Hiển thị các bài đăng có nhãn con đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn con đường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

CẢM NHẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI QUA BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021), Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bài viết quan trọng: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam". Bài viết đã nhận được sự đánh giá cao của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân: Vững chắc niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; nhận thức rõ hơn để kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũng như nắm vững một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Đây là một bài viết rất hoàn chỉnh, toàn diện, sâu sắc về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với những nội dung căn bản và quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam kể từ khi đất nước được hòa bình, độc lập và thống nhất đến nay. Đó là vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH của dân tộc Việt Nam. 

Trong bài viết, Tổng Bí thư đặt ra những câu hỏi có tính chất cốt tử, quyết định nhất của dân tộc Việt Nam hiện nay như: CNXH là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được CNXH ở Việt Nam?

Về ý nghĩa của bài viết phải được nhìn nhận, đánh giá, xem xét trong bối cảnh thực tiễn hiện nay, gắn liền với ba yếu tố quan trọng.

Thứ nhất, bài viết được công bố trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tức là trước một sự kiện có ý nghĩa trọng đại, khi ngày 23/5/2021 cử tri cả nước đi bầu những người đại diện cho mình vào cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước. 

Tổng Bí thư muốn nhắc nhở mọi người rằng, không phải ai khác mà chính là cử tri, những người phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, sáng suốt lựa chọn những người đủ tài, đủ đức bầu vào Quốc hội. Vì đây chính là cơ quan đưa ra những quyết định quan trọng về con đường mà chúng ta đã đi, những thành tựu mà chúng ta đã đạt được và sẽ là nơi giải quyết những khó khăn, thách thức trong tương lai.

Thứ hai, bài viết ra đời trong bối cảnh nước ta đang chuẩn bị kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra Nhà nước Việt Nam, người lãnh đạo, người thầy của cách mạng Việt Nam, là dịp để chúng ta ôn lại, nhìn lại những gì chúng ta đã làm được và con đường sắp tới.

Thứ ba, đây cũng là dịp để Tổng Bí thư nêu rõ quan điểm, xác định rõ lập trường của Việt Nam về vấn đề CNXH ở Việt Nam, nhằm phê phán các quan điểm sai trái, bôi nhọ, xuyên tạc chế độ của các thế lực thù địch nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, gieo rắc hoài nghi và lung lạc niềm tin của nhân dân vào con đường đi lên CNXH của dân tộc.

Trong bài viết Tổng Bí thư đã phân tích, làm rõ 5 luận điểm mới có ý nghĩa rất quan trọng.

Trước hết, Tổng Bí thư khẳng định thành tựu của chủ nghĩa tư bản (CNTB) là không thể phủ nhận và đây là những thành tựu, tiến bộ chung của nhân loại và vì vậy chúng ta cần phải tiếp thu một cách có chọn lọc. Điều này rất quan trọng, bởi vì từ trước đến nay, cũng có một số người cho rằng tất cả cái gì của phong kiến, tư bản, của chế độ cũ là xấu xa, sai trái và đi đến phủ nhận sạch trơn. Đấy là cách nhìn bảo thủ, mang nặng màu sắc đối đầu ý thức hệ, rạch ròi giữa ta và địch, bạn và thù, cái gì của ta cũng tốt, cái gì của thù cũng xấu. 

Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Chúng ta thừa nhận rằng, CNTB chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ”.

Thứ hai, khi nói về CNXH, Tổng Bí thư đã nói tới ba khía cạnh, ba nội hàm, ba tư cách của chủ nghĩa xã hội. Đó là CNXH như một học thuyết, một phong trào và một chế độ. Cách nhìn CNXH như vậy rất khoa học, đa chiều và toàn diện hơn. Bởi vì, nếu ai đó chỉ nhìn CNXH như một phong trào thì dễ bị dao động vì sự “đi lên hay đi xuống” của phong trào đó. Nếu chỉ nhìn CNXH như một học thuyết thì dễ thấy nó bị “xơ cứng, giáo điều, lạc hậu”. Còn nếu nhìn nó như một chế độ thì e rằng thực tiễn ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cho người ta dễ hoài nghi.

