Hiển thị các bài đăng có nhãn một đảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn một đảng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU: “MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN, ĐẤT NƯỚC RƠI VÀO TRÌ TRỆ”(?!)

Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã 93 năm, lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, trên nhiều diễn đàn, các thế lực thù địch, phản động vẫn “nhắm mắt làm ngơ” và cố tình cho rằng: “Chế độ một đảng khiến Việt Nam rơi vào trì trệ kéo dài nhiều năm”(?!) Do đó, cần nhận diện đúng bản chất của luận điệu xuyên tạc tráo trở này và có những luận cứ đấu tranh phản bác xác đáng.

Nhận diện

Thời gian qua, trên nhiều diễn đàn khác nhau, các thế lực thù địch luôn rêu rao rằng hiện nay Việt Nam vẫn còn là một nước chậm phát triển. Một trong những nguyên nhân là do “Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước” (?!). Ngoài ra, chúng còn vu cáo rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy có đạt được một số kết quả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng hiện đường lối lãnh đạo của Đảng đã không còn phù hợp nữa, đường lối đổi mới của Việt Nam là “sự chắp vá kiểu đầu Ngô mình Sở” nên không thể có thành công được (?!).

Ở góc độ khác, có thế lực còn khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để công kích Đảng ta, đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Luận điệu của chúng là: “Tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở Việt Nam hoàn toàn là hệ quả của chính sách cai trị độc tài dựa theo chủ nghĩa Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản Việt Nam áp đặt trên đất nước Việt Nam”(?!). Đây là một sự cáo buộc có tính suy diễn, quy chụp trắng trợn nhằm mục tiêu chống phá Đảng và chế độ ta.

Trong những dịp Đảng, Quốc hội xin ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân về dự thảo các văn kiện, nghị quyết, luật…, các hoạt động chống phá lại càng quyết liệt và tinh vi hơn. Dưới hình thức “Thư ngỏ”, nhiều thế lực thù địch bao gồm các lực lượng phản động ở nước ngoài, các phần tử cơ hội chính trị trong nước đã gửi “tâm thư” kêu gọi Đảng ta phải thay đổi để “cứu vớt” đất nước. Thực chất của những luận điệu trên là nhằm xỏa bỏ chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo của Việt Nam với lý lẽ “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của một chế độ dân chủ”; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Sâu xa hơn, các thế lực thù địch còn muốn Việt Nam phải từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đi theo sự sắp đặt của các nước phương Tây, tạo ra các mối hằn thù với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Lập luận của chúng là: “Đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc”(?!).

Những luận điệu xuyên tạc chế độ một đảng lãnh đạo duy nhất của Việt Nam là mũi dùi chống phá trực diện, tấn công vào vấn đề có tính căn cốt trong nền tảng tư tưởng của Đảng. Mục tiêu của các thế lực là nhằm xóa bỏ chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, đa nguyên chính trị nhằm hướng lái sự phát triển của Việt Nam theo quỹ đạo khác. Đây là một thủ đoạn chống phá rất nguy hiểm vì có liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần phải có luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin, bồi đắp lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Luận cứ đấu tranh

Sau hơn 35 năm đổi mới, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử khiến cho cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được củng cố và nâng cao. Đánh giá về những thành tựu này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng khẳng định: “việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”. Những thành tựu đó chính là bằng chứng giàu sức thuyết phục để khẳng định nhờ đường lối lãnh đạo đúng đắn, nhờ chế độ chính trị phù hợp mà Việt Nam không những giải quyết được khủng hoảng toàn diện mà còn đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; gia tăng niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ.

Những thành tựu đó không phải tự nhiên mà có và cũng không phải dễ dàng có được. Đó chính là kết quả của quá trình nhận thức về tính tất yếu của đổi mới đất nước, đồng thời xuất phát từ sự thôi thúc của bản thân Đảng ta với mong muốn ngày càng mang lại sự phát triển phồn vinh cho đất nước, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Những thành tựu đó là bằng chứng thuyết phục để khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước; đồng thời cũng làm cho nhân dân ngày càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận để Đảng trở thành một lực lượng xã hội duy nhất lãnh đạo toàn xã hội. Do đó, không thể cố tình lờ đi những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam qua hơn 35 đổi mới để cáo buộc rằng chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo đã khiến Việt Nam rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển.

