Hiển thị các bài đăng có nhãn chủng tộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chủng tộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Sự phân bố và đặc điểm cơ bản của các chủng tộc trên thế giới hiện nay

Các nhà khoa học phân chia loài người thành 4 chủng tộc (đại chủng) với sự phân bố và đặc điểm cơ bản như sau:
Chủng tộc Môngôlôit (đại chủng Á) có màu da từ vàng, sáng đến tối sẫm hay đồng hun (người da đỏ châu Mĩ). Lông trên mình ít phát triển; tóc đen thẳng, hơi cứng; mặt to bẹt (trừ người da đỏ); mũi trung bình, sống mũi vừa phải; mắt có mí lót, mí trên rõ; đầu tròn hoặc ngắn; răng cửa hình xẻng; chiều cao trung bình. Có số người đông nhất, chiếm 50% dân số thế giới (khoảng 3 tỷ). Phân bố chủ yếu ở Đông Á, Đông Nam Á, Trung Á, Xibêri, châu Mỹ. Gồm 3 tiểu chủng: Bắc Môngôlôit, Nam Môngôlôit, Americanôit. Giữa 2 tiểu chủng Bắc và Nam tách ra một vài nhóm trung gian. Tiểu chủng Americanôit không thuần nhất, gồm nhiều loại hình, mức độ biến dị khá phổ biến.
Chủng tộc Ốtxtralôit (đại chủng Úc) còn gọi là thổ dân châu Úc, có đặc điểm: lông trên mình rậm rạp; râu phát triển mạnh; tóc đen uốn làn sóng; da đen hoặc nâu sẫm; mặt ngắn; lỗ mũi rộng cánh mũi to, sống mũi gãy và bẹt; tầm vóc trung bình thấp; đầu dài đến rất dài; răng cửa hình xẻng chiếm 40- 70%; môi dày; hàm trên hơi vâu. Cư trú chủ yếu ở châu Đại Dương, các đảo trên Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương; số lượng khoảng 25 triệu người.
Chủng tộc Ơrôpôit (đại chủng Âu), chủng tộc có lớp lông lần thứ 3 trên cơ thể rất phát triển, nhất là râu; tóc màu sáng đến nâu đen, thường uốn làn sóng và mềm; màu da sáng (riêng tiểu chủng phương Nam Ơrôpôit có nước da ngăm đen); mặt hẹp và dài; sống mũi cao hẹp; đầu tròn; răng có núm phụ chiếm 40-70%; tầm vóc cao hoặc trung bình cao; vân tay ít. Người Ơrôpôit cư trú chủ yếu ở châu Âu, Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á. Sau các phát kiến địa lý ở thế kỷ XV-XVI, người Ơrôpôít bành trướng khắp thế giới, đến châu Mỹ, châu Úc. Họ gồm 2 tiểu chủng: Bắc Ơrôpôít và Nam Ơrôpôit. Bắc Ơrôpôit có màu da, mắt và tóc sáng hơn, tóc dạng sóng, chiều cao cơ thể lớn hơn. Nam Ơrôpôit phân bố ở Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á (Ấn Độ, Pakitxtan, Ảrập Xêút, Ai Cập...) có màu da, mắt, tóc đen, chiều cao thấp hơn nhóm Bắc Ơrôpôít. Chủng Ơrôpôit chiếm khoảng 35% dân số thế giới, hơn 2 tỷ người.
Chủng tộc Nêgrôit (đại chủng Phi) chủng tộc lông trên người rất ít; tóc xoăn tít; da đen sẫm; cánh mũi rộng, bè ngang; môi rộng, to và dày; mặt ngắn; đầu dài; thân dài (trừ người Pích mê); chiều cao lớn, răng có núm phụ; vân tay ít. Cư trú tập trung ở châu Phi, một phần di cư bắt buộc sang châu Mỹ (thế kỷ XVI-XVII). Chủng tộc Nêgrôit có khoảng hơn 700 triệu người.

