Hiển thị các bài đăng có nhãn chất lượng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chất lượng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2023

ĐĂNG KIỂM, KHÔNG CHỈ LÀ THANH LỌC

 

Thời gian vừa qua, hàng dài ô tô mòn mỏi chờ đến lượt kiểm định ở một số trung tâm đăng kiểm. Hình ảnh này đã khá lâu không còn xuất hiện, nhất là từ khi hoạt động đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ được xã hội hóa với sự tham gia của các đơn vị ngoài khu vực công.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa giúp số lượng các trung tâm đăng kiểm nhiều hơn, người dân, doanh nghiệp đưa xe đi kiểm định thuận lợi hơn. Tuy nhiên, chất lượng đăng kiểm phương tiện đang bị đặt ra dấu hỏi lớn khi nhiều sai phạm trong lĩnh vực này được cơ quan chức năng phát hiện. Đã đến lúc không chỉ cần thanh lọc, loại bỏ tiêu cực mà còn phải tăng cường quản lý, giám sát, đổi mới hoạt động đăng kiểm để nâng cao hiệu quả công tác này.

Đăng kiểm được ví như “hàng rào” ngăn chặn phương tiện không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và các yếu tố bảo vệ môi trường được lưu thông. Công tác này ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn, sức khỏe, tính mạng của người tham gia giao thông nên càng phải đề cao tính chặt chẽ, chính xác, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đề ra. Tuy nhiên, thực tế còn không ít kẽ hở từ hoạt động đăng kiểm. Tình trạng xe cũ nát, cơi nới vẫn vô tư đi trên đường có nguyên nhân từ việc kiểm định lỏng lẻo, “nhắm mắt cho qua” của một số trung tâm đăng kiểm. Thậm chí, xe “quá đát” còn được sử dụng để kinh doanh vận tải, đưa đón học sinh đến trường, gây ra những mối nguy hiểm tiềm ẩn với hành khách. Vì thế, việc xử lý nghiêm minh những hành vi gian dối, vì tư lợi mà bất chấp quy định dẫn đến bỏ lọt phương tiện không bảo đảm an toàn là rất cần thiết, mang tính răn đe, phòng ngừa tái diễn. Đây cũng là cơ sở để chấn chỉnh, nâng cao chất lượng đồng bộ cho công tác đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ.

Cũng cần nhìn nhận, đăng kiểm là một “mắt xích” không thể thiếu trong các điều kiện bảo đảm hoạt động vận tải. Nếu tình trạng đình trệ ở nhiều trung tâm đăng kiểm kéo dài có thể dẫn đến nguy cơ gián đoạn hoạt động vận tải, ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại của người dân và thông thương của nền kinh tế. Những ngày qua, nhiều chủ phương tiện có xe đến hạn kiểm định mất không ít thời gian, công sức, "chạy đôn chạy đáo" khắp nơi để có được giấy chứng nhận kiểm định. Đây là vấn đề cần được khắc phục nhanh chóng. Trong đó, giải pháp trước mắt, với các trung tâm đăng kiểm đang bị đình chỉ vì phát hiện sai phạm, cần xem xét cử nhân sự thay thế, tận dụng trang thiết bị, cơ sở vật chất sẵn có, để các trung tâm này mở cửa trở lại, san sẻ khối lượng công việc đang quá tải ở những đơn vị khác. Điều này sẽ giúp lượng lớn phương tiện đang xếp hàng ở trung tâm đăng kiểm được “giải phóng”, giảm khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, kịp thời đáp ứng nhu cầu vận tải tăng cao trong những ngày cận kề Tết Nguyên đán.

Về lâu dài, muốn trung tâm đăng kiểm hoạt động minh bạch, hiệu quả, không chỉ cần xử lý nghiêm vi phạm mà quan trọng hơn là đổi mới thực chất, căn bản, giúp công tác này đi vào nền nếp, phục vụ tốt hơn yêu cầu xã hội. Số lượng các trung tâm đăng kiểm gia tăng nhanh chóng dẫn đến mặt trái là xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh để thu hút khách hàng, kéo theo thiếu khách quan, trung thực khi thực hiện kiểm định phương tiện. Nhiều ý kiến đề xuất nên xem xét sửa đổi quy định về thời hạn đăng kiểm song hành với bổ sung yêu cầu kiểm định chặt chẽ hơn. Có thể miễn kiểm định cho phương tiện mới, đăng ký lần đầu và kéo giãn thời gian giữa các lần kiểm định. Thay đổi này sẽ giúp số lượng phương tiện cần kiểm định giảm đi, do vậy, không cần duy trì quá nhiều trung tâm đăng kiểm, vừa giảm chi phí cho xã hội vừa tránh đầu tư dàn trải.

