Hiển thị các bài đăng có nhãn sứ mệnh lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sứ mệnh lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2023

THẾ GIỚI ĐÃ ĐỔI THAY, NHƯNG LUẬN THUYẾT SỨ MỆNH LỊCH SỬ GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, V.I.LÊNIN VẪN CÒN SỐNG MÃI

Hiện nay, Giai cấp công nhân đã, đang biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu cả số lượng, chất lượng, ngành nghề, nhưng địa vị kinh tế - xã hội của họ không hề thay đổi. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự hiện diện ngày càng lớn của kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, quốc tế hóa... đã làm thay đổi sâu sắc các yếu tố nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng: Vào cuối thế kỷ XIX số lượng công nhân trên thế giới chỉ có khoảng trên 10 triệu, đầu thế kỷ XX là 119 triệu, đến cuối thế kỷ XX đã tăng lên đến trên 660 triệu và đến năm 2003 khoảng trên 800 triệu. Tỷ trọng công nhân trong tổng số lao động chung của xã hội tăng lên; tỷ lệ công nhân trong ngành dịch vụ, công nghệ cao tăng lên: ở Mỹ hơn 71%, Nhật hơn 59%, Đức hơn 58%, Anh hơn 69%, Pháp hơn 66%.

Chủ nghĩa tư bản còn khả năng phát triển, nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có không được khắc phục mà còn tăng lên, tất yếu sẽ bị thay thế bằng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Các mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc với những nước phụ thuộc ngày càng tăng lên. Đặc biệt, nhiều nước tư bản, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800%. Ở Mỹ, 1% người giàu nhất đã làm chủ 40% tài sản, trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ. Trong năm 2017, 1% dân số thế giới sở hữu 82% tổng tài sản được tạo ra trên toàn cầu. Trong khi đó 3,7 tỉ người (chiếm một nửa dân số nghèo nhất thế giới) đã không hề tăng thêm chút tài sản nào. Thực chất sự phát triển của chủ nghĩa tư bản những năm qua chỉ hướng tới phục vụ cho một bộ phận giàu có nhất. Những điều chỉnh đó của chủ nghĩa tư bản chỉ làm dịu đi những mâu thuẫn xã hội, chứ không làm thay đổi bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Mặc dù, hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển, đời sống của giai cấp công nhân và người lao động đã được cải thiện, một bộ phận công nhân số lượng cổ phiếu trong công ty và trở thành tầng lớp trung lưu trong xã hội. Nhưng so với tài sản mà giai cấp tư sản có được tài sản của công nhân và người lao động cũng chỉ tựa như giọt nước trong đại dương lợi nhuận mà nhà tư bản thu được. Điều đó đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, làm bùng phát nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân và người lao động chống lại giới chủ tư sản như phong trào đấu tranh của công nhân từ “phố Wall” (nổ ra vào ngày 14 tháng 9 năm 2012), sau đó, lan rộng ra hàng chục thành phố của Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu để phản đối các biện pháp khắc khổ và tỉ lệ thất nghiệp, đói nghèo đang ngày càng gia tăng. Sự phản kháng xã hội mạnh mẽ càng làm bộc lộ bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản, không đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Đó là bản chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững của chủ nghĩa tư bản. Đúng như C.Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động và tài nguyên. Các mâu thuẫn giữa cơ bản trong chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại và ngày càng gay gắt, tất yếu chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ bị xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản thay thế trong tương lai.

Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã và đang đổi mới, cải cách thành công, tiếp tục vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa. Ở Trung Quốc, sau hơn 40 năm cải cách mở cửa (1979- 2018) đã thu được những kỳ tích. Năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng 12.300 tỷ USD, chiếm 15% GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Giai đoạn 1978 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9%. Trong giai đoạn 2012 - 2016, hằng năm, kinh tế Trung Quốc đóng góp 34% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Năm 1978, GDP bình quân đầu người ở Trung Quốc mới chỉ ở mức 156 USD, là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng đến năm 2017, GDP bình quân đầu người đã đạt 8.800 USD, được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Số người nghèo ở Trung Quốc giảm từ 770 triệu người năm 1978 xuống còn 30,46 triệu người năm 2017, tức tỷ lệ người nghèo giảm từ 97,5% năm 1978 xuống mức 3,1% năm 2017. Trong tương lai không xa, có thể dự đoán các chỉ số GDP, PPP theo GDP của nước này sẽ vượt Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) cộng lại. Trung Quốc hiện có 317 tỷ phú và hiện đứng thứ hai thế giới sau Mỹ về chỉ số này.

Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới, đã thu được những thành tựu to lớn, toàn diện: Nền kinh tế phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định, qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay"

Thực tế, các thế lực thù địch càng điên cuồng tiến công hòng phủ nhận, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, thì càng chứng tỏ giá trị và sức sống của học thuyết Mác - Lênin. Quy luật tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình phải thường xuyên đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phản khoa học, phản động đó. Thay cho lời kết xin trích khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”. Và khẳng định của Đảng ta: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.


Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

LUẬN THUYẾT MÁC – LÊNIN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN MANG TÍNH KHOA HỌC, CÁCH MẠNG

Sự ra đời, phát triển của giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó là kết quả tất yếu, khách quan của quá trình phát triển xã hội loài người; các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin là những người phát hiện ra, truyền bá, giác ngộ giai cấp công nhân để họ đấu tranh, hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử đó.

Thực tế, giai cấp công nhân là “con đẻ” của đại công nghiệp, phát triển cùng đại công nghiệp. “Trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.  

Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân đấu tranh xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

Sứ mệnh lịch sử đó do địa vị kinh tế - xã hội khách quan của giai cấp công nhân quy định. Giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, nên nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới với kiểu quan hệ sản xuất mới. Giai cấp công nhân được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột đó. Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình. Đúng như C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã chỉ rõ: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại”. “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.

Trung thành chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin khẳng định, bổ sung: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ; vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”.

 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là tất yếu khách quan, song, để hiện thực hóa sứ mệnh đó, phải thông qua những nhân tố chủ quan - bản thân giai cấp công nhân và chính đảng của nó.

Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, số lượng, tỷ trọng công nhân ngày càng tăng nhanh ở tất cả các nước, đa dạng hơn về cơ cấu; chất lượng, trình độ học vấn, khoa học công nghệ và tay nghề ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển, với sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân tất yếu hình thành chính đảng của giai cấp công nhân - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân sẽ nâng phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác. Việc thành lập ra đảng cộng sản trung thành với sự nghiệp, lợi ích của giai cấp công nhân là yếu tố quyết định nhất, đảm bảo cho giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Lịch sử thế giới đã chứng minh tính đúng đắn về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin. Năm 1871, Công xã Pari  nổ ra, giành thắng lợi - nhà nước vô sản đầu tiên được thành lập, tuy chỉ là mô hình nhà nước vô sản sơ khai, chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng bước đầu đã chứng minh khả năng cách mạng của giai cấp công nhân và bản chất tốt đẹp của mô hình xã hội XHCN. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), đã sáng lập nên một chế độ xã hội mới - xã hội XHCN. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại cần lao đã trở thành hiện thực sinh động trên một đất nước rộng lớn bằng một phần sáu trái đất và đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. “Cách mạng Tháng Mười đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.