Khi mà xuất phát điểm của chúng ta thấp, Việt Nam lại đang trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, các cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội đang trong quá trình hoàn thiện nên những hạn chế, thiếu sót là không tránh khỏi. Đó cũng chính là động lực để Đảng ra không ngừng hoàn thiện về chủ trương, đường lối lãnh đạo qua mỗi kỳ Đại hội; không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về đường lối đổi mới để lãnh đạo đất nước từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức, sớm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo ở Việt Nam không chỉ xuất phát từ đặc thù về tình hình cách mạng của nước ta, về tương quan lực lượng và mối quan hệ giữa giai cấp công nhân nước ta với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội mà còn xuất phát từ bản chất của Đảng ta - một đảng đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, luôn lấy mục tiêu phát triển đất nước, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Do đó, luận điệu cho rằng “một đảng cầm quyền, đất nước rơi vào yếu thế, lạc hậu do sự lãnh đạo sai lầm của Đảng” là phiến diện, có tính quy chụp, lộ rõ ý đồ chống phá Đảng, chống phá chế độ. Vì thế, chúng ta cần nhận diện rõ bản chất sai trái của luận điệu này để luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn kiên định vào con đường mà Đảng đã lựa chọn. Đó là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Theo: Chiên Lê


Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

PHẢI CHĂNG Ở VIỆT NAM MỘT ĐẢNG DUY NHẤT CẦM QUYỀN LÀ KHÔNG DÂN CHỦ?

Thời gian gần đây, thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đẩy mạnh tuyên truyền những luận điệu cho rằng ở Việt Nam thực hiện chế độ một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị. Sự thực có phải như vậy?
Để trả lời vấn đề này, trước hết cần làm rõ quan niệm về dân chủ. Dân chủ hiểu theo nghĩa đích thực và nói một cách ngắn gọn đó là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân có quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Dân chủ đích thực như thế chỉ có trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”. Chế độ dân chủ ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là dân chủ của đa số, vì đa số và người lao động; là chế độ mà ở đó, nhân dân lao động làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, “tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, được pháp luật bảo đảm; là thể hiện quyền lực của nhân dân, tập trung và “thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”.
Thực tiễn ở Việt Nam hiện nay cho thấy, mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ gắn bó chặt chẽ với nhau. Mọi người dân đều trực tiếp hay gián tiếp đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến của mình cho các cơ quan công quyền. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hoạt động hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong xã hội; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ với nhân dân và chăm lo đến nhân dân.
Trong các cuộc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam, tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỷ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội ngày càng cao (tỷ lệ đại biểu là nữ trong Quốc hội đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 9/135 nước trên thế giới). Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn của Quốc hội; việc thực hiện đối thoại trực tuyến của Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng... với nhân dân; những cuộc tiếp xúc của các đại biểu Quốc hội với cử tri; việc lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992,... đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ, thực thi quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước và đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình.
Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm ngày càng tốt trong thực tế. Hiện nay, có khoảng 70.000 chức sắc trong các tổ chức tôn giáo đang hoạt động tại hơn 24.000 cơ sở thờ tự trên cả nước; có hơn 20 triệu người theo tôn giáo. Quyền tự do báo chí, tự do hội họp được thực hiện theo quy định của pháp luật. Đến năm 2012, cả nước có 786 cơ quan báo chí in với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh - truyền hình trung ương và cấp tỉnh, 47 đơn vị hoạt động truyền hình cáp, 9 đơn vị truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp, sản xuất 62 kênh truyền hình trả tiền.
Những ví dụ trên chưa phải là đầy đủ, nhưng cũng đã thể hiện một cách rõ ràng và sinh động quyền làm chủ, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận, báo chí... của nhân dân; thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ dân chủ ở nước ta. Đó không phải là sự “hạn chế”, “vi phạm dân chủ” như các thế lực thù địch cố tình gán ghép, xuyên tạc.
Thực tế trên khẳng định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam đối với xã hội và Nhà nước, đối với chế độ dân chủ là không thể phủ nhận. Nhà báo Đinh Viết Tứ, một người Mỹ gốc Việt, để đập lại những luận điệu đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam của một số kẻ chống đối ở hải ngoại đã viết: “Tôi thấy nhất định phải có một đảng chịu trách nhiệm trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, hiện không có lực lượng nào có thể đứng ra làm việc đó, ngoài Đảng Cộng sản”. Từ bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa đảng chắc chắn sẽ không phải là dân chủ hơn. Điều tệ hại sẽ đến là đất nước mất ổn định, kinh tế đổ vỡ, xã hội hỗn loạn, rơi vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước, tất cả đều giáng cả lên đầu nhân dân, dân chủ chỉ là cái cớ cho sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái.
Hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng; “Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội”. Đó là thực tế, nhưng thực tế đó không phải là bản chất của chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay, không phải là do sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tạo ra. Song, chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng, điều đó đã làm suy giảm những giá trị tốt đẹp của nền dân chủ ở nước ta, suy giảm vai trò, vị thế cầm quyền, lãnh đạo của Đảng, bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, công kích, chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Vì thế, tình trạng suy thoái, tham nhũng, vi phạm dân chủ nhất thiết phải được khắc phục thật sự hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng. Phải quán triệt sâu sắc quan điểm: Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong thực tiễn. Đồng thời, có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp và quyền làm chủ thông qua các cơ quan đại diện của mình. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội. Đây là yêu cầu rất cơ bản để bảo đảm và phát huy dân chủ trong xã hội; khẳng định trên thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” như Hiến pháp đã hiến định. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là phải thực hiện tốt hơn nữa sự cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Phải chăm lo bảo vệ, nâng cao vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ mà dân tộc, nhân dân ta đã và đang đặt lên vai Đảng.
Như vậy, có thể thấy rằng, những luận điệu xuyên tạc thực tế dân chủ ở Việt Nam, cho rằng chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền không bảo đảm dân chủ, đòi đa nguyên, đa đảng,... là một thủ đoạn thâm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội của các lực thù địch. Chúng ta cần hết sức cảnh giác với những luận điệu sai trái này. Mọi mưu đồ và hành động chống phá, đòi thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã và đang bị chính nhân dân và nền dân chủ ở Việt Nam bác bỏ, làm phá sản./.

