Từ phía những người căm ghét chủ nghĩa cộng sản,
chúng ta dễ bắt gặp một cái nhìn miệt thị cho rằng: “những người mácxít là những người cổ vũ cho hành động chính trị bạo lực”. Đó là những quan điểm ngụy biện ngây ngô của một số kẻ muốn chống lại chủ nghĩa Mác, ủng hộ cho những kẻ muốn
duy trình một xã hội tư bản thuần túy. Chúng ta biết rằng trong lịch sử đã
có rất nhiều cuộc cải cách thường được coi
là hòa bình, ôn hòa lại làm bùng lên xung đột, đẫm máu, như phong trào dân quyền
ở Mỹ. Ngược lại, rất nhiều cuộc cách mạng
thường được coi là bạo lực lại diễn ra khá hòa bình như cuộc cách mạng
bôn-sê-vích ở Nga năm 1917. Trong suốt quá trình hình thành và phát
triển đến nay chủ nghĩa tư bản, từ bản chất của
nó, luôn đồng hành với chiến tranh toàn
cầu (Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Chiến tranh thế giới lần thứ hai), với
bóc lột thuộc địa, diệt chủng và nạn
đói. “Quá
trình đẫm máu” của chủ nghĩa tư bản và vấn đề bạo lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự khác hẳn nhau về mọi phương diện. Cần phải
thấy rõ phong trào công nhân không phải là bạo lực mà là chấm dứt bạo lực. Chụp
mũ cho cách mạng xã hội chủ nghĩa tính chất bạo lực là sự vu khống của
những kẻ tư biện, hoặc là thiếu hiểu biết, muốn che lấp đi tính chất bóc lột,
hiếu chiến của chủ nghĩa tư bản mà thôi. Nhưng sự thật của cái chế độ xã hội ấy
đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ là không thể có sự
vĩnh hằng và là xã hội cuối cùng của loài người được. Và thực tiễn những gì
đang xảy ra trên thế giới đã chứng minh cho cái gọi là hành động chính trị bạo lực của ai và do ai.
Hiển thị các bài đăng có nhãn mác xít. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mác xít. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018
Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016
Các trường phái dân tộc học trên thế giới hiện nay?
Hiện nay, trên thế giới có 5 trường phái dân tộc học sau đây:
Trường phái tiến hóa - trường phái tiến
bộ, xuất hiện ở châu Âu những thập kỷ 50-60 thế kỷ XIX, đại biểu là các nhà
sáng lập: A.Bastian, I.Bacôphen, E.Taylo, L.G.Moocgan. Trường phái này dựa vào học
thuyết tiến hóa của Đácuyn và những thành tựu của khoa học tự nhiên để giải
thích về sự tiến hóa của các tộc người và lịch sử phát triển nhân loại. Nó thừa
nhận tính thống nhất, sự tiến bộ của loài người là một quá trình tự nhiên từ
thấp đến cao, sự phát triển của xã hội là do sản xuất vật chất. Trường phái này
vẫn còn có nhiều hạn chế như máy móc, chủ nghĩa dân tộc hoặc coi sự phát triển của xã hội
theo một đường thẳng liên tục từ đơn giản đến phức tạp.
Trường phái văn hóa lịch
sử - trường phái xuất hiện cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX ở Đức và Anh, dựa trên cơ sở thuyết địa lý chủng tộc của nhà địa lý học,
dân tộc học người Đức Rátxen (1844-1904). Nó cho rằng sự khuếch tán và môi
trường địa lý đóng vai trò quyết định đến sự phát triển văn hóa và xã hội. Theo
đó, yếu tố văn hóa là do điều kiện địa lý quyết định; ở những nơi điều kiện địa
lý không thuận lợi thì văn hóa sẽ không phát triển, thường bảo lưu văn hóa lạc
hậu. Những nơi điều kiện địa lý thuận lợi, văn hóa sẽ phát triển, văn minh hơn.
Thực chất những luận điểm trên là cơ sở để biện hộ cho chính sách bành trướng
xâm lược của giai cấp tư sản.