Nước Nga Xô viết, tiếp sau là Liên Xô đã sáng tạo nên những giá trị Xô viết vĩ đại, ưu việt hơn hẳn các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Trong hơn 70 năm (1917 - 1991) xây dựng và phát triển, từ một nước Nga lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ). Chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục đều có sự phát triển vượt bậc, ảnh hưởng lớn đến các nước trên thế giới. Liên-Xô đã giải phóng hàng trăm dân tộc thiểu số ra khỏi nước Nga Sa hoàng - nhà tù của các dân tộc, đem đến cho họ cuộc sống mới. Đời sống mọi mặt của các dân tộc được nâng cao. Quần chúng công nông được hưởng đầy đủ các quyền chính trị kinh tế văn hóa xã hội bảo vệ sức khoẻ, chữa bệnh và nhiều giá trị khác nữa như  quyền nhà ở, quyền được học hành, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo…Đó chính là những giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt do Liên Xô tạo nên, buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh, tự tô vẽ lại bộ mặt của mình theo hướng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.

Năm 1972, tổng sản lượng công nghiệp Liên Xô đã tăng 321 lần so với năm 1922, thu nhập quốc dân tăng 112 lần. Năm 1975, tổng sản lượng kinh tế của Liên Xô đã đạt 943,5 tỷ USD (đứng thứ 2 thế giới và bằng 62% so với Hoa Kỳ) và chỉ cần 2 ngày rưỡi, Liên Xô đã sản xuất ra lượng sản phẩm bằng cả năm 1913 (năm cao nhất của Đế quốc Nga cũ). 

Liên Xô đã tích cực, chủ động giúp đỡ phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc hiệu quả, thiết thực. Liên Xô đã góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm hoạ phát xít, thực sự là thành trì của hoà bình, an ninh quốc tế. Với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phát triển như vũ bão; phong trào cộng sản- công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới lớn mạnh không ngừng. Nhờ đó, trong những năm 1960, có khoảng 100 quốc gia giành được độc lập dân tộc ở các mức độ khác nhau, một số nước trong đó lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội từ một nước phát triển thành một hệ thống thế giới, tạo thế cân bằng với chủ nghĩa tư bản, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt hành tinh. Đó là sự hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà C. Mác, Ph. Ăng ghen đã tiên đoán từ năm 1848.

Thế nhưng, sau 70 năm tồn tại,  phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã sụp đổ. Nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ đó do sự vận dụng giáo điều chủ nghĩa Mác - Lênin, duy trì quá lâu mô hình kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp; nguyên nhân trực tiếp là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của đảng cộng sản; thêm vào đó, là sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với sự chống phá của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Sự sụp đổ hệ thống XHCN hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của lý tưởng cộng sản, càng không phải là sự phá sản học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, không phải là sự diệt vong tất yếu của CNXH hiện thực mà là sự đổ vỡ của một mô hình CNXH còn nhiều khuyết tật, không tôn trọng quy luật khách quan, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin…

XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN LÀ BẢN CHẤT KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, bởi chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, luận thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nói riêng mang tính khoa học, cách mạng, là hệ tư tưởng dẫn đường cho giai cấp công nhân đấu tranh xóa bỏ sự áp bức, bóc lột “ngồi mát ăn bát vàng” - lợi ích căn bản của giai cấp tư sản trong chế độ tư bản; xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

Thực tế, ngay từ khi chủ nghĩa Mác ra đời - 1848, các thế lực thù địch run sợ và đã tìm trăm phương ngàn kế hòng tiêu diệt, trừ khử “bóng ma cộng sản” đang ám ảnh châu Âu. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, trước sự biến động quanh co, phức tạp của thế giới, nhất là từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, … các thế lực chống cộng, cơ hội, xét lại càng tăng cường xuyên tạc, phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, trực tiếp phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chúng sử dụng nhiều chiêu trò, hình thức đa dạng, thâm độc, nguy hiểm khác nhau như: Nào là “chủ nghĩa xã hội là quái thai của lịch sử”, là “ý muốn ngông cuồng” của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin; sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là tất yếu khách quan, loài người quay lại chủ nghĩa tư bản là hợp quy luật…

Cùng với đó, chúng ra sức ngợi ca, cổ vũ rằng; chủ nghĩa tư bản đã phát triển lên một bước mới, đã thay đổi về chất; “chủ nghĩa tư bản nhân dân, nhân đạo”, “Nhà nước phúc lợi chung”; giai cấp công nhân đã được trung lưu hóa, trở thành “giai cấp hữu sản” nên không còn sứ mệnh lịch sử như C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định, sứ mệnh đó thuộc về tầng lớp trí thức, “hãy đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ…

Với cách mạng Việt Nam, các phần tử chống cộng, cơ hội xét lại cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ thế kỷ XIX, ở châu Âu không phù hợp với thực tế Việt Nam, Việt Nam  vẫn nghèo, lạc hậu vì theo hệ tư tưởng đó … Chúng vu khống, xuyên tạc, đổ tội cho Đảng Cộng sản sai lầm trong lựa chọn hệ tư tưởng, đường lối cách mạng, tập hợp lực lượng, vi phạm dân chủ, nhân quyền… hòng làm dao động lý tưởng xã hội chủ nghĩa, gây mơ hồ, ảo tưởng về một chế độ xã hội tư bản tốt đẹp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, xu hướng phát triển độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…

ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Khi bàn về điều kiện thực hiện thắng lợi SMLS của GCCN, trong Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, Ph.Ăngghen đã nêu rõ: “Chính do bản thân các sự biến và do những thành bại trong cuộc đấu tranh chống tư bản… mà công nhân không thể không cảm thấy rằng tất cả các môn thuốc vạn ứng của họ đều vô dụng, họ không thể không đi tới chỗ nhận thấy tường tận những điều kiện thực sự của công cuộc giải phóng giai cấp công nhân”.

Trước tiên, GCCN phải có trình độ giác ngộ cao về chính trị được thể hiện trước hết ở trình độ giác ngộ về giai cấp. Hiểu biết ở tầm lý luận “mình là gì và cần phải làm gì về mặt lịch sử” được tập trung trong nhận thức về SMLS của GCCN. C.Mác, Ph.Ăngghen viết: Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử. Mục đích của nó và nhiệm vụ lịch sử của nó được tình hình sinh hoạt của bản thân nó cũng như toàn bộ tổ chức của xã hội tư sản hiện đại, chỉ ra từ trước một cách rõ rệt nhất và không thể chối cãi được. Một bộ phận lớn trong giai cấp vô sản Anh và Pháp đã có ý thức về nhiệm vụ lịch sử của mình và không ngừng cố gắng làm cho ý thức đó đạt tới mức hoàn toàn rõ rệt, điều đó bất tất phải nói đến nhiều”.