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Mối quan hệ giữa chủng tộc với tộc người và quốc gia dân tộc

Giữa chủng tộc, tộc người và quốc gia dân tộc có những mối quan hệ phức tạp, đan xen nhiều chiều. Thời gian ra đời các chủng tộc loài người cũng là lúc con người bước vào xã hội cộng sản nguyên thủy với hình thức cộng đồng tộc người đầu tiên là thị tộc - bộ lạc. Nhưng chủng tộc thuộc phạm trù sinh học còn tộc người, quốc gia dân tộc thuộc phạm trù lịch sử.
Hiện nay, loài người có 4 chủng tộc bao gồm 3.000 tộc người cư trú ở hơn hai trăm quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Các tộc người trong cùng một chủng tộc nhưng có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều nhau, thuộc các hình thức cộng đồng tộc người khác nhau sinh sống ở nhiều quốc gia. Chẳng hạn, bộ phận chủng tộc Ơrôpôit ở Tây Âu và Bắc Mỹ đang là những tộc người, quốc gia dân tộc phát triển hàng đầu trên thế giới nhưng bộ phận ở Nam Á, Bắc Phi lại được xếp vào các nước thế giới thứ ba.
Mặt khác, trong một quốc gia dân tộc có thể bao gồm cư dân thuộc nhiều chủng tộc cùng sinh sống, ví dụ cư dân Mỹ hiện đang có nguồn gốc đến từ cả 4 chủng tộc trên thế giới. Xu thế hỗn chủng đã xảy ra từ hàng vạn năm trước và ngày càng gia tăng bởi quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa. Hôn nhân giữa các chủng tộc, hôn nhân xuyên quốc gia, hôn nhân hỗn hợp tộc người ngày càng phổ biến làm gia tăng pha trộn giữa các chủng tộc. Song lịch sử đã chứng minh, các chủng tộc, tộc người, quốc gia dân tộc đều bình đẳng trong phát triển và đóng góp vào nền văn minh của nhân loại. Nhiều trung tâm văn minh rực rỡ của người da màu đã từng tồn tại vào thời cổ, trung đại ở Á, Phi và châu Mĩ.

Tuy nhiên, quan hệ giữa chủng tộc với tộc người và quốc gia dân tộc là những quan hệ rất phức tạp, nhạy cảm; đã và đang chi phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị - xã hội ở nhiều quốc gia, khu vực và quốc tế. Trong các xã hội còn đối kháng giai cấp, các quan hệ này chứa đựng nhiều bất bình đẳng, làm nảy sinh các mâu thuẫn, dẫn đến xung đột và chiến tranh. Hơn nữa, các chủ nghĩa đế quốc và các thế lực bên ngoài luôn lợi dụng vấn đề tộc người, chủng tộc để can thiệp vào các quốc gia dân tộc hòng mưu đồ các lợi ích của chúng, gây ra thù hằn tộc người, phân biệt chủng tộc và mâu thuẫn dân tộc.

Các tiêu chí để phân loại chủng tộc trên thế giới hiện nay

Có 12 tiêu chí phân loại các chủng tộc trên thế giới như sau:
Dựa vào màu sắc của da, mắt, tóc được chia ra làm 3 màu cơ bản là: màu tối, màu trung gian và màu sáng. Ví dụ: Da có ba màu: đen, nâu sẫm; hơi nâu, vàng; da trắng.
Hình dạng tóc, có 3 dạng tóc: xoăn, sóng và thẳng.
Số lượng lớp lông lần 3 trên cơ thể ở người trưởng thành.
Hình dạng khuôn mặt, được chia ra làm ba loại: mặt rộng, mặt hẹp và trung bình.
Kích thước của đầu và hộp sọ, có các chuẩn đầu loài người: dài; trung bình, tròn, quá ngắn. Ví dụ: Thổ dân Úc, người Phi thuộc loại đầu dài, người Đông Nam Á hải đảo thuộc loại đầu trung bình, người Việt thuộc loại đầu tròn.
Hình dạng mắt - sự phát triển của nếp mí mắt có 4 chuẩn số: không có nếp, ít phát triển, phát triển trung bình, phát triển nhiều.
Hình dạng mũi, có 3 dạng mũi theo các thông số: cao, hẹp; trung bình; bẹt, rộng. Hình dạng mũi chủ yếu do xương sống mũi và sụn quy định tạo ra mũi cao hay thấp, sống mũi thẳng khoằm hay lõm, rộng hay hẹp.
Căn cứ vào độ dày của môi, được chia ra làm 3 loại: dày, trung bình, mỏng. Đồ dày môi được tính khi ngậm miệng lại và môi dưới luôn dày hơn.
Tầm vóc và kích thước của thân thể, được xác định có các loại: lùn, rất thấp, thấp, trung bình thấp, trung bình, cao, rất cao, khổng lồ. Chiều cao là đặc điểm phân loại chủng tộc tương đối điển hình.
Tỷ lệ thân hình - cách tính phổ biến là dựa vào kích thước giữa xương chi và chiều ngang của vai so với chiều dài toàn thân. Theo đo đạc nhân trắc học, loài người có 3 loại thân hình: ngắn, trung bình và dài.
Hình thái răng, ở các chủng tộc có sự khác nhau. Chủng tộc Môngôlôit và Ôtxtralôit, số người có răng cửa hình lưỡi xẻng chiếm tới hơn 60% (dân gian gọi là răng bàn cuốc). Chủng tộc Nêgrôit và Ơrôpôit, răng hàm trên có núm phụ rất phổ biến.
Hình dạng vân tay, có 3 dạng: xoáy, móc và vòng cung.