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH: CHẾ ĐỘ MỘT ĐẢNG KHÔNG THỂ CHỐNG THAM NHŨNG THÀNH CÔNG

Để phê phán, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái, thù địch cũng như những nhận thức không đúng trên, cần phải phân tích, luận giải tường tận hơn vấn đề tham nhũng. Trước hết, chúng ta thấy rằng, tham nhũng không phải do chế độ đa đảng hay một đảng, mà là do sự tha hóa quyền lực sinh ra. Bởi thế, ngay trong xã hội thực hiện chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn cứ hoành hành, thậm chí còn biểu hiện rất nguy hiểm, tình trạng tham nhũng còn leo đến tận các nguyên thủ quốc gia.
Ngay ở nước Mỹ, Hãng Pepsi từng đã dùng nhiều ưu đãi để tạo dựng quan hệ tốt với nghị sỹ R. Níchxơn. Khi lên làm Tổng thống Mỹ, R. Níchxơn đã chỉ thị gỡ bỏ hết các máy tự động bán Coca-cola trong dinh Tổng thống và thay vào đó là bán Pepsi. Đến lượt Hãng Coca-cola cũng làm chiêu trò tương tự với J. Cáctơ. Sau khi J. Cáctơ lên làm Tổng thống, thì lại gỡ bỏ hết các máy bán Pepsi trong dinh Tổng thống và thay vào đó bằng Coca-cola. Ở một số nước, có nguyên thủ quốc gia khi thôi giữ chức đã bị truy cứu về tội tham nhũng, như: Pháp, Thái Lan, Hàn Quốc,… và gần đây là ở Malaixia. Theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế (TI), một số nước theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, như: Côlômbia, Braxin, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia,... thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng”.
Ở mỗi nước có những cách thức tiến hành phòng, chống khác nhau, nhưng đều thể hiện quyết tâm chống tham nhũng: Trung Quốc ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây dựng tác phong liêm chính trong cán bộ Đảng và Nhà nước. Luật Chống tham nhũng (năm 1989) của Singgapo cho phép tòa án tịch thu tài sản của công chức nếu họ không giải thích được nguồn gốc tài sản đó. Thái Lan yêu cầu các cơ quan chức năng phải xem xét tất cả đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký tên hay không ký tên. Một số nước: Côlômbia, Braxin, Singgapo,... còn thiết lập các đường dây nóng để thu nhận tin tức về tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng, v.v.
Ở Việt Nam, Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xét về bản chất không có cơ sở sinh ra tham nhũng. Nhưng tại sao tham nhũng ở nước ta vẫn còn và thực sự nó đang là thứ “giặc nội xâm”, là “kẻ thù của nhân dân”? Cần thấy rằng, Nhà nước ta “trong một mức độ rất lớn, vẫn còn tàn dư của thời trước”, “vẫn là điển hình thực sự của bộ máy nhà nước cũ”1. Về khách quan, tham nhũng là do “vi rút” của xã hội cũ để lại và tác động vào xã hội mới, phản ánh tình trạng quan liêu và sự tha hóa quyền lực. Thừa nhận điều đó không có nghĩa là chúng ta “đầu hàng”, không thể khắc phục nổi tham nhũng, nhưng nói tiêu diệt được ngay vấn nạn này, thì chúng ta lại rơi vào không tưởng. Cần thấy rằng, ảnh hưởng của những “vi rút” đó đối với con người và xã hội, cũng như việc khắc phục nó đến đâu lại do sức đề kháng của chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, do năng lực của Đảng cầm quyền, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị.
Thực tế cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ phẩm chất, bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo chống tham nhũng hiệu quả. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; nền chính trị của nước ta vẫn là nền chính trị nhất nguyên. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và nhân dân lao động, đảm bảo cho họ thực sự làm chủ cuộc sống, thoát khỏi đói nghèo, bất công, áp bức, phấn đấu đạt được “ấm no, tự do, hạnh phúc”. Bản chất cách mạng, tính tiền phong của Đảng và năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn là nhân tố cơ bản quyết định, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng lãnh đạo chống tham nhũng hiệu quả. Đây là vấn đề tất yếu khách quan, xuất phát từ chính nội lực của Đảng.