Thứ hai, Giai cấp công nhân muốn thực hiện SMLS vẻ vang của mình, nhất thiết phải tổ chức ra được chính Đảng Cộng sản thực sự là bộ phận tiên tiến, giác ngộ nhất, trung thành và đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào đấu tranh của giai cấp, của dân tộc, có lý luận khoa học dẫn đường. C.Mác, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”. Chủ nghĩa Mác- Lênin cũng khẳng định, việc GCCN tổ chức được một chính đảng trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức là dấu hiệu đã trở thành giai cấp tự giác và đủ năng lực để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

Thứ ba, một điều kiện quan trọng khác để GCCN thực hiện thắng lợi SMLS của mình là phải thực hiện chiến lược liên minh giai cấp của GCCN với các giai tầng xã hội khác. C. Mác đã từng khẳng định: “cách mạng vô sản phải là một bài đồng ca của hai giai cấp công nhân và nông dân, mà nếu không có được bài đồng ca này thì trong tất cả các quốc gia nông dân, bài đơn ca của giai cấp công nhân sẽ trở thành bài ca ai điếu” Tuy nhiên, sự cần thiết của liên minh giai cấp không chỉ từ phía giai cấp vô sản mà còn từ phía những người bạn đồng minh của mình. Đồng thời, C. Mác cũng chỉ rõ, trong khối liên minh ấy, GCCN phải là giai cấp lãnh đạo, giai cấp trung tâm của các lực lượng cách mạng.

Thứ tư, điều kiện đoàn kết quốc tế của GCCN trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa lợi ích GCCN và lợi ích dân tộc; giữa lợi ích GCCN và lợi ích nhân loại là một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của GCCN. C.Mác và Ph. Ănghen đã kêu gọi: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại ”. Như vậy, thực hiện tình đoàn kết quốc tế vừa là bản chất, vừa mục tiêu, vừa là động lực của quá trình thực hiện SMLS của GCCN.

Tóm lại, luận điểm trọng yếu nhất trong học thuyết Mác là soi sáng SMLS của GCCN. Trong đó, các ông đã chỉ rõ, chính nền công nghiệp lớn, hiện đại đã tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội để thủ tiêu được chế độ người bóc lột người. Chỉ có GCCN là giai cấp bị tước mất tư liệu sản sản xuất, mới có khả năng hoàn thành cuộc cách mạng xã hội vĩ đại mà kết quả là bất kỳ chế độ bóc lột giai cấp nào và bất kỳ sự thống trị giai cấp nào cũng đều bị thủ tiêu. Chính đó là điều có tính quyết định, và vì vậy mà GCCN tại thời điểm đó dù chỉ chiếm một phần ít hơn về số lượng trong tổng số dân cư của đại đa số các nước cũng trở thành giai cấp lãnh đạo của tất cả các giai cấp bị bóc lột. Chỉ có GCCN mới có khả năng đoàn kết những người bị bóc lột lại chung quanh mình và làm cho họ trở thành những người bạn đồng minh của mình.

Ở thế kỷ XXI này, so với thời kỳ của C.Mác, Ph.Ăngghen, thế giới ngày nay có nhiều sự vận động và phát triển. Tuy nhiên, sự biến đổi này, không nằm ngoài sự tiên liệu và đoán định của các ông. Giai cấp công nhân vẫn là giai cấp đứng ở trung tâm của thời đại, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến. Và vì vậy, sẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, “…Theo qui luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Vì vậy, dù bối cảnh mới hiện nay đang có nhiều thay đổi nhưng lý luận của chủ nghĩa Mác về SMLS của GCCN vẫn còn nguyên giá trị./.

CON ĐƯỜNG, CÁC GIAI ĐOẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Cùng với việc phát hiện ra SMLS của GCVS, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra con đường để thực hiện SMLS đó - con đường cách mạng XHCN và chứng minh tính tất yếu của cuộc cách mạng đó. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Cách mạng là tất yếu không những vì không thể lật đổ giai cấp thống trị bằng một phương thức nào khác mà còn vì chỉ có trong cách mạng giai cấp đi lật đổ giai cấp khác mới có thể quét sạch mọi sự thối nát của chế độ cũ đang bám chặt theo mình và trở thành có năng lực xây dựng cơ sở mới cho xã hội”.

Trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, một mặt, C.Mác “… coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”; nhưng, mặt khác, ông lại khẳng định rằng con đường để chuyển HTKT-XH TBCN thành HTKT-XH CSCN lại phải thông qua con đường cách mạng vô sản. Người viết: “Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị”. Đồng thời, các ông đã phác thảo một cách khái quát về các giai đoạn của quá trình đó. Các ông cho rằng cuộc đấu tranh của GCCN để thực hiện SMLS của mình là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn từ thấp đến cao, từ tự phát nhỏ lẻ dần đến ngày càng có tính chất tự giác hơn, cuối cùng là cuộc đấu tranh hoàn toàn có tính tự giác trong phạm vi của từng quốc gia, từng khu vực và trong phạm vi toàn cầu. Con đường này, thực hiện qua các giai đoạn cơ bản kế tiếp nhau.

Giai đoạn thứ nhất, giai đoạn mà GCVS đấu tranh “chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ”.C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Thoạt đầu, cuộc đấu tranh được tiến hành bởi những công nhân riêng lẻ; kế đến, bởi những công nhân cùng một công xưởng; và sau đó, bởi những công nhân cùng một ngành công nghiệp, cùng một địa phương, chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ”.

Giai đoạn thứ hai, giai đoạn đấu tranh có tổ chức của GCCN để giành chính quyền. Chính cuộc đấu tranh chính trị cùng môi trường lao động đại công nghiệp đã rèn luyện GCCN và làm cho nó không chỉ là một lực lượng tiềm tàng, có thể thủ tiêu CNTB mà còn làm chín muồi dần các điều kiện, các yếu tố khách quan và chủ quan để có thể biến khả năng tiềm tàng ấy thành hiện thực. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen  đã viết: Sự tiến bộ của công nghiệp - mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó và không đủ sức chống lại nó - đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, thay cho sự chia rẽ của công nhân do cạnh tranh giữa họ gây nên. Như vậy, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn đấu tranh xây dựng, hoàn thiện và sử dụng chính quyền để tiến hành cải tạo triệt để xã hội cũ, xây dựng và bảo vệ chế độ mới-chế độ XHCN (giai đoạn thấp của CNCS) và CSCN (giai đoạn cao của CNCS). Đặc biệt, khi phân tích khó khăn trong cuộc đấu tranh giai cấp của GCCN ở các nước TBCN phát triển kém hơn so với các nước TBCN khác, C. Mác đã viết: “Trong tất cả các lĩnh vực khác thì cũng giống như các nước khác ở lục địa Tây Âu, chúng ta (nước Đức- Người viết chú thích) đau khổ không những vì sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ”. Sau này, trong quá trình xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin lại nhắc lại tư tưởng này để khẳng định những khó khăn khi chưa có CNTB, đồng thời phải tận dụng những thành tựu của CNTB thế giới trong quá trình xây dựng CNXH.

Đặc biệt là, C.Mác, Ph.Ăngghen quan tâm tới sự phong phú của phương pháp cách mạng. Các ông yêu cầu các Đảng Cộng sản phải vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở trong nước và quốc tế.

Trong bối cảnh châu Âu (nước Anh) vào những năm 40 của thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh đến vai trò của bạo lực trong cách mạng vô sản. Sau này (1886), khi điều kiện lịch sử nước Anh đã thay đổi thì trong “Lời tựa viết cho bản tiếng Anh” cho tác phẩm “Tư bản –Tập I” của C. Mác, chính Ph.Ăngghen lại nhấn mạnh đến “phương pháp hòa bình và hợp pháp”. Ông viết: Không còn nghi ngờ gì nữa, trong một lúc như vậy, người ta cần phải nghe tiếng nói của một người (tức của Các Mác - giải thích của người trích dẫn) mà toàn bộ học thuyết là kết quả của suốt một đời nghiên cứu lịch sử kinh tế và tình hình kinh tế nước Anh, một người mà việc nghiên cứu ấy đã dẫn đến kết luận nói rằng: ít nhất là ở châu Âu, nước Anh là nước duy nhất mà cuộc cách mạng xã hội tất yếu sẽ có thể hoàn toàn thực hiện được bằng phương pháp hòa bình và hợp pháp. Dĩ nhiên, ông không bao giờ quên nói thêm rằng, vị tất đã có thể mong chờ được các giai cấp thống trị ở nước Anh sẽ chịu khuất phục trước cuộc cách mạng hòa bình và hợp pháp …”. Ngoài sự “mong chờ” đó, Ph.Ăngghen còn gắn khả năng thực hiện cách mạng “bằng phương pháp hòa bình và hợp pháp” với sự trưởng thành về nhận thức và hành động của GCVS trong quá trình thực hiện SMLS của mình.