Thay vì chạy theo số lượng, nên chú trọng hơn nữa đến chất lượng đăng kiểm, tập trung phát triển các trung tâm đủ nguồn lực, được đầu tư trang thiết bị, máy móc bài bản, hiện đại. Cần quan tâm hơn nữa đến việc cải thiện môi trường làm việc của đăng kiểm viên, người lao động, có đãi ngộ hợp lý, tương xứng với vị trí việc làm, đặc thù công việc, gắn với nâng cao trách nhiệm, đạo đức công vụ, nghề nghiệp và tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, đẩy mạnh số hóa, tự động hóa trong hoạt động đăng kiểm, bảo đảm sự khách quan, minh bạch, chính xác, hạn chế sự can thiệp của con người vào quy trình kiểm định. Mục tiêu cần hướng đến là xây dựng hồ sơ dữ liệu cho mỗi phương tiện với tiêu chí xe không bảo đảm an toàn sẽ không được phép lưu thông để góp phần loại bỏ những “hung thần” trên đường phố.

Theo: ĐỖ MẠNH HƯNG


Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

MỘT SỐ BIỂU HIỆN MỚI VỀ CƠ CẤU CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN THẾ GIỚI HIỆN NAY

Cơ cấu của giai cấp công nhân hiện nay khá đa dạng, đang chuyển biến mạnh theo hướng hiện đại hóa và được tiếp cận theo những tiêu chí đánh giá sau:

Một là, cơ cấu nghề nghiệp của công nhân hiện nay vô cùng đa dạng và chưa ngừng lại ở những nghề hiện có. Theo một nghiên cứu, hiện nay trên thế giới có khoảng 23.000 nghề nghiệp liên quan đến máy móc và phương thức lao động công nghiệp; và dự đoán rằng, đến giữa thế kỷ XXI sẽ có thêm khoảng 10.000 nghề nghiệp mới, chủ yếu là ở lĩnh vực dịch vụ(4). Một nghiên cứu gần đây của Ê-ríc Ô-lin Rai (Erik Olin Wright) một nhà xã hội học mác-xít (1947  - 2019) đã lập một mô hình cơ cấu giai cấp theo nghề nghiệp, gồm 9 nhóm khác nhau, dựa vào trình độ, kỹ năng và thẩm quyền.

Hai là, cơ cấu công nhân theo lĩnh vực hoạt động. Giai cấp công nhân hiện nay lao động trên 3 lĩnh vực cơ bản là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Mặc dù đang có sự dịch chuyển lao động giữa các lĩnh vực nhưng xu hướng chung là nhóm lao động ở lĩnh vực dịch vụ tăng mạnh, số lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp giảm nhẹ. Ở các nước phát triển, chẳng hạn ở Bắc Âu, xu hướng này có nhỉnh hơn: Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng lao động dịch vụ chiếm khoảng 70%; công nghiệp khoảng 25% và nông nghiệp từ 3% đến 5% lao động. Cơ cấu lao động của Đan Mạch: 4% số dân làm việc trong khu vực nông - lâm nghiệp, 24% trong công nghiệp và xây dựng, 72% số dân làm việc trong lĩnh vực dịch vụ, trong đó 31% là dịch vụ công và 41% là dịch vụ tư nhân.

Ba là, cơ cấu của giai cấp công nhân  xét theo trình độ công nghệ hiện nay được nhìn nhận là đa dạng và không đồng đều. Các nghiên cứu về trình độ công nghệ của công nhân thường xét theo khả năng tiếp cận các cuộc cách mạng công nghiệp, cách tính toán thường là công nghiệp 2.0; 3.0 hoặc tiệm cận 4.0. Cũng có những đánh giá trình độ công nghệ của công nhân theo đặc tính của kỹ thuật của từng ngành công nghiệp mà họ đang hoạt động, ví dụ: “công nghệ in offset” và “công nghệ in kỹ thuật số”. Nhìn chung, công nghệ mà công nhân trên thế giới hiện đang sử dụng là một “dải khá rộng” được mô tả bằng “cây phả hệ công nghệ đa tầng”, hàm ý là ở nhiều trình độ, phát triển vốn theo quy luật không đều và sự phát triển của GCCN hiện nay cũng vẫn tuân theo quy luật đó.