Trường phái chức năng
- người sáng lập và đứng đầu trường phái này là B.Manilốpxki. Ông cho
rằng, nhiệm vụ trước hết của dân tộc học là nghiên cứu chức năng của các hiện
tượng văn hóa, nghiên cứu mối liên hệ tương tác và sự chế định lẫn nhau. Phải
nghiên cứu văn hóa của mỗi xã hội giống như là một hiện tượng đơn nhất, trong
đó tất cả các bộ phận có quan hệ với nhau bằng thực thi những chức năng xác
định. Lý thuyết của chức năng luận có đặc điểm là phản phương pháp lịch sử một
cách cực đoan. Nó được sử dụng rộng rãi ở nước Anh cho mục đích điều hành các
xã hội thuộc địa của chế độ thực dân.
Trường phái tâm lý
chủng tộc hình thành và phát triển
từ sau thế chiến thứ hai
ở Mỹ, cơ sở phương pháp luận dựa vào “Thuyết Fơrớt” trong tâm lý học và trường
phái “Văn hóa lịch sử” của dân tộc học Đức. Trường phái này cho rằng, yếu tố
quyết định đời sống xã hội là ở tâm lý con người; mỗi con người, mỗi dân tộc có
một tâm lý khác nhau; kẻ nghèo suy nghĩ theo đầu óc người nghèo; chỉ có người
giàu và dân tộc văn minh mới khai hóa cho kẻ nghèo được để phát triển… Đây là
một quan điểm hết sức phản động, phục vụ cho lối sống Mỹ, ca ngợi mô hình “văn
hóa” và “dân chủ” kiểu Mỹ.
Trường phái dân tộc học
mác xít. C.Mác và Ph. Ăngghen đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề
dân tộc và quan hệ dân tộc theo phương pháp luận mác xít. Khác biệt căn bản
trong nghiên cứu dân tộc học mác xít với các trường phái khác là ở chỗ gắn liền
vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, quan hệ tộc người với quan hệ xã hội, quan
hệ giai cấp. V.I.Lênin là người đã kế thừa và phát triển xuất sắc những quan
điểm dân tộc học của C.Mác và Ph.Ăngghen. Ông đã nghiên cứu và giải quyết các
vấn đề dân tộc theo tinh thần thực hiện quyền bình đẳng, quyền tự quyết và
quyền liên hợp của các dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân.
Sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, dân tộc học mác xít phát triển mạnh
mẽ và trường phái dân tộc học Xôviết ra đời. Nền dân tộc học Xôviết đã đạt được
nhiều thành tựu trong nghiên cứu các vấn đề lý luận dân tộc học với những tên
tuổi tiêu biểu như: A.Guberơ, P.Tônxtốp, N.Trêbốcxarốp, I.U.Brômlây... Các tư tưởng
của trường phái này đã có ảnh hưởng lớn đến khuynh hướng phát triển của ngành Dân
tộc học Việt Nam.
Nhãn:
chủng tộc,
chức năng,
dân tộc học,
mác xít,
tiến hóa,
trường phái,
văn hóa lịch sử
Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016
TẠI SAO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA PHẢI CÓ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG MÁC-XÍT CHÂN CHÍNH?
Ngay từ khi mới ra đời,
giai cấp vô sản đã trở thành lực lượng đối lập trực tiếp về quyền lợi với giai
cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột đến bần cùng. Do vậy, giai cấp vô sản
luôn phản kháng quyết liệt và tổ chức các hoạt động đấu tranh chống lại giai cấp
tư sản, chống lại chế độ áp bức tư bản chủ nghĩa. Xoá bỏ chủ nghĩa tư bản
xây dựng xã hội mới tốt đẹp không có người bóc lột người chính là sứ mệnh lịch
sử thế giới của giai cấp công nhân hiện đại.