 Như vậy, Chủ nghĩa Mác không tuyệt đối hóa về con đường giành chính quyền của GCCN bằng bạo lực cách mạng như các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo. Các ông đã có cái nhìn toàn diện, bao quát dựa trên nền tảng nhân văn cộng sản chủ nghĩa để đưa ra quan điểm về phương thức giành chính quyền của GCCN vừa mang tính khách quan và vừa mang tính khoa học. Vì vậy, dù bối cảnh xã hội hôm nay có nhiều biến đổi, nhưng các quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị.

NỘI DUNG SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, nội dung SMLS của GCCN là mục tiêu cuối cùng phải đạt được, những nhiệm vụ (nhiệm vụ bao trùm, nhiệm vụ cơ bản và những nhiệm vụ chủ yếu trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội) mà GCCN phải  thực hiện thành công để tạo ra bước ngoặt trong tiến trình cải tạo xã hội cũ, thay thế HTKT-XH TBCN bằng HTKT-XH CSCN - hình thái xã hội (kiểu xã hội, chế độ xã hội) được phát triển dựa trên chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu với lực lượng sản xuất hiện đại và đạt năng suất cao đến mức bắt đầu thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu; xã hội mà ở đó con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công và phát triển toàn diện - xã hội mà “trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Để thực hiện được mục tiêu cuối cùng SMLS của mình, GCCN phải thực hiện nhiệm vụ bao trùm là giải phóng thế giới, giải phóng nhân loại. Ph.Ăngghen khẳng định: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu SMLS của GCCN, C.Mác,  Ph.Ăngghen đã tập trung nghiên cứu và phát hiện những nhiệm vụ cơ bản mà GCCN  phải  thực hiện thành công: một là, lật đổ chế độ TBCN và GCTS, giành chính quyền về tay GCCN và nhân dân lao động; hai là, lãnh đạo, tổ chức thực hiện quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới- xã hội XHCN và CSCN. Đồng thời, để hoàn thành SMLS của mình, GCCN còn phải thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội.

Về nhiệm vụ kinh tế: Các ông luôn khẳng định đây là nội dung có tính nền tảng của SMLS của GCCN. Theo C.Mác,  Ph.Ăngghen, “việc giải phóng  giai cấp công nhân về mặt kinh tế là mục tiêu vĩ đại mà bất kỳ phong trào chính trị nào cũng đều phải phục tùng với tư cách là một thủ đoạn” và trong đó nhiệm vụ xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân TBCN là nhiệm vụ quan trọng nhất mà SMLS của GCCN phải hoàn thành. Các ông viết: “những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu”. Đồng thời, C.Mác đã dự báo rằng nhiệm vụ này phải thực hiện lâu dài trong thời kỳ quá độ, trong giai đoạn đầu của CNCS.

Về nhiệm vụ chính trị: trong quá trình đấu tranh để giải phóng mình, GCVS “trước hết phải chiếm lấy chính quyền để đến lượt mình, có thể biểu hiện lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến, điều mà giai cấp ấy buộc phải thực hiện trong bước đầu”. Tiến trình cách mạng của giai cấp vô sản có khả năng “lôi cuốn tất cả khối đông đảo quần chúng theo mình” để tiến hành cuộc cách mạng nhằm xóa bỏ chế độ bóc lột hiện hành và xây dựng xã hội mới không còn áp bức bóc lột.

Về nhiệm vụ văn hóa, tư tưởng, con người và xã hội: GCCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản tiến hành cuộc cách mạng văn hóa để xác lập hệ giá trị, lối sống mới trên lập trường của GCCN để thay cho hệ giá trị, lối sống và “ những hệ tư tưởng cổ truyền” của GCTS; từ đó tạo điều kiện để con người phát triển tự do và toàn diện trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh: “Người cộng sản không bịa đặt ra tác động xã hội với giáo dục, họ chỉ thay đổi tính chất của sự giáo dục ấy và kéo giáo dục ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp thống trị mà thôi”.

Như vậy, với những nội dung trên, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, so với các giai cấp trong lịch sử, SMLS của GCCN có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, SMLS của GCCN không phải là thực hiện sự chuyển biến từ chế độ tư hữu này sang chế độ tư hữu khác, nhằm thay đổi hình thức bóc lột này sang hình thức bóc lột khác mà là xoá bỏ chế độ tư hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, thiết lập chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, xoá bỏ mọi hình thức người bóc lột người để tiến tới xoá bỏ giai cấp nói chung. Tuy nhiên, xóa bỏ sỡ hữu cần được hiểu là một quá trình “lịch sử - tự nhiên” chứ không thể duy ý chí và do trình độ của lực lượng sản xuất quy định. Hai là, SMLS của GCCN là sự nghiệp cách mạng của quần chúng và mưu cầu lợi ích cho đa số. Giai cấp công nhân cũng “chỉ có thể giải phóng mình thông qua việc đồng thời giải phóng các giai cấp bị áp bức và bóc lột khác”. Ba là, SMLS của GCCN là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới, nhằm mục tiêu cao nhất là giải phóng con người, lần đầu tiên con người “bước từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do”. Bốn là, SMLS của GCCN là sự thống nhất giữa các yếu tố giai cấp, dân tộc và quốc tế. Cuộc cách mạng do GCCN mỗi nước tiến hành trước hết trong khuôn khổ dân tộc mình nhưng thực chất đã mang tính chất quốc tế. Bởi vì thắng lợi của GCCN ở mỗi nước sẽ góp phần làm suy yếu CNTB và cổ vũ cho phong trào công nhân, phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới. Ngược lại, sự lớn mạnh của phong trào cách mạng của GCCN thế giới, tạo thời cơ và thuận lợi cho sự phát triển cách mạng của GCCN ở mỗi nước. SMLS của GCCN chỉ có thể được hoàn thành khi xây dựng thành công CNXH và chủ nghĩa cộng sản ở mỗi nước và trên toàn thế giới.