Bốn là, cơ cấu giai cấp công nhân dựa theo trình độ phát triển kinh tế thường được giới nghiên cứu phân tích theo 2 nhóm nước là nước phát triển và nước đang phát triển. Hiện có 408 triệu công nhân trong các nước phát triển và số còn lại (khoảng hơn 1.100 triệu) là ở các nước đang phát triển. Trình độ phát triển kinh tế, trình độ công nghệ thường tỷ lệ thuận với năng suất lao động đạt được. Công nhân của các nước phát triển có năng suất lao động cao hơn so với các nước đang phát triển. Năm 2017, ILO xếp hạng năng suất lao động thông qua so sánh việc tạo ra giá trị mới của 1 lao động/năm ở một số nước phát triển: Công nhân Mỹ tạo ra 63.885USD/người/năm; công nhân Ai-len là 55.986USD/người/năm; công nhân Bỉ là 55.235 USD/người/năm; công nhân Pháp là 54.609USD/người/năm...

Năm là. cơ cấu giai cấp công nhân theo chế độ xã hội là cách tiếp cận theo chế độ chính trị. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác, có mối quan hệ biện chứng giữa công nhân, công nghiệp và chủ nghĩa xã hội (chế độ chính trị). Chế độ chính trị cũng có thể tác động đến sự phát triển của công nhân và công nghiệp. Lịch sử cận đại, hiện đại xác định điều đó. Thống kê về giai cấp công nhân các nước xã hội chủ nghĩa năm 2019 cho thấy: Việt Nam có khoảng 15 triệu; Lào có khoảng gần 0,8 triệu; Cu-ba có gần 3 triệu, Trung Quốc có khoảng 300 triệu công nhân và 270 triệu “nông dân - công” (nhóm xã hội tham gia 2 phương thức và 2 lĩnh vực lao động, có 2 nơi cư trú; là trung giới của quá trình chuyển biến từ nông dân sang công nhân, nhưng chưa hoàn toàn sống bằng thu nhập từ lao động công nghiệp). Đặc thù của cơ cấu công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa là có một bộ phận công nhân thuộc thành phần kinh tế nhà nước. Tính đến năm 2019, bộ phận công nhân ở thành phần kinh tế nhà nước ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều có tỷ lệ nhỏ hơn so với số lượng công nhân ở những thành phần kinh tế khác; Trung Quốc hiện có 120 triệu, Việt Nam có hơn 2 triệu công nhân thuộc nhóm này. “Công nhân nhà nước” gắn liền với thực tiễn của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa và trong thời gian gần đây, họ tương tác với nền kinh tế thị trường, công nhân ở thành phần kinh tế khác.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

BÁO CHÍ VIỆT NAM CÓ VAI TRÒ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN, TUYÊN TRUYỀN VỀ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA

Nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, những thông tin tốt và tích cực, làm cho những nội dung thông tin này thực sự là chủ đạo, chi phối đời sống tinh thần - thông tin xã hội, “làm loãng” và đẩy lùi các thông tin xấu, độc, tiêu cực, các quan điểm sai trái, thù địch. Cần mở rộng và nâng cao chất lượng các chuyên trang, chuyên mục định kỳ, các tuyến bài đấu tranh tư tưởng; liên kết thông tin với các nền tảng mạng xã hội và các phương tiện truyền thông mới một cách phù hợp. Các cơ quan báo chí, đặc biệt là các tờ báo, tạp chí lớn của Đảng và Nhà nước cần “chủ động thích ứng với các phương tiện truyền thông mới, đa dạng hóa phương thức và nội dung thông tin, tuyên truyền, bảo đảm phục vụ hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa thông tin đối nội và thông tin đối ngoại trên báo chí và các phương tiện truyền thông phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân; bảo đảm lượng thông tin tốt, tích cực về đời sống xã hội là dòng chảy chính”.  Muốn làm được như vậy, các cơ quan báo chí cần “nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội”.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TĂNG NHANH VỀ SỐ LƯỢNG