Thứ ba, chúng ta vẫn thường nói Việt Nam đi lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng trong bài viết này, Tổng Bí thư đã chỉ rõ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là chỉ bỏ qua những mặt hạn chế của CNTB như áp bức, bất công, bóc lột, thói hư tật xấu nhưng không bỏ qua những thành tựu giá trị văn minh mà nhân loại đạt được trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa và có sự kế thừa chọn lọc. Chúng ta cần phải sáng suốt, tỉnh táo và kế thừa có chọn lọc những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đạt được như công nghệ, kinh tế, y học….

Thứ tư, xây dựng CNXH theo Tổng Bí thư đó là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, đó là không giống với bất kỳ một mô hình nào trên thế giới. Hay kinh tế thị trường định hướng XHCN là một sự đột phá về mặt lý luận. Những điều đó mang tính chất đặc trưng riêng của Việt Nam, chỉ của Việt Nam. 

Chúng ta thấy được đây là thách thức lớn nhất của Việt Nam bởi vì nếu phải xây dựng một kiểu xã hội hoàn toàn mới chưa có trên thế giới sẽ vô cùng khó khăn, thách thức, bởi vì chúng ta không thể học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, chúng ta phải là người tự mở đường “khai sơn, phá thạch”. Nhưng chúng ta sẽ làm được.

Thứ năm, “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”, Tổng Bí thư đã thể hiện quan điểm rõ ràng về tầm quan trọng của việc học đi đôi với hành, lý thuyết phải gắn chặt chẽ với thực tiễn, học có phê phán, có sáng tạo, tuyệt đối không được giáo điều, máy móc dẫn đến tình trạng xơ cứng trí tuệ và lạc hậu. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải luôn luôn nâng cao tinh thần học tập, tiếp thu một cách sáng tạo trên tinh thần phê phán, chỉ có như vậy chúng ta mới được “truyền thêm sinh lực mới”.

Đi lên CNXH gắn với con đường phát triển bền vững

Nhận định của Tổng Bí thư về những thách thức toàn cầu liên quan tới việc giải quyết chưa thỏa đáng quan hệ giữa phát triển và môi trường: “Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại”. Bài viết nhấn mạnh, hậu quả của cách tiếp cận phi môi trường, phát triển bằng mọi giá, không xem môi trường và tài nguyên là một yếu tố bắt buộc phải xem xét khi lựa chọn phương thức phát triển và tiêu dùng đã để lại “hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”.

Trong bài viết, dưới lăng kính phân tích lý luận, thực tiễn và những bài học kinh nghiệm về giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên và các giá trị văn hóa trên quy mô toàn cầu rõ ràng cho thấy, con đường đi lên CNXH cũng gắn với con đường phát triển bền vững đất nước về cả kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường. Đó là sự lựa chọn đúng đắn, mang tầm vóc chiến lược, đảm bảo hiệu quả kinh tế trong dài hạn, đất nước có “của ăn, của để”.

Bao trùm lên tất cả và mang tính đột phá là vấn đề nguồn nhân lực, trong đó con người được khẳng định vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy và duy trì phát triển bền vững đất nước, có ý nghĩa quyết định đến mức độ thành công của quá trình thực hiện “Khát vọng Việt Nam”. 

Chính vì thế, trong bài viết lần này Tổng Bí thư đã xác định và định hướng: “Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh”. 

Đặc biệt, đây không chỉ là những nhiệm vụ ưu tiên trong đổi mới, sáng tạo của đất nước trên con đường xây dựng CNXH, mà còn thể hiện tính ưu việt của CNXH mà Đảng ta kiên định lựa chọn và kiên trì thực hiện.

QUAN ĐIỂM VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Bài viết đã đi sâu phân tích, nêu bật bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện nay. Với nhãn quan duy vật biện chứng, khách quan, khoa học, đồng chí cho rằng, chúng ta cần nhận thấy rằng chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế ở mức cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản  thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên phạm vi toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển.

Biểu hiện bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện nay.bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, đây vẫn là chế độ của thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Trên thực tế, các thiết chế dân chủ tư sản theo công thức “dân chủ tự do” vẫn chỉ dành cho những ông chủ tư bản, những tập đoàn tư bản. Các quyền tự do dân chủ cho số đông người dân vẫn chỉ là hình thức, rất ít thực chất. Trong đời sống chính trị, khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Ở các nước tư bản, các cuộc bầu cử gọi là tự do, dân chủ, dù có thể thay đổi được chính phủ, thay đổi được phe nhóm nhưng không thay thế được thế lực thống trị, giai cấp cầm quyền; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản, của giai cấp tư sản. “Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản”. Mâu thuẫn giữa lao động và tư bản là không thể điều hòa được, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, chủ nghĩa tư bản  vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng chu kỳ ở các nước tư bản chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa vẫn tiếp tục diễn ra; khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc, tôn giáo. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, vì lợi nhuận mà bóc lột tàn tệ và chà đạp lên phẩm giá con người, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội và cạnh tranh khốc liệt để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, là đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa.