Trong bối cảnh hiện nay, dù GCCN có sự biến đổi về cơ cấu, thay đổi về quy mô, số lượng và chất lượng, tuy nhiên, GCCN vẫn là giai cấp có SMLS là thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Ở Việt Nam, trong suốt quá trình cách mạng cho đến nay, GCCN Việt Nam vẫn là giai cấp “có sứ mệnh lịch sử to lớn là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam... lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Điều đó, một lần nữa tiếp tục khẳng định quan điểm của chủ nghĩa Mác về nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

TÍNH TẤT YẾU CỦA SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THÉ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Ngay đầu những năm 40 thế kỷ XIX, từ quan điểm duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu GCVS và phát hiện được SMLS của nó và xem đó là nhiệm vụ khách quan mà sự  phát triển của chế độ “sở hữu tư nhân” đã tất yếu đặt ra cho chính GCCN. Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh…” các ông đã chính thức sử dụng thuật ngữ “không tránh khỏi”,tính tất yếu” để chỉ nói về cơ sở khách quan của SMLS của GCVS mà nó phải “thi hành” như một “nhiệm vụ lịch sử” - nhiệm vụ được “chỉ ra từ trước” và gắn với “chế độ tư hữu. Các ông viết: “Giai cấp vô sản đang thi hành bản án mà chế độ tư hữu, trong khi đẻ ra giai cấp vô sản, đã làm ra cho mình, cũng giống như nó đang thi hành bản án mà lao động làm thuê, trong khi sản xuất ra sự giàu có cho kẻ khác và sự khốn cùng cho bản thân, đã làm ra cho mình”.

Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã đạt được trước đó, trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát, hệ thống hóa và đề cập một cách toàn diện tính tất yếu của SMLS của GCVS. Sau này, khi đánh giá ý nghĩa của “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng đây là “tác phẩm phổ biến hơn cả, có tính chất quốc tế hơn cả, trong tất cả các văn phẩm xã hội chủ nghĩa, đó là cương lĩnh chung của hàng triệu công nhân tất cả các nước…”.

Trong các tác phẩm được viết sau “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tiếp tục nghiên cứu và khẳng định tính tất yếu của SMLS của GCCN. Đặc biệt, trong “Lời bạt viết cho lần xuất bản thứ hai” (1873) của tác phẩm “Tư bản -Tập I”, C. Mác đã khẳng định: “Trong chừng mực sự phê phán đó nói chung đại biểu cho một giai cấp nhất định thì nó chỉ có thể đại biểu cho giai cấp mà sứ mệnh lịch sử là thực hiện một cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và vĩnh viễn xóa bỏ các giai cấp, tức là cho giai cấp vô sản, mà thôi”.

Theo tư tưởng của các ông, tính tất yếu của SMLS của GCCN được biểu hiện ở tất yếu kinh tế, tất yếu xã hội, tất yếu chính trị, tất yếu văn hóa-tư tưởng-xã hội và tất yếu quốc tế. Đồng thời, khi nói về tầm quan trọng của việc nhận thức quy luật khách quan đối với hoạt động tực tiễn con người, Ph.Ăngghen nói: “Những lực lượng xa lạ khách quan, từ trước đến nay vẫn thống trị lịch sử, giờ đây sẽ chính do con người kiểm soát. Chỉ có từ lúc đó, loài người mới sáng tạo ra lịch sử của mình một cách hoàn toàn tự giác; chỉ có từ lúc đó những  nguyên nhân xã hội mà họ đem vận dụng mới đưa lại những kết quả mà họ mong muốn, với một mức độ rất lớn và luôn tăng lên mãi”.

Như vậy là, toàn bộ những tư tưởng cách mạng và khoa học về tính tất yếu của SMLS của GCCN đều là kết quả nghiên cứu của C.Mác, Ph.Ăngghen và sau này là V.I.Lênin đối với quá trình vận động khách quan của xã hội loài người nói chung và trực tiếp là của xã hội TBCN nói riêng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở mỗi quốc gia và trên phạm vi quốc tế. Ngày nay, dù CNTB đang có những điều chỉnh để che đậy những hạn chế, khuyết tật mang tính bản chất của mình và dù cho nhân loại đang biến động nhanh chóng, khó lường- những biến động đang tác động trực tiếp đến sự phát triển của GCCN nhưng những luận điểm về tính tất yếu của sứ mệnh lịch sử của GCCN đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

THUỘC TÍNH CƠ BẢN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng và sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng vào nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung và đi sâu nghiên cứu phương thức sản xuất TBCN, nghiên cứu GCCN và SMLS của GCCN nói riêng. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, dù có nhiều bộ phận khác nhau với những tên gọi khác nhau, khi thì nhấn mạnh đến tính chất lao động, khi nhấn mạnh đến sở hữu tư liệu sản xuất nhưng GCVS vẫn mang những thuộc tính cơ bản và những đặc điểm chung chủ yếu của nó. Đây là căn cứ để phân biệt sự khác nhau về chất giữa GCVS với các giai cấp khác trong xã hội. 

Khi bàn về thuộc tính cơ bản của GCCN, Chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ, GCCN là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao, là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội hiện đại. Thuộc tính này của GCCN do phương thức lao động, phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại quy định. Các ông nhấn mạnh: “Trong công trường thủ công và trong nghề thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục vụ máy móc”.

Về vị trí trong quan hệ sản xuất TBCN, các nhà kinh điển cũng chỉ rõ, GCCN là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị bóc lột giá trị thặng dư. Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, hai ông chỉ rõ: giai cấp công nhân “là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá… vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”.

Từ việc nghiên cứu và chỉ ra những thuộc tính cơ bản của GCCN, C.Mác và Ph.Ănghen đã phát hiện ra những đặc điểm tiến bộ chung của GCCN (dù GCCN ở thế kỷ XIX với nền công nghiệp cơ khí hóa hay GCCN ở đầu thế kỷ XXI với nền công nghiệp tự động hóa đều có những đặc điểm đó) so với các giai tầng khác trong xã hội. Do làm việc và sống trong xã hội công nghiệp, cho nên GCCN có xu hướng phát triển không ngừng về số lượng và chất lượng cùng sự phát triển của đại công nghiệp. Đồng thời, do bị GCTS bóc lột giá trị thặng dư mà GCCN ngày càng được rèn luyện ý thức, tinh thần, tác phong cách mạng với nhiều phẩm chất tiến bộ như tiên tiến, cách mạng, kỷ luật, đoàn kết quốc tế.

Có thể khẳng định rằng, ngày nay, với sự phát triển của CNTB trong nửa sau của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI bộ mặt của GCCN hiện đại có nhiều thay đổi so với trước đây. Sự xã hội hóa và phân công lao động xã hội mới, cơ cấu của GCCN hiện đại, các hình thức mới mà GCTS sử dụng để bóc lột giá trị thặng dư,… đã làm cho diện mạo của GCCN hiện đại không còn giống hoàn toàn với những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Thế nhưng GCCN hiện đại vẫn tồn tại, vẫn có SMLS của mình trong xã hội tư bản hiện đại vì những thuộc tính cơ bản và đặc điểm chủ yếu của GCCN mà chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị về phương pháp luận cũng như nội dung của nó đối với việc nhận thức GCCN hiện đại và SMLS của nó.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

LỊCH SỬ THẾ GIỚI ĐÃ CHỨNG MINH TÍNH ĐÚNG ĐẮN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã ra đời, tồn tại, ưu việt hơn hẳn các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Năm 1871, Công xã Pari  nổ ra, giành thắng lợi – nhà nước vô sản đầu tiên được thành lập, tuy chỉ là mô hình nhà nước vô sản sơ khai, chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng bước đầu đã chứng minh khả năng cách mạng của giai cấp công nhân và bản chất tốt đẹp của mô hình xã hội XHCN. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), đã sáng lập nên một chế độ xã hội mới – xã hội XHCN. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại cần lao đã trở thành hiện thực sinh động trên một đất nước rộng lớn bằng một phần sáu trái đất và đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. “Cách mạng Tháng Mười đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.