Giai cấp công nhân nước ta tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu và ngành nghề. Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta được quản lý theo cơ chế hành chính, tập trung, bao cấp, giai cấp công nhân nước ta có số lượng không lớn và khá thuần nhất về cơ cấu thành phần và ngành nghề, công nhân làm việc chủ yếu trong thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Quá trình đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế, chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đã tạo bước chuyển quan trọng đối với cơ cấu nền kinh tế. Bên cạnh thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã hình thành và phát triển nhanh. Điều đó đã tạo sự chuyển biến trong cơ cấu lao động xã hội, làm cho lực lượng công nhân - lao động công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu. Trong đó, số công nhân trong khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2020, hiện nay, tổng số công nhân nước ta chiếm khoảng 13% số dân và 24% lực lượng lao động xã hội, bao gồm số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước, đang làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài và số lao động giản đơn trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể. Số lượng công nhân tăng nhanh chủ yếu ở các loại hình doanh nghiệp tại những khu công nghiệp trọng điểm như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai...

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI CÁC QUAN ĐIỂM CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH BẢO VỆ NỀN TẢNG CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền những quan điểm sai trái, xuyên tạc, với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trọng tâm là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, trọng yếu, cấp bách của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng; đồng thời là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và các cán bộ, đảng viên, nhất là trong thời điểm Đảng ta vừa tổ chức thành công Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và các cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt việc nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về công tác bảo vệ an ninh tư tưởng

Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận thức đúng về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; nhiệm vụ, nội dung của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng, nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Trọng tâm của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng hiện nay là phải đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; làm rõ những cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy giao lưu và hợp tác trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao đời sống của nhân dân lao động.

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, việc làm chủ thông tin có vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến việc định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực, đúng với bản chất sự việc, tránh bị lợi dụng, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch xuyên tạc; không để rơi vào thế “bị động”, “chống đỡ” mà phải chủ động, tiến công. Do đó, các cơ quan thông tấn, báo chí phải bảo đảm việc cung cấp thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước thường xuyên, kịp thời, chính xác đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, cần quán triệt phương châm cơ bản trong bảo vệ an ninh tư tưởng là phải coi trọng công tác chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính. Mặt khác, phải tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, các hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm một cách quyết liệt./.

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2020

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC RÈN LUYỆN BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Một là, mỗi cấp ủy không chỉ phải nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng của việc phải thường xuyên, liên tục rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên mà còn phải coi đó là yêu cầu vừa bức thiết vừa thường xuyên của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Gắn việc rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị với việc phát huy tính tiền phong, gương mẫu, thống nhất giữa nói và làm của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng. 

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2020

BÀN VỀ TIÊU CHÍ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO


Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam bước vào một môi trường rộng mở hơn, đã gia nhập nhiều tổ chức quốc tế. Ở môi trường rộng lớn này, con người Việt Nam có thể phát triển nhanh hơn trước. Sau hơn 30 năm tiến hành đổi mới, thế và lực của Việt Nam đã mạnh lên nhiều, biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển trong lãnh đạo của Đảng; trình độ, tư duy bắt nhịp kịp với tư duy phát triển của thế giới. Để phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu. Do vậy, xác định những tiêu chí của nguồn lực chất lượng cáo có ý nghĩa quan trọng. Nguồn nhân lực chất lượng cao thì mỗi người lao động phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: (1) Có sức khỏe thể lực, sự dẻo dai và tâm lý tốt; (2) Trình độ về mọi mặt phải luôn luôn được nâng cao; (3) Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ luôn luôn được bảo đảm để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình; (4) Có văn hóa nghề nghiệp; (5) Có khả năng sáng tạo cao; (6) Có khả năng thích ứng với tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính; (7) Có phẩm chất đạo đức tốt.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2019