LUẬN ĐIỆU PHẢN NHÂN VĂN CỦA ĐỖ NGÀ

Đã từ lâu, được sự tiếp tay, tiếp sức của các thế lực thù địch, các tổ chức phản quốc lưu vong, Đỗ Ngà từ ngộ nhận, ảo tưởng đến ngông cuồng, điên loạn chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta. Mới đây, trên trang Hung-viet.org đã đăng tải bài viết “Lênin và di sản tàn phá mà ông ta để lại” của Đỗ Ngà với nội dung xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã mang lại cho nhân dân Liên Xô và hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới.

Đỗ Ngà phủ nhận giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trong những ngày tháng năm lịch sử, khi tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đang hân hoan chào mừng ngày Chiến thắng phát xít, tri ân những thành quả cách mạng mà chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô mang lại cho nhân loại thì Đỗ Ngà lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những giá trị tốt đẹp đó. Bằng cái nhìn thiển cận, phản nhân văn của mình, y đã xuyên tạc, bôi đen, phủ nhận lịch sử khi cho rằng “Lênin đã gieo rắc thảm họa cho nhân loại”?!. Bên cạnh đó, y còn đưa ra những luận điệu vu khống, bóp méo những chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng Cộng sản Liên Xô (Đảng Bônvêvic) và những người lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ. Mục đích của y là phủ nhận những thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Thế nhưng, thực tế đã chứng minh luận điệu xuyên tạc của y là hoàn toàn sai sự thật.

Chúng ta biết rằng, vì mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người những người Cộng sản Liên Xô đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp để hiện thực hóa khát vọng ngàn đời của người dân lao động: tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân. Trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, hầu như tất cả ngành công nghiệp chủ yếu của Nga nằm trong tay tư bản nước ngoài và tư liệu sản xuất nằm trong tay giai cấp tư sản; giai cấp công nhân, nông dân Nga bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất; đời sống của nhân dân hết sức khổ cực. Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã cho rằng: Phương sách duy nhất để làm cho nhân dân lao động hết cùng khổ là thay đổi, từ dưới lên trên chế độ hiện nay trên toàn quốc và lập chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, nước Nga Xô-viết ra đời, bắt đầu thực thi “Sắc lệnh ruộng đất”: Nông dân đã nhận được miễn phí hơn 150 triệu ha ruộng đất từ giai cấp địa chủ, được xóa tiền nợ. Công nhân tự nguyện, tự giác, liên hợp với nhau, sử dụng kỹ thuật hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, sản lượng công nghiệp Liên Xô năm 1940 tăng 12 lần so năm 1913; tỷ trọng công nghiệp đã chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân; sản lượng của ngành chế tạo máy tăng 35 lần; sản lượng điện tăng 24 lần; năm 1937 sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã vượt lên đứng hàng thứ hai trên thế giới. Thế và lực của Liên Xô tăng lên nhanh chóng trên trường quốc tế.

Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Liên Xô đã giành thắng lợi trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1944), cứu loài người thoát khỏi thảm họa bị diệt vong của chủ nghĩa phát-xít. Nhờ có nền kinh tế kế hoạch mà Liên Xô đã phục hồi, phát triển nhanh chóng sau Chiến tranh, trở thành thành trì vững chắc của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô có nền khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành khoa học đứng hàng đầu thế giới, điển hình như khoa học vũ trụ, giáo dục, y tế, quốc phòng. Liên Xô trở thành trành trì của cách mạng và là biểu tượng, cổ vũ, động viên các dân tộc trên thế giới đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc.

