùng có nguy cơ lây nhiễm, đồng thời hướng dẫn họ liên hệ với cơ quan y tế để nhận trợ giúp.

2. Camera giám sát từ xa

Các công ty lớn như Viettel, VNPT đã lắp hàng chục nghìn camera ở các khu cách ly. Camera giám sát từ xa sẽ giúp các cơ sở cách ly giảm nhân sự giám sát tại chỗ. Các cơ quan quản lý phòng chống dịch có thể theo dõi toàn bộ hoạt động tại các khu vực có gắn camera từ hệ thống quản lý 24/24 giờ.

Các hệ thống camera sử dụng điện toán đám mây để lưu dữ liệu, đồng thời bảo mật tốt hơn. Các tính năng chính của hệ thống camera là giám sát trực tiếp (live view), xem lại (play back), phân quyền người dùng (nhóm người dùng), bảo vệ dữ liệu người dùng, ghi log truy cập, lưu trữ theo quy định của Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống Covid-19. Các tính năng nâng cao sẽ được cập nhật theo yêu cầu thực tế.

3. Vòng tay giám sát

Sản phẩm do G-Innovations phát triển có nền tảng khá giống vòng đeo tay sức khỏe hiện nay. Tuy nhiên, các tính năng, quản lý được tùy chỉnh để phù hợp với nhiệm vụ chính là quản lý người thuộc diện cách ly.

Vòng tay giám sát có 2 bản: G-Track Bluetooth và G-Track GPS đều chống nước chuẩn cao IPx8 và chịu được va đập mạnh. Cảm biến xuất hiện trên cả hai thiết bị là cảm biến đeo (phát hiện vòng bị tháo khỏi tay), đo thân nhiệt, đếm bước chân, tình trạng hoạt động. Thiết bị có thể phát hiện các thay đổi về độ cao, nhờ vậy ghi lại được cả quá trình di chuyển giữa các tầng chung cư, hỗ trợ việc truy vết tốt hơn. Thời lượng pin của cả hai sản phẩm đều là 30 ngày.

4. Camera AI

Hệ thống AI trong camera của công ty BA GPS phát hiện người không đeo khẩu trang và gửi cảnh báo thời gian thực cho nhà quản lý.

Tính năng giám sát người không đeo khẩu trang này được triển khai miễn phí trên các xe vận tải hành khách từ tháng 6. Cụ thể, hệ thống phân tích kết nối với camera trên xe để lấy dữ liệu hình ảnh, sau đó AI sẽ tự động phân tích, đánh dấu ô đỏ và gửi cảnh báo về đơn vị vận tải mỗi khi phát hiện có hành khách hoặc nhân viên nhà xe không đeo khẩu trang, hoặc đeo khẩu trang không đúng cách. Công nghệ giúp doanh nghiệp vận tải nhắc nhở từ xa và kịp thời nếu phát hiện trường hợp vi phạm, giảm lây lan dịch bệnh trong môi trường đông người và khó truy vết.

BKAV sử dụng camera AI giúp kiểm soát người nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Bình thường, người trực hệ thống sẽ phải quan sát màn hình 24/7 để phát hiện người xâm nhập bất hợp pháp. Đồng thời, hệ thống camera an ninh truyền thống cũng phải thiết lập tốn kém về hạ tầng để đáp ứng nhu cầu này. Trong khi đó, camera AI có thể được lập trình để đưa ra mệnh lệnh về trung tâm điều hành ngay khi phát hiện có người xâm nhập bất hợp pháp, từ đó giảm thiểu sức người. Ngoài ra, hạ tầng cho hệ thống này cũng được cắt giảm, bởi toàn bộ thông tin được xử lý trực tiếp từ camera. Ngoài ra camera AI còn hỗ trợ giám sát cho các doanh nghiệp như cảnh báo tự động khi khoảng cách giữa hai người đứng xếp hàng không đủ 2 mét, nhận diên khuôn mặt.

5. Bản đồ Covid

Nhiều hệ thống bản đồ về tình hình dịch bệnh Covid-19 được xây dựng bởi chính quyền các tỉnh thảnh phố hay các công ty tại Việt Nam cho cho phép người dân có thể xem những điểm cách ly tập trung, các vùng cách ly y tế và chốt kiểm soát dịch bệnh hiển thị trên bản đồ theo thời gian thực. Tùy thuộc từng khu vực, bản đồ có thể hiển thị danh sách bệnh nhân theo số hiệu hoặc chữ viết tắt, cùng thông tin cá nhân cơ bản như năm sinh, giới tính, tình trạng sức khoẻ và nơi đang điều trị.

Bản đồ số hiển thị rất cụ thể, trên màn hình có chú thích cho từng biểu tượng như vùng cách ly, khu vực nhà bệnh nhân, chốt kiểm soát dịch... để người dân dễ dàng nắm bắt thông tin và không di chuyển đến các khu vực này. Mục tiêu của bản đồ là giúp người dân có thể biết rõ về tình hình dịch Covid-19 tại khu vực mình sống.