Ngoài các tiêu chí cơ bản trên, người ta còn căn cứ vào một số đặc điểm khác để phân loại chủng tộc như: dáng cằm, kích thước miệng, mức độ phát triển của lông mày, vành tai, nhóm máu...

Chủng tộc là gì?

Chủng tộc là một quần thể hay một tập hợp quần thể người được phân biệt bởi những đặc điểm di truyền về hình thái - sinh lý, mà nguồn gốc và quá trình hình thành các đặc điểm ấy liên quan đến một vùng địa vực nhất định.
Toàn nhân loại ngày nay đều bắt nguồn từ một loài duy nhất gọi là Hômôsapiêng (người khôn ngoan). Dưới loài người là các chủng tộc (race), rồi phân chia thành các tiểu chủng và loại hình nhân chủng. Nhờ thành tựu của sinh vật học và các khoa học tự nhiên, từ những năm 50 của thế kỷ XX, nhân chủng học đã phân loại chủng tộc loài người dựa vào các đặc điểm hình thái bề ngoài gắn liền với đặc điểm khu vực địa lý cư trú, lấy đơn vị nghiên cứu để phân loại là quần thể sinh học.
Có thể thấy, chủng tộc là tập đoàn người hình thành trong quá trình lịch sử có chung những đặc điểm di truyền ổn định về hình thái bề ngoài như: màu da, tóc, mắt, hình dạng mũi, môi, chiều cao v.v... Mỗi chủng tộc có những đặc điểm hình thái cơ thể chung, mang tính di truyền ổn định, do xuất phát từ một nguồn gốc chung và được phân bố trong một vùng lãnh thổ nhất định. Các chủng tộc khác nhau ở hình dáng bề ngoài song đều bình đẳng về cấu tạo cơ thể, năng lực tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Các đặc điểm di truyền về hình thái của chủng tộc là do tính chất thích nghi lâu dài của cơ thể con người với điều kiện tự nhiên nơi cư trú. Những đặc điểm ấy được quy định bởi cấu trúc di truyền gien phức tạp. Các nhà nhân chủng học đã chọn lọc ra các đặc điểm hình thái chung nhất, nổi bật nhất để phân chia loài người thành chủng tộc. Sau đó, trong một chủng tộc, bên cạnh những đặc điểm chung của chủng tộc, người ta lại dựa vào các đặc điểm hình thái có sự khác biệt nhất định của các khối người gọi là đặc điểm thứ cấp để phân chia chủng tộc thành các tiểu chủng, và dựa vào những đặc điểm nhỏ hơn nữa để phân chia tiểu chủng thành các loại hình nhân chủng. Ví dụ: Chủng tộc Môngôlôit được chia làm 3 tiểu chủng, 9 loại hình nhân chủng.

Như vậy, chủng tộc thuộc phạm trù sinh học, không phải phạm trù xã hội bởi cách tiếp cận phân loại và đơn vị nghiên cứu là của sinh học. Sự phân biệt và nhận biết chủng tộc là ở hình thái bề ngoài có tính đặc trưng. 

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Các trường phái dân tộc học trên thế giới hiện nay?