Âm mưu thâm độc của Đỗ Ngà phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Từ sự xuyên tạc, vu khống những thành quả của cách mạng tháng Mười Nga và thành tựu về kinh tế – xã hội mà Liên Xô đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Đỗ Ngà đã cố tình xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin. Dưới cái nhìn phản nhân văn của mình, y cho rằng là “một di sản vô cùng độc hại”, là sự “gieo rắc thảm họa cho nhân loại” và là “ý thức hệ vô cùng khủng khiếp”!. Đúng là chỉ những kẻ vô nhân đạo, phản nhân văn như Đỗ Ngà mới có thể đưa ra những luận điệu như thế.

Bởi lẽ, chúng ta đều biết: Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời là bước ngoặt vĩ đại của tư tưởng nhân loại, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và những dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới. Đây là con đường duy nhất đúng để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Và đây cũng là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, thực tiễn những diễn biến phức tạp, khó lường ở một số nước trên thế giới hiện nay càng khẳng định giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó cũng là minh chứng để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu khống của Đỗ Ngà.

Với niềm tin, khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Nhân dân Việt Nam luôn kiên định vào chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng ta, luôn kiên định niềm tin tất thắng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc của Đỗ Ngà cũng như “đồng loại” của y tất yếu sẽ bị sức mạnh, niềm tin của nhân dân đập tan và vô hiệu hóa./.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ CON ĐƯỜNG TẤT YẾU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”.

Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng tôi một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được  hiện thực hoá. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới, với tất cả sự khiêm tốn chúng ta có thể khẳng định rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam./.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

CON ĐƯỜNG, CÁC GIAI ĐOẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Cùng với việc phát hiện ra SMLS của GCVS, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra con đường để thực hiện SMLS đó - con đường cách mạng XHCN và chứng minh tính tất yếu của cuộc cách mạng đó. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Cách mạng là tất yếu không những vì không thể lật đổ giai cấp thống trị bằng một phương thức nào khác mà còn vì chỉ có trong cách mạng giai cấp đi lật đổ giai cấp khác mới có thể quét sạch mọi sự thối nát của chế độ cũ đang bám chặt theo mình và trở thành có năng lực xây dựng cơ sở mới cho xã hội”.

Trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, một mặt, C.Mác “… coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”; nhưng, mặt khác, ông lại khẳng định rằng con đường để chuyển HTKT-XH TBCN thành HTKT-XH CSCN lại phải thông qua con đường cách mạng vô sản. Người viết: “Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị”. Đồng thời, các ông đã phác thảo một cách khái quát về các giai đoạn của quá trình đó. Các ông cho rằng cuộc đấu tranh của GCCN để thực hiện SMLS của mình là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn từ thấp đến cao, từ tự phát nhỏ lẻ dần đến ngày càng có tính chất tự giác hơn, cuối cùng là cuộc đấu tranh hoàn toàn có tính tự giác trong phạm vi của từng quốc gia, từng khu vực và trong phạm vi toàn cầu. Con đường này, thực hiện qua các giai đoạn cơ bản kế tiếp nhau.

Giai đoạn thứ nhất, giai đoạn mà GCVS đấu tranh “chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ”.C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Thoạt đầu, cuộc đấu tranh được tiến hành bởi những công nhân riêng lẻ; kế đến, bởi những công nhân cùng một công xưởng; và sau đó, bởi những công nhân cùng một ngành công nghiệp, cùng một địa phương, chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ”.

Giai đoạn thứ hai, giai đoạn đấu tranh có tổ chức của GCCN để giành chính quyền. Chính cuộc đấu tranh chính trị cùng môi trường lao động đại công nghiệp đã rèn luyện GCCN và làm cho nó không chỉ là một lực lượng tiềm tàng, có thể thủ tiêu CNTB mà còn làm chín muồi dần các điều kiện, các yếu tố khách quan và chủ quan để có thể biến khả năng tiềm tàng ấy thành hiện thực. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen  đã viết: Sự tiến bộ của công nghiệp - mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó và không đủ sức chống lại nó - đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, thay cho sự chia rẽ của công nhân do cạnh tranh giữa họ gây nên. Như vậy, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn đấu tranh xây dựng, hoàn thiện và sử dụng chính quyền để tiến hành cải tạo triệt để xã hội cũ, xây dựng và bảo vệ chế độ mới-chế độ XHCN (giai đoạn thấp của CNCS) và CSCN (giai đoạn cao của CNCS). Đặc biệt, khi phân tích khó khăn trong cuộc đấu tranh giai cấp của GCCN ở các nước TBCN phát triển kém hơn so với các nước TBCN khác, C. Mác đã viết: “Trong tất cả các lĩnh vực khác thì cũng giống như các nước khác ở lục địa Tây Âu, chúng ta (nước Đức- Người viết chú thích) đau khổ không những vì sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ”. Sau này, trong quá trình xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin lại nhắc lại tư tưởng này để khẳng định những khó khăn khi chưa có CNTB, đồng thời phải tận dụng những thành tựu của CNTB thế giới trong quá trình xây dựng CNXH.