Nước Nga Xô viết, tiếp sau là Liên Xô đã sáng tạo nên những giá trị Xô viết vĩ đại để nhân loại tiến bộ noi theo. Trong hơn 70 năm (1917 - 1991) xây dựng và phát triển, Liên-Xô đã vươn lên trở thành một cường quốc có vị thế lớn trên trường quốc tế. Từ một nước Nga lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ). Chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục đều có sự phát triển vượt bậc, ảnh hưởng lớn đến các nước trên thế giới…. Liên-Xô đã giải phóng hàng trăm dân tộc thiểu số ra khỏi nước Nga Sa hoàng - nhà tù của các dân tộc, đem đến cho họ cuộc sống mới. Đời sống mọi mặt của các dân tộc được nâng cao. Quần chúng công nông được hưởng đầy đủ các quyền chính trị kinh tế văn hóa xã hội bảo vệ sức khoẻ, chữa bệnh và nhiều giá trị khác nữa như  quyền nhà ở, quyền được học hành, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo…Đó chính là những giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt do Liên Xô tạo nên, đã buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh, tự tô vẽ lại bộ mặt của mình theo hướng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.

Năm 1972, tổng sản lượng công nghiệp Liên Xô đã tăng 321 lần so với năm 1922, thu nhập quốc dân tăng 112 lần. Năm 1975, tổng sản lượng kinh tế của Liên Xô đã đạt 943,5 tỷ USD (đứng thứ 2 thế giới và bằng 62% so với Hoa Kỳ) và chỉ cần 2 ngày rưỡi, Liên Xô đã sản xuất ra lượng sản phẩm bằng cả năm 1913 (năm cao nhất của Đế quốc Nga cũ). 

Liên Xô đã tích cực, chủ động giúp đỡ phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc hiệu quả, thiết thực. Liên Xô đã thực sự là thành trì của hoà bình, an ninh quốc tế, góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm hoạ phát xít. Với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phát triển như vũ bão; phong trào cộng sản- công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới lớn mạnh không ngừng. Nhờ đó, trong những năm 1960, có khoảng 100 quốc gia giành được độc lập dân tộc ở các mức độ khác nhau, một số nước trong đó lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội từ một nước phát triển thành một hệ thống thế giới, tạo thế cân bằng với chủ nghĩa tư bản, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt hành tinh. Đó là sự hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà C. Mác, Ph. Ăng ghen đã tiên đoán từ năm 1848.

Thế nhưng, sau 70 năm tồn tại,  phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện thực ơ Liên Xô  đã sụp đổ. Nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ đó là do sự vận dụng giáo điều chủ nghĩa Mác  - Lênin, duy trì quá lâu mô hình kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp; nguyên nhân trực tiếp là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của đảng cộng sản; thêm vào đó, là sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với sự chống phá của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Sự sụp đổ hệ thống XHCN hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của lý tưởng cộng sản, càng không phải là sự phá sản của chủ nghĩa Mác, không phải là sự diệt vong tất yếu của CNXH hiện thực mà là sự đổ vỡ của một mô hình CNXH còn nhiều khuyết tật, không tôn trọng quy luật khách quan, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin…

LUẬN THUYẾT MÁC - LÊNIN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN MANG TÍNH KHOA HỌC, CÁCH MẠNG

Sự ra đời, phát triển của giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó là kết quả tất yếu, khách quan của quá trình phát triển xã hội loài người; các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin là những người phát hiện ra, truyền bá, giác ngộ giai cấp công nhân để họ đấu tranh, hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử đó.

Thực tế, giai cấp công nhân là “con đẻ” của đại công nghiệp, phát triển cùng đại công nghiệp. “Trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”. 

Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân đấu tranh xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.

Sứ mệnh lịch sử đó do địa vị kinh tế - xã hội khách quan  của giai cấp công nhân quy định. Giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, nên nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân là giai cấp đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Giai cấp công nhân được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột đó. Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là tất yếu khách quan, song, để hiện thực hóa sứ mệnh đó, phải thông qua những nhân tố chủ quan – bản thân giai cấp công nhân và chính đảng của nó.

Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, số lượng, tỷ trọng công nhân ngày càng tăng nhanh ở tất cả các nước, đa dạng hơn về cơ cấu; chất lượng, trình độ học vấn, khoa học công nghệ và tay nghề ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển, với sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân tất yếu hình thành chính đảng của giai cấp công nhân -bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân sẽ nâng phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác. Việc thành lập ra đảng cộng sản trung thành với sự nghiệp, lợi ích của giai cấp công nhân là yếu tố quyết định nhất, đảm bảo cho giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

THẬT NỰC CƯỜI KHI CHO RẰNG TRÍ THỨC MỚI MANG TRONG MÌNH SỨ MỆNH LỊCH SỬ

Có quan điểm cho rằng: Thời đại ngày nay khi cách mạng khoa học - công nghệ phát triển, tầng lớp trí thức ngày càng có vai trò quan trọng trong xã hội, nên địa vị lịch sử đã trao vào tay họ?

Đặt tầng lớp trí thức vào vị trí lãnh đạo xã hội là sai lầm cả về lý luận và thực tiễn.

Bởi vì:

+ Trí thức chỉ là tầng lớp xã hội đặc biệt, không thuần nhất, không đại diện cho một phương thức sản xuất nào, không có hệ tư tưởng riêng và chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng của giai cấp tư sản (ngả nghiêng, dao động).

+ Trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản, cũng là người làm thuê bị bóc lột nhưng được giai cấp tư sản đào tạo, sử dụng và lợi dụng.

+ Thực tế, trí thức chưa bao giờ lãnh đạo một cuộc cách mạng (ở Việt Nam cũng như thế giới).

+ Song chúng ta cũng không thể phủ nhận họ là lực lượng quan trọng có vai trò to lớn nhất là trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

+ Cho nên, nếu đặt họ vào vị trí lãnh đạo xã hội thì sai cả về lý luận và thực tiễn.

Thật nực cười khi cứ rêu rao mãi luận điệu cũ rích: Thời đại ngày nay, cách mạng khoa học - công nghệ phát triển, tầng lớp trí thức ngày càng có vai trò quan trọng trong xã hội, nên địa vị lịch sử đã trao vào tay họ./.

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN

Từ ngày thành lập đến nay, dù đổi tên nhiều lần, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam không hề thay đổi bản chất giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người... Khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng có nghĩa là khẳng định lập trường của Đảng ta là lập trường của giai cấp công nhân - giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến và xu thế phát triển của thời đại. Việc giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng luôn được Đảng ta khẳng định qua các kỳ đại hội, gần đây nhất là Đại hội XIII, với yêu cầu: “Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ, được thể hiện qua các tác phẩm, bài viết, bài nói của Người. Trong “Chương trình tóm tắt của Đảng”, Người viết: “Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giai cấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng”.

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, (tháng 2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sự thống nhất quyền lợi giai cấp, nhân dân lao động và của cả dân tộc: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.

Khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến, cách mạng nhất, trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập tháng 12-1958, Người viết: “Để giành lấy thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân lãnh đạo. Vì nó là giai cấp tiền tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất. Mà đảng vô sản là bộ tham mưu của giai cấp công nhân. Cách mạng ở Liên Xô và ở các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa đã chứng thực điều đó, không ai chối cãi được”.