Phát
hiện ra sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là một phát hiện vĩ đại của
chủ nghĩa Mác- Lênin; thực hiện nó, biến nó trở thành hiện thực là trách nhiệm
cao cả của phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Tuy nhiên, để thực hiện
được sứ mệnh lịch sử cao cả đó thì giai cấp vô sản phải thành lập được chính
đảng của mình và xây dựng nó thực sự trở thành đội tiên phong, bộ chỉ huy tham
mưu chiến đấu của giai cấp.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, ở đâu, lúc
nào giai cấp vô sản xây dựng được chính đảng vững mạnh, thì phong trào đấu
tranh của công nhân đi đúng hướng và đạt hiệu quả, ngược lại nếu giai cấp vô
sản không tổ chức ra được chính đảng, không quan tâm đến công tác xây dựng đảng
thì phong trào trì trệ, khủng hoảng, thậm chí tan giã sụp đổ. Đây là vấn đề có
tính quy luật trong sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Bằng
quan điểm duy vật về lịch sử, Mác và Ăng Ghen đã luận chứng một cách khoa học về
sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản, về tính tất yếu của sự
quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang một hình thái kinh tế xã hội cao hơn là chủ
nghĩa cộng sản, mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Hai ông cũng đã chỉ
ra rằng bước chuyển biến đó không phải diễn ra một cách tự phát mà bằng con đường
cách mạng xã hội; đồng thời hai ông cũng chỉ rõ lực lượng thực hiện sự chuyển
biến đó là giai cấp vô sản hiện đại. Việc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản xây dựng chủ
nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới ấy chính là sứ mệnh lịch sử của giai
cấp vô sản; sứ mệnh lịch sử ấy không phải do ý muốn chủ quan của giai cấp vô sản,
cũng không phải do ý muốn chủ quan của một giai cấp, một tầng lớp hay một cá
nhân nào đặt ra, mà là do chính địa vị kinh tế- xã hội của giai cấp vô sản quy
định.
Tuy nhiên, giai cấp
vô sản muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì phải tổ chức ra được
chính đảng cách mạng của giai cấp mình; chính đảng đó phải có đủ khả năng, phẩm
chất lãnh đạo, hướng dẫn phong trào cách mạng của công nhân. Đó cũng chính là
điều kiện tiên quyết nhất, và quan trọng nhất bởi vì chỉ khi nào giai cấp vô sản
tổ chức được ra chính đảng chính trị của mình, thì cuộc đấu tranh của giai cấp
vô sản mới chuyển từ đấu tranh tự phát, rời rạc thành cuộc đấu tranh tự giác,
có tổ chức lãnh đạo, hành động thống nhất; và cũng chỉ khi đó thì giai cấp vô sản
mới chuyển từ giai cấp “tự mình” thành giai cấp “vì mình”.
Trong tác phẩm “Bệnh ấu
trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản” V.I.Lênin đã khẳng định: “ Không có một đảng sắt thép được tôi luyện
trong đấu tranh, không có một đảng được sự tín nhiệm của tất cả những phần tử
trung thực trong giai cấp nói trên, không có một đảng biết nhận xét tâm trạng của
quần chúng và biết tác động vào tâm trạng đó thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được".
Phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế trước khi chủ nghĩa Mác ra đời vốn là các
phong trào lẻ tẻ, rời rạc lại mang tính tự phát, nên phát triển chậm chạp và
không đạt hiệu quả; hoạt động đấu tranh của họ mới chỉ hướng vào đập phá máy
móc, đòi hỏi quyền lợi kinh tế như các cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xi nê
di (Đức), cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Ly Ông (Pháp), hoặc
cải lương đòi giai cấp tư sản, chính phủ tư sản giảm bớt các chính sách hà khắc
đối với mình như phong trào hiến chương ở Anh... Kết quả tất cả các phong
trào trên đều bị thất bại và bị giai cấp tư sản đàn áp đẫm máu. Ngay cả khi chủ
nghĩa Mác đã ra đời, đã từng bước thấm sâu vào phong trào công nhân, giai cấp
công nhân đã phần nào có một vũ khí lý luận cách mạng, đã làm được cái mà trước
đây họ chưa bao giờ mơ ước là họ đã “thực sự” trở thành người “làm chủ” xã hội
trong thời gian ngắn ngủi ở công xã Pa ri (1872), nhưng niềm “hân hoan” ấy đã
không tồn tại được bao lâu lại phải chịu cảnh “đầu rơi máu chảy” dưới sự đàn
áp của giai cấp tư sản phản động. Thất bại của công xã Pa ri một mặt do giai cấp
công nhân Pa ri đã thiếu triệt để cách mạng, mặt khác quan trọng hơn là do giai
cấp công nhân Pa ri chưa có một chính đảng cách mạng. Lịch sử một lần nữa lại
chứng minh rằng, nếu không thành lập được chính đảng Mác xít thì phong trào công nhân không những không
phát triển được, mà còn phải chịu những thất bại thảm hại.