Đặc biệt là, C.Mác, Ph.Ăngghen quan tâm tới sự phong phú của phương pháp cách mạng. Các ông yêu cầu các Đảng Cộng sản phải vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở trong nước và quốc tế.

Trong bối cảnh châu Âu (nước Anh) vào những năm 40 của thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh đến vai trò của bạo lực trong cách mạng vô sản. Sau này (1886), khi điều kiện lịch sử nước Anh đã thay đổi thì trong “Lời tựa viết cho bản tiếng Anh” cho tác phẩm “Tư bản –Tập I” của C. Mác, chính Ph.Ăngghen lại nhấn mạnh đến “phương pháp hòa bình và hợp pháp”. Ông viết: Không còn nghi ngờ gì nữa, trong một lúc như vậy, người ta cần phải nghe tiếng nói của một người (tức của Các Mác - giải thích của người trích dẫn) mà toàn bộ học thuyết là kết quả của suốt một đời nghiên cứu lịch sử kinh tế và tình hình kinh tế nước Anh, một người mà việc nghiên cứu ấy đã dẫn đến kết luận nói rằng: ít nhất là ở châu Âu, nước Anh là nước duy nhất mà cuộc cách mạng xã hội tất yếu sẽ có thể hoàn toàn thực hiện được bằng phương pháp hòa bình và hợp pháp. Dĩ nhiên, ông không bao giờ quên nói thêm rằng, vị tất đã có thể mong chờ được các giai cấp thống trị ở nước Anh sẽ chịu khuất phục trước cuộc cách mạng hòa bình và hợp pháp …”. Ngoài sự “mong chờ” đó, Ph.Ăngghen còn gắn khả năng thực hiện cách mạng “bằng phương pháp hòa bình và hợp pháp” với sự trưởng thành về nhận thức và hành động của GCVS trong quá trình thực hiện SMLS của mình.

 Như vậy, Chủ nghĩa Mác không tuyệt đối hóa về con đường giành chính quyền của GCCN bằng bạo lực cách mạng như các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo. Các ông đã có cái nhìn toàn diện, bao quát dựa trên nền tảng nhân văn cộng sản chủ nghĩa để đưa ra quan điểm về phương thức giành chính quyền của GCCN vừa mang tính khách quan và vừa mang tính khoa học. Vì vậy, dù bối cảnh xã hội hôm nay có nhiều biến đổi, nhưng các quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

NHẬN DIỆN CÁC THẾ LỰC, THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Một là, xuyên tạc, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Chúng công kích chủ nghĩa Mác - Lênin “đã lỗi thời” chỉ phù hợp thế kỷ XIX, không còn phù hợp hiện nay. Chúng cho rằng: “Trào lưu cộng sản đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, trong đó có thành quả về giành quyền tự quyết cho nhiều dân tộc bị áp bức”. Xuyên tạc rằng, kết luận của chủ nghĩa Mác là ảo tưởng và “cùng với thời gian, những dự kiến của Mác về tương lai ngày càng bị xem là những viễn tưởng mờ mịt”. Họ cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin cũng là một “kinh thánh”, một “hệ tư tưởng đức trị kiểu phong kiến”. Các phần tử thù địch cũng đã phủ nhận tính khách quan của sự tiếp cận hệ tư tưởng XHCN trong quá trình Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước, khi cho rằng: “Mặt tiêu cực của sự gặp gỡ giữa dân tộc Việt Nam nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng với trào lưu cộng sản là đã du nhập vào đất nước mình một mô hình xã hội chủ nghĩa không tưởng, tạo môi trường cho những yếu tố hủ bại hãnh tiến lên ngôi, phá hoại kỷ cương, phá hủy những giá trị lương thiện và tiến bộ”.