Luận điệu Đảng Cộng sản Việt Nam không có đủ khả năng lãnh đạo chống tham nhũng hiệu quả là luận điệu sai lầm, phản động. Cả về lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, tham nhũng gắn với cá nhân có quyền lực và tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ có nhà nước vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực. Chỉ có cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, thoái hóa, biến chất, thiếu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức, của nhân dân mới có thể tham nhũng, suy thoái. Và, nếu để tình trạng này phát triển thì rất khó chống tham nhũng hiệu quả.
Trong tiến trình lãnh đạo Nhà nước và xã hội, vấn đề chống tham nhũng luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới đất nước, công tác phòng, chống tham nhũng đã có những bước chuyển biến rất cơ bản, mạnh mẽ và tích cực. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, với quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị, được sự đồng lòng, giúp sức của mọi tầng lớp nhân dân và có hiệu quả, “lò nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy” đang thực sự tạo niềm tin vững chắc trong nhân dân. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh. Như vậy, Đảng ta không chỉ có quyết tâm chống tham nhũng mà còn có đủ năng lực chống tham nhũng hiệu quả. Và hệ quả của nó là, sự phát triển, tăng trưởng kinh tế trong năm 2017, đặc biệt quý I năm 2018, GDP đất nước tăng 7,38% so với cùng kỳ năm trước (cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây). Kết quả đó có sự đóng góp quan trọng của cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Đó là sự thật không thể bác bỏ. Vì thế, không thể xuyên tạc rằng, Đảng ta không đủ khả năng lãnh đạo chống tham nhũng hiệu quả.
Để có thể lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả, Đảng, Nhà nước ta đang công phá mạnh vào vấn đề then chốt là thể chế và quyền lực cá nhân. Đây là sự công phá mạnh vào tham nhũng, nhất là tham nhũng quyền lực, bởi tính chất nguy hại của nó. Thành công trong việc công phá vào vấn đề tham nhũng quyền lực sẽ làm rung chuyển các loại tham nhũng khác; vấn đề quyết định cho thành công của cuộc chiến chống tham nhũng. Đến nay, với quyết tâm chính trị cao và thực hiện những biện pháp quyết liệt, hữu hiệu, cùng với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng ta đã hạn chế được những biểu hiện tha hóa quyền lực và vấn nạn tham nhũng. Vì thế, Đảng luôn coi việc cải cách hành chính, tạo dựng Chính phủ liêm khiết, kiến tạo; xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, nhất là cán bộ chiến lược có phẩm chất, năng lực và uy tín,… là vấn đề quan trọng hàng đầu. Trong năm 2017, Bộ Chính trị (khóa XII) đã ban hành các quy định về công tác cán bộ được xem là bước đi quan trọng để siết chặt kỷ luật Đảng, khắc phục những bất cập, yếu kém về công tác này. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) nhấn mạnh phải tăng cường kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền trong công tác cán bộ. Đồng thời, chú trọng thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu kiểm soát việc trao và thực thi quyền lực, ngăn chặn, loại trừ tham nhũng quyền lực. Xây dựng và thực hiện cơ chế đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả, gắn chặt với cơ chế tổ chức, hoạt động đồng bộ của Đảng, Nhà nước và cơ chế thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đặc biệt, Đảng ta đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đề cao tự giác, tự phê bình và phê bình, tính chiến đấu trong hoạt động của tổ chức đảng, cấp ủy các cấp; phát huy trách nhiệm và vai trò gương mẫu của người đứng đầu... Một thực tế là, nếu chúng ta chống tham nhũng kém hiệu quả, thì các thế lực thù địch sẽ lợi dụng để xuyên tạc, kích động, đòi Đảng ta phải từ bỏ sự lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Nhưng khi chúng ta chống tham nhũng đạt kết quả tích cực, thì chúng lại giở giọng điệu xuyên tạc, rằng đó là cuộc đấu tranh phe phái, dù có quyết liệt thì cũng không thể thành công, vì do “một đảng cai trị”... Điều đó cho thấy âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch không thay đổi, cũ rích, chẳng lừa được ai.
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ cấp thiết, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Với quyết tâm chính trị cao, chủ trương, giải pháp khoa học, cuộc đấu tranh chống vấn nạn này dưới sự lãnh đạo của Đảng nhất định giành thắng lợi. Điều đó xuất phát từ bản chất, năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam.

