Hiển thị các bài đăng có nhãn số lượng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn số lượng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2023

ĐĂNG KIỂM, KHÔNG CHỈ LÀ THANH LỌC

 

Thời gian vừa qua, hàng dài ô tô mòn mỏi chờ đến lượt kiểm định ở một số trung tâm đăng kiểm. Hình ảnh này đã khá lâu không còn xuất hiện, nhất là từ khi hoạt động đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ được xã hội hóa với sự tham gia của các đơn vị ngoài khu vực công.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa giúp số lượng các trung tâm đăng kiểm nhiều hơn, người dân, doanh nghiệp đưa xe đi kiểm định thuận lợi hơn. Tuy nhiên, chất lượng đăng kiểm phương tiện đang bị đặt ra dấu hỏi lớn khi nhiều sai phạm trong lĩnh vực này được cơ quan chức năng phát hiện. Đã đến lúc không chỉ cần thanh lọc, loại bỏ tiêu cực mà còn phải tăng cường quản lý, giám sát, đổi mới hoạt động đăng kiểm để nâng cao hiệu quả công tác này.

Đăng kiểm được ví như “hàng rào” ngăn chặn phương tiện không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và các yếu tố bảo vệ môi trường được lưu thông. Công tác này ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn, sức khỏe, tính mạng của người tham gia giao thông nên càng phải đề cao tính chặt chẽ, chính xác, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đề ra. Tuy nhiên, thực tế còn không ít kẽ hở từ hoạt động đăng kiểm. Tình trạng xe cũ nát, cơi nới vẫn vô tư đi trên đường có nguyên nhân từ việc kiểm định lỏng lẻo, “nhắm mắt cho qua” của một số trung tâm đăng kiểm. Thậm chí, xe “quá đát” còn được sử dụng để kinh doanh vận tải, đưa đón học sinh đến trường, gây ra những mối nguy hiểm tiềm ẩn với hành khách. Vì thế, việc xử lý nghiêm minh những hành vi gian dối, vì tư lợi mà bất chấp quy định dẫn đến bỏ lọt phương tiện không bảo đảm an toàn là rất cần thiết, mang tính răn đe, phòng ngừa tái diễn. Đây cũng là cơ sở để chấn chỉnh, nâng cao chất lượng đồng bộ cho công tác đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ.

Cũng cần nhìn nhận, đăng kiểm là một “mắt xích” không thể thiếu trong các điều kiện bảo đảm hoạt động vận tải. Nếu tình trạng đình trệ ở nhiều trung tâm đăng kiểm kéo dài có thể dẫn đến nguy cơ gián đoạn hoạt động vận tải, ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại của người dân và thông thương của nền kinh tế. Những ngày qua, nhiều chủ phương tiện có xe đến hạn kiểm định mất không ít thời gian, công sức, "chạy đôn chạy đáo" khắp nơi để có được giấy chứng nhận kiểm định. Đây là vấn đề cần được khắc phục nhanh chóng. Trong đó, giải pháp trước mắt, với các trung tâm đăng kiểm đang bị đình chỉ vì phát hiện sai phạm, cần xem xét cử nhân sự thay thế, tận dụng trang thiết bị, cơ sở vật chất sẵn có, để các trung tâm này mở cửa trở lại, san sẻ khối lượng công việc đang quá tải ở những đơn vị khác. Điều này sẽ giúp lượng lớn phương tiện đang xếp hàng ở trung tâm đăng kiểm được “giải phóng”, giảm khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, kịp thời đáp ứng nhu cầu vận tải tăng cao trong những ngày cận kề Tết Nguyên đán.

Về lâu dài, muốn trung tâm đăng kiểm hoạt động minh bạch, hiệu quả, không chỉ cần xử lý nghiêm vi phạm mà quan trọng hơn là đổi mới thực chất, căn bản, giúp công tác này đi vào nền nếp, phục vụ tốt hơn yêu cầu xã hội. Số lượng các trung tâm đăng kiểm gia tăng nhanh chóng dẫn đến mặt trái là xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh để thu hút khách hàng, kéo theo thiếu khách quan, trung thực khi thực hiện kiểm định phương tiện. Nhiều ý kiến đề xuất nên xem xét sửa đổi quy định về thời hạn đăng kiểm song hành với bổ sung yêu cầu kiểm định chặt chẽ hơn. Có thể miễn kiểm định cho phương tiện mới, đăng ký lần đầu và kéo giãn thời gian giữa các lần kiểm định. Thay đổi này sẽ giúp số lượng phương tiện cần kiểm định giảm đi, do vậy, không cần duy trì quá nhiều trung tâm đăng kiểm, vừa giảm chi phí cho xã hội vừa tránh đầu tư dàn trải.