Hai là, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân, rằng đó chỉ là việc làm nhằm thu hút sự tham gia của những người cần lao chứ không phải do điều kiện khách quan mang lại, nên điều đó chỉ phát huy tác dụng thời kỳ đầu của cách mạng, không hợp với giai đoạn sau nên tất yếu sẽ tự nảy sinh mâu thuẫn. Trước sự phát triển mới của chủ nghĩa tư bản và những biến đổi trong giai cấp công nhân, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc và lập luận: giai cấp công nhân không còn có sứ mệnh lịch sử; hoặc chúng đề cao vai trò của đội ngũ trí thức trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ phát triển, cho rằng đội ngũ này mới có khả năng lãnh đạo cách mạng theo con đường tư bản chủ nghĩa… Thực chất của quan điểm này là sự biện hộ cho địa vị thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản nhằm khẳng định sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản trên cơ sở phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Các thế lực chống phá còn cho rằng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của.

Ba là, các thế lực, thù địch bác bỏ khả năng định hướng XHCN ở nước ta. 

Bọn chúng cho rằng, Đảng cộng sản chỉ vì lợi ích của đảng và thiểu số người giàu có trong xã hội, sẽ không đảm bảo được lợi ích đa số người dân nếu không thực hiện dân chủ đa nguyên, họ lý sự rằng, thực hiện kinh tế thị trường mà nhất đảng lãnh đạo chẳng khác nào “đầu Ngô, mình Sở”, họ ngụy biện: Đối với nền văn minh mới thì ta chỉ lọc ra để xài cái phần hữu ích nhất là Kinh tế thị trường và làm bạn với tất cả mọi người... Còn cái phần bất lợi cho mình là dân chủ đa nguyên thì vứt bỏ… Làm kinh tế thị trường theo định hướng XHCN chính là đứa con lai láu cá đó. Họ gián tiếp bác bỏ định hướng XHCN đối với kinh tế thị trường và cho rằng, phát triển chính trị sẽ chuyển động theo phát triển kinh tế, khi kinh tế phát triển nhiều thành phần thì chính trị tất yếu phải theo đa nguyên.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, xây dựng nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu, lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân thực chất là bảo thủ có tính toán nhằm giữ lại đặc quyền, đặc lợi cho nhóm lãnh đạo, rằng, xu thế hiện nay là mọi người đều châu vào moi móc tất cả mọi thứ có thể moi móc từ cái kho chung của nhà nước để tìm vốn cho kế hoạch tư nhân hóa trong đó các cơ quan công quyền là những người tiên phong.

Bốn là, họ xuyên tạc quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, xuyên tạc động lực phát triển đất nước quá độ lên CNXH.

Họ cho rằng, quyền tự do, dân chủ trong xã hội Việt Nam không được thực hiện, đảng sẽ can thiệp bất cứ lúc nào cần thiết, nên các giai tầng nên thủ thế cho riêng mình, đừng góp sức vì sự nghiệp xây dựng CNXH, họ lý sự: tự do ngôn luận, biểu hiện rõ nhất trong báo chí, xuất bản vẫn bị khống chế khắc nghiệt bởi những cơ quan chức năng với những thủ đoạn trừng trị trấn áp vừa công khai vừa nội bộ. Họ xuyên tạc rằng, hiện nay ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước can thiệp, quản lý quá nhiều lĩnh vực, nên thiếu đi tính độc lập để phát huy dân chủ, từ đó họ kêu gọi: Đấu tranh cho một nền pháp luật dân chủ không cho phép đảng tùy tiện can thiệp vào các hoạt động kinh tế, cũng như đấu tranh đòi hỏi được tự do báo chí để xã hội có điều kiện pháp lý kiểm soát được những hoạt động của nhà nước, không có pháp luật thích hợp cũng như không có tự do cọ xát những tư tưởng khác nhau thì cũng không thể có phát triển.

Đây là những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống pháp cách mạng nước ta trên con đường đi lên CNXH. Gây hoang mang, dao động, làm xói mòn, giảm sút lòng tin trong một bộ phận quần chúng với Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, đồng thuận xã hội và làm vẩn đục tâm lý xã hội; trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH. Tạo nên những cản trở sự nghiệp xây dựng CNXH, những nội dung sai lệch ngày càng thấm sâu vào đời sống nhân dân ta. Do đó cần, đâu tranh kiên quyết, tuyên truyền sâu rộng để nhân dân nhận biết âm mưu, thủ đoạn của các thế lực, thù địch chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay.

