Hiển thị các bài đăng có nhãn xu thế thời đại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xu thế thời đại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ THỜI ĐẠI

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và của Nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xử thế phát triển của thời đại.

Thực tiễn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mang đặc thù riêng từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành độc lập đã bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn đúng đắn, mang tính thời đại, phù hợp với xu thế và thực tiễn lịch sử.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh trên thế giới chủ nghĩa tư bản đang phát triển chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân lao động chính quốc. Lúc này với Liên Xô, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt. Trong bối cảnh ấy, ngay từ khi ra đời trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta đã xác định, làm cách mạng tư sản dân quyền giành độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa cộng sản, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sự lựa chọn này phù hợp với xu thế phát triển và mang tính thời đại sâu sắc.

Năm 1945, sau khi giành độc lập, Đảng ta lựa chọn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Đây là sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp xu thế thời đại và yêu cầu thực tiễn. Bởi sau chiến tranh thế giới thứ 2, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã hình thành và phát triển. Sự lựa chọn đúng đắn ấy đã tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ “9 năm làm một Điện Biên” chống thực dân Pháp và 21 năm kháng chiến “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Việt Nam đã trở thành tấm gương mẫu mực trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự độc đáo, sáng tạo về đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự do của dân tộc.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là đường lối cơ bản, xuyên suốt và nhất quán của cách mạng Việt Nam, khẳng định sự đúng đắn của Đảng và Bác Hồ trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu thế thời đại, khẳng định bản lĩnh, sự sáng tạo của Đảng trong lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mang đặc thù riêng của dân tộc Việt Nam.

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2019

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN PHÙ HỢP VỚI XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI VÀ THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào, đối đầu Đông - Tây không còn nữa, thì các luật gia tư sản chĩa mũi nhọn vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trong đó có Việt Nam. Họ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh, họ cho rằng sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là không còn phù hợp với xu thế của thời đại.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông dân và tầng lớp sĩ phu yêu nước liên tục dấy lên những làn sóng cách mạng chống lại bọn thực dân phong kiến nhằm thiết lập nên chính quyền về tay nhân dân nhưng kết cục các cuộc đấu tranh đó đều thất bại vì thiếu đường lối, thiếu giai cấp lãnh đạo. Tháng 6/1925 Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ đó chủ nghĩa Mác - Lênin sớm trở thành hệ tư tưởng chủ đạo lãnh đạo phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam. Hồ Chí Minh nói chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn đến việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930”.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự phát triển cao và thống nhất của phong trào yêu nước. Từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam phong trào công nhân Việt Nam kết hợp với phong trào yêu nước Việt Nam đạt tới đỉnh cao của cách mạng, hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân nổ ra ở cả nước...nhìn chung các cuộc đấu tranh đều hướng tới giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, gắn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc. Do chung mục đích như vậy nên phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam đã kết hợp với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp, sự kết hợp hữu cơ đó mau chóng đòi hỏi có một cơ quan tổ chức lãnh đạo. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã đáp ứng được nhu cầu đó.
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả thống nhất của phong trào cách mạng trong cả nước, là sự đồng tâm của các chiến sĩ tiên phong. Từ năm 1925 trở đi phong trào cách mạng trong cả nước phát triển với quy mô lớn tốc độ dày đặc, tính chất cách mạng triệt để hình thức đấu tranh rất phong phú đã có đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh kinh tế. Cuối năm 1928 nổi lên phong trào vô sản hóa, hưởng ứng tinh thần chung đó rất nhiều các chiến sĩ tiên phong, các sĩ phu yêu nước tham gia phong trào. Với tinh thần cách mạng sâu sắc thấu hiểu trách nhiệm của mình đối với lịch sử các chiến sĩ tiên phong thành lập 3 tổ chức cộng sản ở cả 3 miền của đất nước. Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn – tiền thân trực tiếp cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng cộng sản Việt Nam sớm có đường lối chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng được thể hiện trong chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt là phù hợp với yêu cầu của toàn dân, vừa ra đời Đảng đã sớm xác định được kẻ thù chính của dân tộc, đề ra đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng đúng đắn. Trong cương lĩnh đầu tiên Nguyễn Ái Quốc xác định rõ chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, xác định đúng lực lượng tham gia cách mạng là công nhân và nông dân là lực lượng lãnh đạo cách mạng...Với đường lối cách mạng sáng suốt Đảng và Bác Hồ đã từng bước đưa cách mạng Việt Nam giành những thắng lợi vĩ đại, tiến hành cách mạng tháng Tám thành công lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, tiến hành đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng hoàn toàn miền nam thống nhất Tổ quốc. 
        Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng ra đời chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của dân tộc Việt Nam, từ đây cách mạng Việt Nam bước sang trang sử mới đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến tới độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ những vấn đề trên chúng ta khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan phù hợp với xu thế của thời đại và thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM: “VIỆT NAM ĐI THEO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN MỚI GIÀU CÓ VÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI HIỆN NAY”