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ MỚI

Tích cực tuyên truyền, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tự giác, sáng tạo thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để nhân dân có niềm tin tất thắng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng và chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện chất lượng công tác tuyên truyền về đường lối đổi mới của Đảng trong thời kỳ mới cần tập trung vào một số biện pháp sau:
- Nâng cao hiệu quả việc "Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", đưa cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu, xuất hiện ngày càng nhiều những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải là những tấm gương trong "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", lời nói gắn liền với việc làm, "học tập" phải đi đôi với "làm theo". Gắn kết quả việc học và làm theo Bác với việc thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
- Tuyên truyền kiến thức về quốc phòng an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nâng cao cảnh giác cách mạng tiến hành kiên quyết, phối hợp đồng bộ nhằm đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "diễn biến hòa bình" trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng văn hóa, kinh tế - xã hội...; ngăn chặn, đầy lùi những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.
- Công tác tuyên giáo cần phải nâng cao tính định hướng, tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính hiệu quả. Phải thường xuyên bám sát thực tiễn, tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân; chủ động nắm bắt, đánh giá, dự báo, kịp thời giải quyết những diễn biến tư tưởng tâm trạng của nhân dân. Tập trung xử lý các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân, nhất là những vấn để liên quan đến nạn tham nhũng lãng phí, quan liêu, mất dân chủ, thiếu kỷ cương, ức hiếp nhân dân của cán bộ, đảng viên
- Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân phát huy tính tự lực, tự cường, nỗ lực vượt qua mọi thử thách, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội. Tích cực thực hiện phong trào xóa đói, giảm nghèo và phấn đấu ngày càng có nhiều người giàu. Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, thực hiện phương châm "lấy cái đẹp dẹp cái xấu". Nhân rộng tạo sức lan tỏa lớn các gương điển hình, nhân tố mới; giữ gìn những giá trị nhân văn cao đẹp trong cuộc sống.

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ CHO QUÂN NHÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Giáo dục chính trị là một nội dung chủ yếu của công tác chính trị, tư tưởng của Đảng, là một hình thức cơ bản của công tác tư tưởng. Việc giáo dục chính trị trong quân đội, giúp cho cán bộ chiến sĩ nắm vững những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, trên cơ sở đó nâng cao sự hiểu biết, trình độ giác ngộ chính trị, xây dựng niềm tin, ý thức trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ được giao; thông qua giáo dục chính trị để bồi dưỡng thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống có tổ chức có kỷ luật, năng lực hoạt động chính trị- xã hội, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao nhận thức khoa học trong hoạt động thực tiễn, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng trong đơn vị, trong quân đội; Do đó việc giáo dục chính trị phải giữ vững định hướng chính trị; mỗi nội dung giáo dục, mỗi bài giảng phải thể hiện sự quán triệt sâu sắc lời dạy của V.I.Lênin: “ Trong bất kỳ một trường học nào, điều quan trọng nhất là phương hướng chính trị và tư tưởng của mỗi bài giảng.” Nghĩa là phải thể hiện tính đảng, tính giai cấp trong từng nội dung bài giảng, phải kết hợp chặt chẽ giữa tính đảng, tính khoa học trong giảng dạy, giáo dục bộ đội, đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong giáo dục chính trị xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi mỗi nội dung giáo dục phải dựa chắc vào cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội.
Khi xem xét mọi vấn đề của cuộc sống đặt ra phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, làm cho cán bộ chiến sỹ luôn có nhận thức đúng đắn, có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng, phát triển tư duy khoa học và ý thức trách nhiệm trong mọi nhiệm vụ, nâng cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những nhận thức quan điểm tư tưởng phi vô sản, trái với chủ trương chính sách của Đảng và những biểu hiện tiêu cực lạc hậu làm tổn hại đến sự đoàn kết thống nhất giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội.
Để giữ vững định hướng chính trị và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, ở đơn vị cơ sở cần áp dụng các phương pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng, đặc điểm nhiệm vụ ở từng đơn vị, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chung với giáo dục riêng, kết hợp chặt chẽ với phong trào thi đua và các mặt hoạt động chính trị, quân sự, hậu cần, kỹ thuật ở đơn vị để làm tốt việc giáo dục chính trị.