Lịch sử phong trào
cũng đã chứng minh rằng; mặc dù giai cấp vô sản đã tổ chức ra được chính đảng
của mình, nhưng lúc nào và ở đâu nếu đảng của giai cấp vô sản được xây dựng vững
mạnh về chính trị tư tởng và tổ chức thì phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân mới phát triển mạnh và thu được nhiều thành công; ngược lại nếu
đâu, khi nào đảng của giai cấp công nhân không thường xuyên được xây dựng trong
sạch, bị bọn cơ hội, xét lại lợi dụng, lũng đoạn thì ở đó phong trào sẽ không
phát triển dc, thậm chí bị thất bại, Quốc tế II là một minh chứng.
Nhận thức rõ vị trí vai trò của đảng mác xít đối
với sự phát triển của phong trào công nhân, V.I.Lênin đã đấu tranh tích cực chống
bọn cơ hội chủ nghĩa,vạch trần bản chất của chúng bảo vệ chủ nghĩa Mác và cùng
những người đảng viên trung kiên trong đảng dân chủ xã hội Nga đã từng bước đấu
tranh thành lập ra tổ chức đảng kiểu mới, một Đảng thực sự cách mạng trên nền tảng
của chủ nghĩa Mác. Do ảnh hưởng tư tưởng của Lênin và Đảng Bôn-xê-vích Nga,
trong thập niên thứ hai của thế kỷ XX đã ra đời hàng loạt các Đảng cộng sản
theo tư tưởng đảng Mác xít kiểu mới như: Đảng cộng sản Đức, Áo, Phần Lan, Ba
Lan ( năm 1918); Mỹ, Ý (năm 1920)... Khi các Đảng công nhân được củng cố, thì phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng được vực dậy, đỉnh cao của nó là cách
mạng Tháng Mười Nga 1917. Thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã mở
ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên hiện
thực; mở ra một thời đại mới thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp
năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất. Trong lịch
sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như
thế”.
Sau thắng lợi của
cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Nga; giai cấp
công nhân và nhân dân Nga đã bảo vệ được thành quả của cách mạng trớc sự bao
vây chống phá của chủ nghĩa đế quốc, hào hứng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đã
thu được nhiều thành công, tạo ra sức mạnh để giành thắng lợi trong chiến
tranh thế giới lần thứ II.
Với những thành
công vang dội ấy nó đã cổ vũ và thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế phát triển mạnh mẽ; các đảng cộng sản, dưới ngọn cờ của cách mạng Tháng Mười
Nga đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân nước mình làm cách mạng xã hội
chủ nghĩa, dẫn đến sự ra đời của một loạt các nước xã hội chủ nghĩa, hình
thành lên hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh vào những năm 50, 60 của thế kỷ
XX; hàng loạt nước thuộc địa sau khi giành chính quyền cũng chọn con đường chủ
nghĩa xã hội hoặc phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những năm 70-
80 của thế kỷ XX, những thành tựu to lớn của chủ nghĩa xã hội đã chứng thực đó
là một xã hội tốt đẹp; đã luận giải tính đúng đắn của lý luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin, trong đó có lý luận về sự lãnh đạo của Đảng vô sản, lý luận về xây
dựng đảng và quy luật về mối quan hệ giữa xây dựng chính Đảng vô sản vững mạnh
với sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Cuối thập kỷ 80, đầu
90 thế kỷ XX chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đã dẫn đến
sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, để lại cho phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế những tổn thất hết sức nặng nề. Sự sụp đổ của
Liên Xô và Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân
quan trọng có ý nghĩa quyết định đó là công tác xây dựng đảng không được trú trọng
đúng mức, tạo cơ sở cho những phần tử cơ hội xét lại lũng đoạn Đảng, làm mất uy
tín của Đảng với nhân dân. Sự sụp đổ đó để lại cho chúng ta nhiều bài học, một trong những bài học đó là phải thường
xuyên làm tốt công tác xây dựng Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Điều
này một lần nữa chứng minh mối quan hệ giữa công tác xây dựng Đảng với sự phát
triển và sinh tồn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế./.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)