Thay vì chạy theo số lượng, nên chú trọng hơn nữa đến chất lượng đăng kiểm, tập trung phát triển các trung tâm đủ nguồn lực, được đầu tư trang thiết bị, máy móc bài bản, hiện đại. Cần quan tâm hơn nữa đến việc cải thiện môi trường làm việc của đăng kiểm viên, người lao động, có đãi ngộ hợp lý, tương xứng với vị trí việc làm, đặc thù công việc, gắn với nâng cao trách nhiệm, đạo đức công vụ, nghề nghiệp và tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, đẩy mạnh số hóa, tự động hóa trong hoạt động đăng kiểm, bảo đảm sự khách quan, minh bạch, chính xác, hạn chế sự can thiệp của con người vào quy trình kiểm định. Mục tiêu cần hướng đến là xây dựng hồ sơ dữ liệu cho mỗi phương tiện với tiêu chí xe không bảo đảm an toàn sẽ không được phép lưu thông để góp phần loại bỏ những “hung thần” trên đường phố.

Theo: ĐỖ MẠNH HƯNG


Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

MỘT SỐ BIỂU HIỆN MỚI VỀ CƠ CẤU CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN THẾ GIỚI HIỆN NAY

Cơ cấu của giai cấp công nhân hiện nay khá đa dạng, đang chuyển biến mạnh theo hướng hiện đại hóa và được tiếp cận theo những tiêu chí đánh giá sau:

Một là, cơ cấu nghề nghiệp của công nhân hiện nay vô cùng đa dạng và chưa ngừng lại ở những nghề hiện có. Theo một nghiên cứu, hiện nay trên thế giới có khoảng 23.000 nghề nghiệp liên quan đến máy móc và phương thức lao động công nghiệp; và dự đoán rằng, đến giữa thế kỷ XXI sẽ có thêm khoảng 10.000 nghề nghiệp mới, chủ yếu là ở lĩnh vực dịch vụ(4). Một nghiên cứu gần đây của Ê-ríc Ô-lin Rai (Erik Olin Wright) một nhà xã hội học mác-xít (1947  - 2019) đã lập một mô hình cơ cấu giai cấp theo nghề nghiệp, gồm 9 nhóm khác nhau, dựa vào trình độ, kỹ năng và thẩm quyền.

Hai là, cơ cấu công nhân theo lĩnh vực hoạt động. Giai cấp công nhân hiện nay lao động trên 3 lĩnh vực cơ bản là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Mặc dù đang có sự dịch chuyển lao động giữa các lĩnh vực nhưng xu hướng chung là nhóm lao động ở lĩnh vực dịch vụ tăng mạnh, số lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp giảm nhẹ. Ở các nước phát triển, chẳng hạn ở Bắc Âu, xu hướng này có nhỉnh hơn: Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng lao động dịch vụ chiếm khoảng 70%; công nghiệp khoảng 25% và nông nghiệp từ 3% đến 5% lao động. Cơ cấu lao động của Đan Mạch: 4% số dân làm việc trong khu vực nông - lâm nghiệp, 24% trong công nghiệp và xây dựng, 72% số dân làm việc trong lĩnh vực dịch vụ, trong đó 31% là dịch vụ công và 41% là dịch vụ tư nhân.

Ba là, cơ cấu của giai cấp công nhân  xét theo trình độ công nghệ hiện nay được nhìn nhận là đa dạng và không đồng đều. Các nghiên cứu về trình độ công nghệ của công nhân thường xét theo khả năng tiếp cận các cuộc cách mạng công nghiệp, cách tính toán thường là công nghiệp 2.0; 3.0 hoặc tiệm cận 4.0. Cũng có những đánh giá trình độ công nghệ của công nhân theo đặc tính của kỹ thuật của từng ngành công nghiệp mà họ đang hoạt động, ví dụ: “công nghệ in offset” và “công nghệ in kỹ thuật số”. Nhìn chung, công nghệ mà công nhân trên thế giới hiện đang sử dụng là một “dải khá rộng” được mô tả bằng “cây phả hệ công nghệ đa tầng”, hàm ý là ở nhiều trình độ, phát triển vốn theo quy luật không đều và sự phát triển của GCCN hiện nay cũng vẫn tuân theo quy luật đó.