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHỈ THỊ 05 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ, KHÓA XII CỦA HỘI PHỤ NỮ QUÂN ĐỘI

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả việc thực hiện Chỉ thị 05 trong thời gian tới, Hội Phụ nữ các cấp trong toàn quân cần tiếp tục tiến hành tốt một số nội dung, giải pháp trọng tâm sau:
Một là, cán bộ, hội viên phụ nữ các cấp cần thường xuyên bám sát chỉ đạo của trên, tham mưu với cấp ủy, chỉ huy đơn vị nội dung công tác và phong trào thi đua của phụ nữ Quân đội gắn với thực hiện việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, sát sao, liên tục, trở thành công việc tự giác, thường xuyên của mỗi cán bộ, hội viên.
Hai là, tích cực đổi mới hình thức, phương pháp tổ chức sinh hoạt Hội để phát huy tính tích cực, chủ động của mỗi hội viên trong học tập, rèn luyện xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực cống hiến tài năng, trí tuệ, công sức cho sự nghiệp xây dựng Quân đội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, ý thức tự giác của mỗi cán bộ, hội viên; chú trọng tuyên truyền, giáo dục gương “người tốt, việc tốt”, các tập thể và cá nhân có nhiều thành tích trong học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Bốn là, đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác phụ nữ, cán bộ Hội Phụ nữ luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, nhạy bén, sáng tạo tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện các chủ trương, biện pháp, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện.
Năm là, thường xuyên làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm; đánh giá khách quan, công tâm, chính xác thành tích cá nhân, tập thể; đôn đốc, nhắc nhở với những tập thể, cá nhân thực hiện chưa nghiêm túc, qua loa, hình thức. Lấy kết quả thực hiện Chỉ thị 05 làm một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng tổ chức Hội, hội viên hằng năm.

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA TRONG QUÂN ĐỘI

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội. Phải tuyên truyền, giáo dục để bộ đội thấy rằng, đây là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược xây dựng con người của Đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Mặt khác, trong bối cảnh phức tạp hiện nay, nhất là sự “xâm lăng văn hóa”, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, thì việc xây dựng môi trường văn hóa còn là một bộ phận không tách rời cuộc đấu tranh giai cấp dưới hình thức mới, trong điều kiện mới. 
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, người chỉ huy, phát huy vai trò của cơ quan chính trị các cấp trong xây dựng môi trường văn hóa. Từ thực tiễn xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội những năm qua cho thấy, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, người chỉ huy, phát huy vai trò hướng dẫn của cơ quan chính trị các cấp là yếu tố quyết định đảm bảo cho nhiệm vụ này đạt mục đích, yêu cầu đề ra, góp phần làm lành mạnh hóa đời sống tinh thần của bộ đội. 
Ba là, tích cực đổi mới, đa dạng hóa các hình thức hoạt động văn hóa, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các thiết chế văn hóa trong xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú. Trên cơ sở kế hoạch đã xác định, các cơ quan, đơn vị cần cụ thể hóa bằng những hoạt động văn hóa phong phú, lành mạnh, phù hợp với sự phát triển của đời sống văn hóa xã hội, đặc thù của Quân đội và thị hiếu của bộ đội. Đồng thời, phải thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức hoạt động văn hóa nhằm thu hút sự tham gia đông đảo của cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng môi trường và đời sống văn hóa trong đơn vị. 
Bốn là, tổ chức tốt việc tổng kết 25 năm thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội”. Các đơn vị cần quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn 727/HD-TH, ngày 05-5-2017 và Hướng dẫn 1116/HD-CT, ngày 23-6-2017 của Tổng cục Chính trị về tổng kết 25 năm xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội. Công tác tổng kết được tiến hành qua ba cấp và để đảm bảo chất lượng, các cấp cần làm tốt công tác chuẩn bị mọi mặt, nhất là về nội dung. Tổng kết phải thực chất, đánh giá đúng ưu điểm, hạn chế tồn tại, nguyên nhân và giải pháp khắc phục. 
Năm là, thường xuyên phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội địa phương đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội gắn với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của Quốc gia. Quân đội là một bộ phận của xã hội. Việc xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội đương nhiên không tách rời Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở địa phương. Vấn đề đặt ra là sự kết hợp đó cần phải được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ và phù hợp với đặc thù hoạt động của Quân đội và đặc điểm, tình hình địa phương, nhằm đưa văn hóa Đảng đến với mỗi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, làm lành mạnh hóa các quan hệ trong đơn vị và địa phương. 
Công tác xây dựng môi trường văn hóa trong Quân đội gắn với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của Quốc gia là nhiệm vụ vừa thường xuyên, vừa lâu dài, gắn liền với sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú, tạo động lực hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.