Báo Nhân Dân ra ngày 6-1-1960 đăng tác phẩm “Ba mươi năm hoạt động của Đảng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có đoạn: “Ngay từ lúc đầu, Đảng đã giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ, lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Trong lúc đó, giai cấp phong kiến đã đầu hàng đế quốc, giai cấp tư sản non yếu thì chỉ mong thỏa hiệp với đế quốc để tìm một lối sống. Các tầng lớp tiểu tư sản tuy là sôi nổi, nhưng tư tưởng bế tắc, không có đường ra. Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”.

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều luận chứng hết sức thuyết phục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, điều đó đã được minh chứng trong thực tiễn hơn 91 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày nay, giai cấp công nhân Việt Nam vẫn là lực lượng lãnh đạo cách mạng, là một lực lượng xã hội to lớn, ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành, nghề, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và gắn với nền công nghiệp hiện đại. Giai cấp công nhân Việt Nam đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Họ có khả năng phát minh, cải tiến và áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất, trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

C. Mác, Ph. Ăngghen đã làm rõ địa vị kinh tế - xã hội khách quan của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, bởi đây là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại và hội đủ các yếu tố của một giai cấp lãnh đạo xã hội. Điều này không phải là mong muốn chủ quan của giai cấp công nhân hay nguyện vọng của C. Mác như một số luận điệu xuyên tạc. Sở dĩ giai cấp công nhân có được vai trò và sứ mệnh ấy là do có sự khác biệt với tất cả các giai tầng khác về địa vị trong phương thức sản xuất, về tính tổ chức, tính kỷ luật và hệ tư tưởng. Giai cấp công nhân ra đời và phát triển từ nền đại công nghiệp gắn với dây chuyền máy móc, sản xuất tập trung, theo chu trình khép kín, mang tính xã hội hóa cao. Chính điều này làm cho giai cấp công nhân có tính tổ chức, kỷ luật chặt chẽ, tinh thần hợp tác cao, là giai cấp duy nhất thống nhất được lợi ích cũng như nhận thức, tư tưởng và hành động trong xã hội, hội đủ những phẩm chất cần có của một giai cấp cách mạng, có năng lực lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Khẳng định sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta”, C. Mác và Ph. Ăngghen nhắc lại nội dung trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản thì trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.

C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: “Vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản. Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại, những người vô sản”. C. Mác, Ph. Ăngghen cũng chỉ rõ: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc”. Như vậy, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, dưới ánh sáng của chủ nghĩa xã hội khoa học, là nền tảng cho sự ra đời của đảng cộng sản. Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là hoàn toàn khách quan, do cơ sở kinh tế - xã hội quy định.

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM ĐÃ KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA MÌNH

Đó là lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tại Lễ kỷ niệm 135 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886-1/5/2021), phát động Tháng Công nhân, Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động năm 2021 diễn ra tại Hà Nội vào sáng ngày 28/4/2021 vừa qua.

Năm 2021, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chọn chủ đề “Đoàn kết, sáng tạo, vượt khó, phát triển” gắn với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, để thể hiện tinh thần đoàn kết, sáng tạo trong lao động của giai cấp công nhân Việt Nam, khắc phục mọi khó khăn để phát triển, góp phần thực hiện khát vọng Việt Nam hùng cường.

Tại buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn dành sự quan tâm, chăm lo đặc biệt tới giai cấp công nhân, người lao động và tổ chức công đoàn. Giai cấp công nhân đã khẳng vai trò sứ mệnh lịch sử của mình là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là lực lượng nòng cốt trong liên minh công nông, trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt là sau 35 năm đổi mới, công nhân và người lao động đang có mặt trong tất cả các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thực hiện khát vọng dân tộc.

Nhân ngày Quốc tế lao động 01/5, xin chúc cho toàn thể giai cấp công nhân Việt Nam trên khắp mọi miền Tổ quốc, mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực, mọi lứa tuổi thêm nhiều sức khỏe, thêm nhiều sáng tạo để tiếp tục đóng góp phần to lớn trong xây dựng đất nước, vì khát vọng Việt Nam hùng cường./.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2020

CÓ PHẢI HIỆN NAY SỨ MỆNH LỊCH SỬ ĐÃ THUỘC VỀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC?

Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, nền kinh tế tri thức ra đời, vai trò của đội ngũ trí thức ngày càng tăng. Vì vậy, có quan điểm cho rằng giai cấp công nhân hiện nay không còn sứ mệnh lịch sử nữa, mà sứ mệnh lịch sử đó đã thuộc về những người trí thức. Vậy có phải đội ngũ trí thức có sứ mệnh lịch sử trong thời đại hiện nay?

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2019

SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY

Trong thời đại hiện nay, khi xã hội tư bản đang tồn tại mâu thuẫn giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Thực chất của mâu thuẫn này xuất phát từ tính đối kháng giữa hai phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Giai cấp tư sản, đại diện cho phương thức sản xuất cũ đang thống trị xã hội với tham vọng bóc lột ngày càng nhiều giá trị thặng dư nên chúng cố gắng tìm mọi cách duy trì kiểu quan hệ sản xuất của mình với hình thức tách người lao động ra khỏi tư liệu lao động bằng việc chiếm đoạt toàn bộ tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội và thực hiện bóc lột giá trị thặng dư. Tuy nhiên, khi sản xuất phát triển thì tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất ngày càng cao, đặt ra yêu cầu và đòi hỏi tư liệu sản xuất phải thuộc về người lao động trong xã hội. Đòi hỏi này vấp phải cản trở lớn từ phương thức sản xuất cũ của giai cấp tư sản, trong khi đó, giai cấp công nhân là người đại diện cho một phương thức sản xuất mới, đồng thời lại là người có mâu thuẫn trực tiếp gay gắt nhất với giai cấp thống trị. Do đó, người đại diện cho phương thức sản xuất mới tiến bộ, có mâu thuẫn trực tiếp đối kháng với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đại diện cho lực lượng sản xuất mới tiến bộ, lực lượng sản xuất chính chủ yếu của xã hội là giai cấp công nhân sẽ được lịch sử lựa chọn là giai cấp đứng lên đảm nhận sứ mệnh lịch sử của thời đại là một tất yếu khách quan. Cũng chính từ đặc điểm giai cấp công nhân vừa là giai cấp có mâu thuẫn trực tiếp gay gắt nhất, bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất bởi giai cấp thống trị, vừa là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất mới tiến bộ ra đời từ chính phương thức sản xuất cũ của giai cấp tư sản, do đó, cuộc cách mạng do giai cấp công nhân đảm nhận lãnh đạo có mục tiêu và tính chất khác hẳn về bản chất so với các cuộc cách mạng trước đây. Cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo hướng tới mục tiêu xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ giai cấp, thực hiện giải phóng con người, giải phóng toàn nhân loại, tính chất triệt để và toàn diện được thể hiện rõ chứ không chỉ dừng lại ở việc thay đổi giai cấp thống trị này bằng giai cấp thống trị khác, thay đổi kiểu hình thức bóc lột này bằng kiểu hình thức bóc lột khác tinh vi hơn, hiện đại hơn. Cuộc cách mạng ấy đòi hỏi phải được thực hiện triệt để trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội chứ không đơn thuần diễn ra chủ yếu trên lĩnh vực chính trị như các cuộc cách mạng xã hội của các giai cấp trước đây. Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện, khả năng để thực hiện cuộc cách mạng đó.