Bốn là, cơ cấu giai cấp công nhân dựa theo trình độ phát triển kinh tế thường được giới nghiên cứu phân tích theo 2 nhóm nước là nước phát triển và nước đang phát triển. Hiện có 408 triệu công nhân trong các nước phát triển và số còn lại (khoảng hơn 1.100 triệu) là ở các nước đang phát triển. Trình độ phát triển kinh tế, trình độ công nghệ thường tỷ lệ thuận với năng suất lao động đạt được. Công nhân của các nước phát triển có năng suất lao động cao hơn so với các nước đang phát triển. Năm 2017, ILO xếp hạng năng suất lao động thông qua so sánh việc tạo ra giá trị mới của 1 lao động/năm ở một số nước phát triển: Công nhân Mỹ tạo ra 63.885USD/người/năm; công nhân Ai-len là 55.986USD/người/năm; công nhân Bỉ là 55.235 USD/người/năm; công nhân Pháp là 54.609USD/người/năm...

Năm là. cơ cấu giai cấp công nhân theo chế độ xã hội là cách tiếp cận theo chế độ chính trị. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác, có mối quan hệ biện chứng giữa công nhân, công nghiệp và chủ nghĩa xã hội (chế độ chính trị). Chế độ chính trị cũng có thể tác động đến sự phát triển của công nhân và công nghiệp. Lịch sử cận đại, hiện đại xác định điều đó. Thống kê về giai cấp công nhân các nước xã hội chủ nghĩa năm 2019 cho thấy: Việt Nam có khoảng 15 triệu; Lào có khoảng gần 0,8 triệu; Cu-ba có gần 3 triệu, Trung Quốc có khoảng 300 triệu công nhân và 270 triệu “nông dân - công” (nhóm xã hội tham gia 2 phương thức và 2 lĩnh vực lao động, có 2 nơi cư trú; là trung giới của quá trình chuyển biến từ nông dân sang công nhân, nhưng chưa hoàn toàn sống bằng thu nhập từ lao động công nghiệp). Đặc thù của cơ cấu công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa là có một bộ phận công nhân thuộc thành phần kinh tế nhà nước. Tính đến năm 2019, bộ phận công nhân ở thành phần kinh tế nhà nước ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều có tỷ lệ nhỏ hơn so với số lượng công nhân ở những thành phần kinh tế khác; Trung Quốc hiện có 120 triệu, Việt Nam có hơn 2 triệu công nhân thuộc nhóm này. “Công nhân nhà nước” gắn liền với thực tiễn của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa và trong thời gian gần đây, họ tương tác với nền kinh tế thị trường, công nhân ở thành phần kinh tế khác.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TĂNG NHANH VỀ SỐ LƯỢNG

Giai cấp công nhân nước ta tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu và ngành nghề. Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta được quản lý theo cơ chế hành chính, tập trung, bao cấp, giai cấp công nhân nước ta có số lượng không lớn và khá thuần nhất về cơ cấu thành phần và ngành nghề, công nhân làm việc chủ yếu trong thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Quá trình đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế, chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đã tạo bước chuyển quan trọng đối với cơ cấu nền kinh tế. Bên cạnh thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã hình thành và phát triển nhanh. Điều đó đã tạo sự chuyển biến trong cơ cấu lao động xã hội, làm cho lực lượng công nhân - lao động công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu. Trong đó, số công nhân trong khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2020, hiện nay, tổng số công nhân nước ta chiếm khoảng 13% số dân và 24% lực lượng lao động xã hội, bao gồm số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước, đang làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài và số lao động giản đơn trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể. Số lượng công nhân tăng nhanh chủ yếu ở các loại hình doanh nghiệp tại những khu công nghiệp trọng điểm như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai...