NHẬN DIỆN RÕ QUAN ĐIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH: CHẾ ĐỘ MỘT ĐẢNG KHÔNG THỂ CHỐNG THAM NHŨNG THÀNH CÔNG

Trong quá trình lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng và đạt kết quả quan trọng, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Thế nhưng vẫn có ý kiến cho rằng, với chế độ một đảng thì không thể chống tham nhũng thành công. Đây là luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, hòng hạ thấp vai trò, uy tín, phủ nhận bản chất, quyết tâm chính trị của Đảng, cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
Tham nhũng là một vấn đề nan giải, một căn bệnh nhức nhối với những biến dạng rất phức tạp, đang hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả tiêu cực ở các quốc gia với chế độ xã hội khác nhau. Vì vậy, đấu tranh bài trừ tham nhũng được các nước, trong đó có Việt Nam rất quan tâm, coi đó là quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước và được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp, trên nhiều phương diện, như: pháp luật, hành chính, chính trị, kinh tế, đạo đức, văn hóa, lối sống...
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta đang diễn ra rất quyết liệt, không có vùng cấm, không kể cán bộ đương chức hay đã nghỉ hưu, tham nhũng vật chất hay tham nhũng quyền lực. Những kết quả đạt được trong cuộc đấu tranh này thời gian qua đã tạo cơ sở, nền tảng vững chắc trong xây dựng hệ thống chính trị, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, củng cố được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc chiến chống tham nhũng vẫn còn những vấn đề bất cập, chưa ngăn chặn được triệt để vấn nạn này. Lợi dụng vấn đề đó, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội tăng cường chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; một số người lợi dụng để kêu ca, phàn nàn về Đảng, về chế độ xã hội. Họ cho rằng: chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tham nhũng; tham nhũng là thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công... Từ đó, họ hồ đồ đưa ra kết luận: chỉ khi nào ở Việt Nam dẹp bỏ được chế độ độc đảng, thực hiện chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể dẹp bỏ được.