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2019

NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC, PHỦ ĐỊNH LÝ LUẬN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN


        Chỉ có sự nhận diện chính xác những luận điệu thù địch, sai trái với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mới có cơ sở đấu tranh bác bỏ, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng của Đảng hiện nay. 

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2019

CÓ PHẢI HIỆN NAY SỨ MỆNH LỊCH SỬ ĐÃ THUỘC VỀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, nền kinh tế tri thức ra đời, vai trò của đội ngũ trí thức ngày càng tăng. Vì vậy, có quan điểm cho rằng giai cấp công nhân hiện nay không còn sứ mệnh lịch sử nữa, mà sứ mệnh lịch sử đó đã thuộc về những người trí thức. Vậy có phải đội ngũ trí thức có sứ mệnh lịch sử trong thời đại hiện nay?

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY KHÔNG CÒN SỨ MỆNH LỊCH SỬ

Bởi lẽ, sự vận động tất yếu của lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua chính là bằng chứng chân thật để phủ nhận quan điểm đó. Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn tồn tại và ngày càng phát triển trong cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

PHẢI CHĂNG NGÀY NAY TRÍ THỨC ĐÃ THAY THẾ CÔNG NHÂN THỰC HIỆN SỨ MỆNH LỊCH SỬ?

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch, chống cộng cùng với các phần tử cơ hội, xét lại mưu toan xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội khoa học, ngay từ phạm trù trung tâm của nó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Vì vậy, nhận thức đúng đắn về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với mỗi đảng cộng sản cũng như toàn bộ phong trào cộng sản, công nhân quốc tế hiện nay.
Dưới ảnh hưởng sâu rộng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, nền kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa, đời sống xã hội loài người đã có những thay đổi về căn bản, trong lực lượng lao động vai trò của nhiều bộ phận đã có sự biến đổi, bên cạnh giai cấp công nhân, bộ phận trí thức giữ vai trò ngày càng quan trọng và không thể thiếu, góp phần thúc đẩy xã hội tiến lên. Lợi dụng thực tế đó, các thế lực thù địch không chỉ ra sức tung hô trí thức, mà còn hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò căn bản của giai cấp công nhân. Chúng cho rằng hiện nay giai cấp công nhân đã mất đi sứ mệnh lịch sử, sứ mệnh đó đã đươc bàn giao lại cho tầng lớp trí thức; giai cấp công nhân đang tan ra, teo đi, từng bước trung lưu hóa… Thực chất các luận điệu nêu trên tập trung phủ nhận vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, sâu xa hơn phủ nhận lực lượng trung tâm của chủ nghĩa xã hội, nòng cốt của lý luận Mác - Lênin.
Từ góc độ khoa học lý luận và thực tiễn, chúng ta dễ dàng có thể nhận thấy mấy vấn đề cơ bản như sau:
Thứ nhất, trong xã hội hiện đại, giai cấp công nhân vẫn là lực lượng hùng hậu, có số lượng đông đảo và quyết định toàn bộ nền sản xuất xã hội. Nếu như trước đây, Mác - Ăngghen - Lênin đã thấu rõ sự gắn kết của giai cấp công nhân với nền đại công nghiệp cơ khí. Thì hiện nay, mặc dù máy móc được đưa vào đại trà, số lượng công nhân thủ công có giảm sút, nhưng vai trò, vị trí của ngời công nhân không hề bị thay đổi, họ vẫn là người trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành, vận hành các phương tiện máy móc, để sản xuất ra của cải vật chất cung cấp cho xã hội. Không có người công nhân vận hành và sử dụng thành thạo máy móc, sẽ không thể tạo ra được sản phẩm chứ chưa kể đến việc nâng cao năng suất, tạo ra nhiều của cải hơn nữa cho giới chủ tư bản. Chính bản thân giai cấp tư sản cũng nhận thức được vị trí đặc biệt của người công nhân, nên đã có những chính sách ưu đãi đối với bộ phận cơ bản này như tăng lương, đào tạo lại, bảo đảm các chính sách phúc lợi cơ bản, cất nhắc một số người có khả năng vào vị trí điều hành dây chuyền… từng bước đã tạo ra một hiện tượng mà như các giả tư sản đã tung hô là giai cấp công nhân đang được “trung lưu hóa”.
Thứ hai, đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp công nhân tuy có được nâng lên nhiều mặt, họ đã được quan tâm và hưởng nhiều quyền lợi hơn trước đây. Nhưng về cơ bản, công nhân vẫn là người lao động làm thuê cho giới chủ tư bản, những quyền lợi mà họ được hưởng chỉ là một phần nhỏ bé được trích từ chính kết quả mồ hôi và nước mắt mà họ làm việc cực nhọc và căng thẳng trong các nhà máy, xí nghiệp của ông chủ tư bản. Nên mâu thuẫn lợi ích cơ bản giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư bản vẫn luôn luôn tồn tại. Các cuộc biểu tình, bãi công diễn ra ở hàng loạt các quốc gia tư bản phát triển như Mỹ, Anh, Phát… và ngày càng có xu hướng tăng lên, là minh chứng rõ ràng cho mâu thuẫn cơ bản tiềm ẩn trong xã hội tư bản, mà giai cấp tư sản dù có cố gắng điều chỉnh và thích nghi cũng không xóa bỏ triệt để được. Giai cấp công nhân vẫn mang trong mình đầy đủ những đặc điểm của một giai cấp tiên tiến, cách mạng, dưới ảnh hưởng của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đã đặt ra những yêu cầu ngày càng cao với giai cấp công nhân, đồng thời cũng tạo ra những điều kiện căn bản họ tự nâng cao chất lượng của mình để đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất xã hội trong giai đoạn mới.
Thứ ba, trong xã hội hiện đại, trí thức có vai trò hết sức quan trọng, là kiến trúc sư của những phát minh, phát kiến thay đổi diện mạo đời sống con người. Tuy nhiên, lý luận và thực tế đều cho thấy, trí thức chỉ đơn thuần là một tầng lớp xã hội không thuần nhất, thiếu ổn định, được tập hợp từ nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội, nên có lợi ích cơ bản không đồng nhất, trong giai cấp công nhân hiện đại cũng tồn tại một bộ phận công nhân có trình độ chuyên môn cao hơn hẳn bộ phận còn lại. Bên cạnh đó, trí thức luôn gắn bó chặt chẽ với giai cấp thống trị đương thời, được đào tạo sử dụng và có quyền lợi gắn bó chặt chẽ với giai cấp thống trị. Trí thức không có hệ tư tưởng riêng biệt, không đại diện cho một phương thức sản xuất nào cố định. Trong lịch sử các cuộc cách mạng do trí thức lãnh đạo đều chưa thành công, hoặc thể hiện rõ tính nửa vời, thiếu kiên định. Vì vậy, họ không thể trở thành giai cấp giữ vị trí trung tâm xây dựng xã hội mới được. Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã nâng cao vai trò của trí thức trong xã hội, nhưng không làm thay đổi bản chất, kết cấu địa vị kinh tế - xã hội của tầng lớp đặc biệt này. Do đó, những luận điệu tuyên truyền cho cái gọi là sự chuyển giao sứ mệnh lịch sử từ công nhân sang trí thức, chỉ là giấc mộng ảo tưởng của các học giả tư sản và các lực lượng chống cộng, phần tử cơ hội và xét lại mà thôi.