          Trong thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến sự ra đời, tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Mặc dù gặp phải sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, song chủ nghĩa xã hội hiện thực đã vượt lên trên những khó khăn, thử thách và đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực; đồng thời đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển của lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đã làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào khủng hoảng và tạm thời thoái trào; song những thành tựu mà chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đạt được trên thực tế là không thể phủ nhận.
           Kể từ đó đến nay, chủ nghĩa xã hội hiện thực luôn bị các thế lực thù địch, phản động và chủ nghĩa cơ hội - xét lại ra sức công kích, xuyên tạc. Đáng chú ý là không chỉ các lực lượng đối lập mà ngay trong hàng ngũ những người cộng sản cũng có không ít người muốn phủ định học thuyết Mác - Lênin trên các vấn đề thời đại hiện nay, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội... Những biến cố to lớn của lịch sử cũng đã tác động đến tiến trình cách mạng Việt Nam, làm cho một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên bi quan, dao động và cho rằng, “đi theo chủ nghĩa tư bản, Việt Nam mới giàu có và phù hợp với xu thế của thời đại”. Vậy, đây là một cách nhìn thực tế, hay chỉ là sự mơ hồ, thiển cận về lý luận và ảo tưởng trước những hào nhoáng bên ngoài của chủ nghĩa tư bản hiện đại?
            Thực tiễn đã cho thấy, chủ nghĩa tư bản ngay khi mới ra đời đã thực hiện được bước nhảy chưa từng có trong lịch sử về lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, do nắm giữ những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội nên sự giàu có luôn thuộc về thiểu số giai cấp tư sản thống trị, bóc lột, còn đại đa số công nhân và quần chúng nhân dân lao động luôn bị đẩy vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói và ngày càng bị bần cùng hóa. Cùng với sự giàu có của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân và những người lao động ở các nước tư bản cũng đang sở hữu một lượng cổ phần, cổ phiếu nhất định và có được cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ. Song, cũng cần phải thấy rằng, đó là những thành quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong vài thế kỷ qua, cùng với đó là sự điều chỉnh, thích nghi của chủ nghĩa tư bản để tồn tại và phát triển.
Bên cạnh đó, sự tranh giành quyền lực giữa các thế lực đế quốc nhằm kiểm soát nguồn tài nguyên để thu lợi nhuận ngày càng cao đang là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang và nảy sinh các tệ nạn xã hội. Vũ khí hạt nhân được sản xuất hàng loạt trong xã hội tư bản bất cứ lúc nào cũng có thể hủy diệt mọi sự sống trên trái đất. Trong chủ nghĩa tư bản, mọi thứ đều trở thành hàng hóa và bị quy về thành tiền bạc. Điều đó đã làm trỗi dậy chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ, sự tham lam và lối sống thực dụng, đề cao đồng tiền, làm yếu đi các quan hệ cơ bản giữa con người với con người, trong gia đình và xã hội…
Như vậy, cùng với những quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, thực tiễn sự vận động, phát triển, thích nghi của chủ nghĩa tư bản trong những thập kỷ qua đã giúp chúng ta nhìn nhận, đánh giá khách quan, toàn diện, sâu sắc hơn về thực chất nguồn của cải khổng lồ trong xã hội tư bản. Điều đó cho thấy, đi theo con đường chủ nghĩa tư bản, Việt Nam không thể có được nền độc lập, tự do thực sự; cũng không thể đem lại sự giàu có cho mọi người dân trong xã hội. Cho dù, chủ nghĩa tư bản ngày nay đang có sự điều chỉnh, thích nghi về mọi mặt để kéo dài sự tồn tại, phát triển, nhưng nó vẫn không vượt qua nền tảng kinh tế - xã hội là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nên theo quy luật, sự diệt vong là không tránh khỏi.
Đưa đất nước đi theo chủ nghĩa tư bản cũng không phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Vì cùng với những cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân chia thời đại thì thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Do vậy, nếu chỉ coi sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu là bằng chứng duy nhất để thừa nhận thời đại hiện nay là của chủ nghĩa tư bản thì đó là một cách nhìn thiển cận, thiếu kiến thức lịch sử về thời đại. Quá trình ra đời, phát triển và thay thế thời đại này bằng một thời đại khác phải qua một chặng đường lâu dài, quanh co, phức tạp, chứa đựng cả bước tiến mạnh mẽ và cả sự tụt lùi, đổ vỡ. Sự sụp đổ đó có nhiều nguyên nhân, nhưng điều chắc chắn rằng, đó không thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội, càng không vì thế làm mất đi lôgic phát triển và nội dung của thời đại. Lịch sử phát triển xã hội trước đây cũng cho thấy, thời đại chủ nghĩa tư bản thay thế thời đại phong kiến cũng diễn ra hàng thế kỷ và gặp phải sự chống trả quyết liệt của các lực lượng đối lập trong xã hội.
            Hiện nay, chủ nghĩa xã hội hiện thực mặc dù đang gặp nhiều khó khăn của giai đoạn thoái trào, nhưng xu thế phát triển tất yếu của thời đại từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội vẫn luôn tỏ rõ trong thực tế. Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn tồn tại ở một số nước và khẳng định sức sống mãnh liệt trước mọi sóng gió, thử thách khắc nghiệt của thời đại.
           Để không rơi vào trạng thái mập mờ, bếp bênh về tư tưởng, lý luận và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm phản động, sai trái của các thế lực thù địch về các vấn đề trên, cần phải nắm vững một số nội dung cơ bản sau: Một là, phải luôn nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin; Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam; Ba là, những thành tựu trong hơn 30 năm đổi mới đã khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn.

Tuy nhiên, với thái độ khách quan, nhìn thẳng vào thực tế, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, trong xã hội hiện nay còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, hối lộ, làm giàu bất chính, thu vén cho gia đình, dòng họ, địa phương, bạn bè thân hữu… Trong khi đó, đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nếu không khắc phục kịp thời những vấn đề trên thì tất yếu sẽ dẫn đến nhiều cái nhìn lệch lạc, tiêu cực, thiếu thiện chí về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.