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

Những thành tựu đạt được sau 30 năm đổi mới ở Việt Nam là không thể phủ nhận, trong đó, GCCN Việt Nam phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, thể hiện vai trò to lớn đối với sự nghiệp đổi mới. Vậy mà, trên một số trang mạng đã xuất hiện những quan điểm sai trái, xuyên tạc hòng phủ nhận địa vị chính trị, vai trò của GCCN Việt Nam.
Các thế lực thù địch cho rằng: Ở Việt Nam, công nghiệp chưa phát triển, GCCN số lượng ít, chất lượng hạn chế, không phải là con đỏ của nền công nghiệp hiện đại. Mặt khác, trong điều kiện hiện nay cơ cấu GCCN Việt Nam rất đa dạng, không thuần nhất, có ở mọi khu vực kinh tế: Nhà nước, tư nhân, liên doanh với nước ngoài và có sự phân hoá... nên không đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.
Đây là âm mưu, thủ đoạn không mới của các thế lực thù địch; nhưng những luận điệu mà chúng nêu ra hòng bóc méo bản chất vấn đề, xáo trộn nhận thức trong các tầng lớp nhân dân, lung lạc ý chí chính trị của cán bộ, đảng viên.
Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội thế giới đang trong tình trạng khủng hoảng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mặc dù đạt được nhiều thành tựu to lớn, song còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong điều kiện khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tăng trưởng kinh tế của nước ta trong những năm qua không cao. Thêm vào đó là tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong bộ máy đảng và Nhà nước rất phức tạp, nghiêm trọng. Các tổ chức công đoàn của công nhân trong các công ty liên doanh với nước ngoài, 100% vốn nước ngoài chưa phát huy được vai trò của mình trong việc tập hợp, tổ chức, giáo dục nâng cao nhận thức, trình độ giác ngộ cho công nhân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân.
Các thế lực thù địch tiếp tục chống phá quyếl liệt hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, tác động đến niềm tin của quần chúng nhân dân v vai trò lãnh đạo của GCCN. Ngoài ra, chúng còn dùng những triết lý phản động đphủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN, ra sức chia rẽ trong hàng ngũ công nhản bằng các tư tưởng cơ hội; đua ra luận điệu nhiều giai cấp lãnh đạo xã hội mới tránh được độc tài hoặc trong thời đại khoa học - công nghệ thì quyền lãnh đạo thuộc về ầng lớp thức.
Chúng ta khỏng phủ nhận những hạn chế của GCCN Việt Nam (như số lượng ít, chưa được rèn luyện nhiều trong đại công nghiệp, trình độ học vấn, tay nghề còn thấp...) mà nguồn gốc sâu xa là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời kỳ quá độ còn thấp. Nhưng, điều đó không đủ căn cứ để phủ nhân vai trò sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam. Việt Nam, GCCN vẫn là giai cấp duy nhất có vai trò lãnh đạo cách mạng thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi những lý do sau:
Một , GCCN Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Họ không chịu cảnh áp bức, bóc lột, luôn có sự gắn kết lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc làm cho nghị lực và tính triệt để cách mạng nhân lên gấp bội.
Hai là, GCCN Việt Nam ra đời và từng bước trưởng thành trong không khí sục sôi của hàng loạt các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp... thông qua các phong trào đó có tác dụng đối với việc giáo dục, nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm chống thực dân Pháp của GCCN và nhân dân ta.
Ba là, ảnh hưởng của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã cổ vũ GCCN Việt Nam đứng lên gánh vác sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta đấu tranh lật đổ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới.
Bấn là, GCCN Việt Nam đa số có nguồn gốc xuất thân từ nông dân, đã có mối liên hệ tự nhiên, gắn bó máu thịt với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác; sớm có một Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo, có đường lối đúng đắn... đó là điều kiện thuận lợi cho sự lãnh đạo của GCCN với giai cấp nông dân và toàn dân tộc.

Hiện nay, cùng với sự phát triển của lịch sử, GCCN Việt Nam có những chuyển biến quan trọng tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành đông đảo bộ phận công nhân trí thức, thông qua đội tiền phong của mình, GCCN đang phát huy tốt vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phấn đấu cho mục tiêu: "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tất cả những yếu tố ấy khẳng định GCCN Việt Nam là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới mục tiêu cuối cùng.