Hiện nay, trên thế giới có 5 trường phái dân tộc học sau đây:
Trường phái tiến hóa - trường phái tiến bộ, xuất hiện ở châu Âu những thập kỷ 50-60 thế kỷ XIX, đại biểu là các nhà sáng lập: A.Bastian, I.Bacôphen, E.Taylo, L.G.Moocgan. Trường phái này dựa vào học thuyết tiến hóa của Đácuyn và những thành tựu của khoa học tự nhiên để giải thích về sự tiến hóa của các tộc người và lịch sử phát triển nhân loại. Nó thừa nhận tính thống nhất, sự tiến bộ của loài người là một quá trình tự nhiên từ thấp đến cao, sự phát triển của xã hội là do sản xuất vật chất. Trường phái này vẫn còn có nhiều hạn chế như máy móc, chủ nghĩa dân tộc hoặc coi sự phát triển của xã hội theo một đường thẳng liên tục từ đơn giản đến phức tạp.
Trường phái văn hóa lịch sử - trường phái xuất hiện cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Đức và Anh, dựa trên cơ sở thuyết địa lý chủng tộc của nhà địa lý học, dân tộc học người Đức Rátxen (1844-1904). Nó cho rằng sự khuếch tán và môi trường địa lý đóng vai trò quyết định đến sự phát triển văn hóa và xã hội. Theo đó, yếu tố văn hóa là do điều kiện địa lý quyết định; ở những nơi điều kiện địa lý không thuận lợi thì văn hóa sẽ không phát triển, thường bảo lưu văn hóa lạc hậu. Những nơi điều kiện địa lý thuận lợi, văn hóa sẽ phát triển, văn minh hơn. Thực chất những luận điểm trên là cơ sở để biện hộ cho chính sách bành trướng xâm lược của giai cấp tư sản.
Trường phái chức năng - người sáng lập và đứng đầu trường phái này là B.Manilốpxki. Ông cho rằng, nhiệm vụ trước hết của dân tộc học là nghiên cứu chức năng của các hiện tượng văn hóa, nghiên cứu mối liên hệ tương tác và sự chế định lẫn nhau. Phải nghiên cứu văn hóa của mỗi xã hội giống như là một hiện tượng đơn nhất, trong đó tất cả các bộ phận có quan hệ với nhau bằng thực thi những chức năng xác định. Lý thuyết của chức năng luận có đặc điểm là phản phương pháp lịch sử một cách cực đoan. Nó được sử dụng rộng rãi ở nước Anh cho mục đích điều hành các xã hội thuộc địa của chế độ thực dân.
Trường phái tâm lý chủng tộc hình thành và phát triển từ sau thế chiến thứ hai ở Mỹ, cơ sở phương pháp luận dựa vào “Thuyết Fơrớt” trong tâm lý học và trường phái “Văn hóa lịch sử” của dân tộc học Đức. Trường phái này cho rằng, yếu tố quyết định đời sống xã hội là ở tâm lý con người; mỗi con người, mỗi dân tộc có một tâm lý khác nhau; kẻ nghèo suy nghĩ theo đầu óc người nghèo; chỉ có người giàu và dân tộc văn minh mới khai hóa cho kẻ nghèo được để phát triển… Đây là một quan điểm hết sức phản động, phục vụ cho lối sống Mỹ, ca ngợi mô hình “văn hóa” và “dân chủ” kiểu Mỹ.
Trường phái dân tộc học mác xít. C.Mác và Ph. Ăngghen đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc theo phương pháp luận mác xít. Khác biệt căn bản trong nghiên cứu dân tộc học mác xít với các trường phái khác là ở chỗ gắn liền vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, quan hệ tộc người với quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp. V.I.Lênin là người đã kế thừa và phát triển xuất sắc những quan điểm dân tộc học của C.Mác và Ph.Ăngghen. Ông đã nghiên cứu và giải quyết các vấn đề dân tộc theo tinh thần thực hiện quyền bình đẳng, quyền tự quyết và quyền liên hợp của các dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân.

Sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, dân tộc học mác xít phát triển mạnh mẽ và trường phái dân tộc học Xôviết ra đời. Nền dân tộc học Xôviết đã đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu các vấn đề lý luận dân tộc học với những tên tuổi tiêu biểu như: A.Guberơ, P.Tônxtốp, N.Trêbốcxarốp, I.U.Brômlây... Các tư tưởng của trường phái này đã có ảnh hưởng lớn đến khuynh hướng phát triển của ngành Dân tộc học Việt Nam.