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ ĐÚNG ĐẮN VỚI QUY LUẬT

Trong nhận thức lý luận ở Việt Nam hiện nay, phạm trù con đường đi lên CNXH phản ánh những chiến lược, sách lược của Đảng cộng sản Việt Nam để xây dựng CNXH ở Việt Nam. Những biện pháp xây dựng CNXH, đầu tiên được Cương lĩnh 1991 cụ thể hóa thành những nhiệm vụ và phương hướng của cách mạng Việt Nam: “Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cần xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo… phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại… nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội…, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội IX đã chỉ ra cụ thể tính chất phát triển rút ngắn của Việt Nam, vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và những điểm cần kế thừa, tiếp thu văn minh nhân loại để xây dựng CNXH: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng, tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.  Từ nhận thức lý luận và những thành tựu thực tiễn, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (Bổ sung, phát triển 2011) đã nêu lên những nét chủ yếu về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam thông qua tám phương hướng xây dựng CNXH:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”.

Hiện nay, con đường ấy đã được làm rõ trên những nét cơ bản, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”.

Song để thật sự sáng tỏ lý luận về con đường đi lên CNXH và trở thành công cụ đắc lực để xây dựng CNXH ở Việt Nam vẫn còn là một quá trình. Những nội dung, biện pháp cơ bản để xây dựng CNXH mà Đảng ta khẳng định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”.

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRONG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, khi nói về bản chất của chủ nghĩa xã hội và lí do tại sao Việt Nam lại lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã so sánh với chủ nghĩa tư bản. Qua đó, cuốn sách của Tổng Bí thư đã đánh giá rất toàn diện, sâu sắc về chủ nghĩa tư bản.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa tư bản. Tổng Bí thư cho rằng, chế độ tư bản chủ nghĩa là một bước tiến lớn trong lịch sử nhân loại, đồng thời khẳng định: “Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước”.

Trong cuốn sách của mình, Tổng Bí thư không chỉ khẳng định vai trò rất quan trọng của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển nhanh lực lượng sản xuất mà trong một chừng mực nhất định chủ nghĩa tư bản đã góp phần giải phóng con người với chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn nhiều so với tất cả các chế độ xã hội trước đó. Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng khẳng định những phúc lợi xã hội đối với người lao động mà chủ nghĩa tư bản đang thực hiện không phải là mục đích tự thân của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà trên cơ sở trình độ lực lượng sản xuất phát triển cao và là kết quả đấu tranh kiên trì, bền bỉ qua rất nhiều năm của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản phát triển.

Bên cạnh việc thừa nhận những giá trị của chủ nghĩa tư bản, nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư khẳng định do đặc trưng nội tại vốn có của chính phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên đây là một mô hình phát triển không bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái: “Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó”. Bởi lẽ, “Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa”.

Mục đích của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là tạo ra nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản nên nhà tư bản có xu hướng hạn chế tiền công của người công nhân, trả tiền công cho người công nhân thấp hơn so với số hàng hóa mà họ tạo ra. Để thực hiện được lợi nhuận thì nhà tư bản phải bán được nhiều sản phẩm song chính việc hạn chế tiền công của công nhân đã hạn chế khả năng tiêu thụ hàng hóa của tư bản, đó chính là mâu thuẫn trong xã hội tư bản dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Thực tế lịch sử của chủ nghĩa tư bản đã chứng minh những cuộc khủng hoảng kinh tế luôn gắn liền với phương thức sản xuất này. “Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008-2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới”.

Mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản không những không bền vững về kinh tế mà còn không bền vững về xã hội. Do đặc trưng của phương thức sản xuất này là chạy theo lợi nhuận của một số cá nhân nên người lao động vẫn là đối tượng bị bóc lột của quá trình sản xuất: “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc”. Mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản còn không bền vững về môi trường sinh thái: “Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,… đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại”. Để thu lợi nhuận nhiều thì phải kích thích xã hội tiêu dùng, hưởng thụ, phải tiêu dùng nhiều và phải sản xuất nhiều hơn so với khả năng thực tế của người nghèo so với nhu cầu của người giàu. Càng sản xuất nhiều càng khai thác, bóc lột thiên nhiên, tài nguyên nhiều đã dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường trầm trọng mà loài người đang phải trả giá.

Tống Bí thư cũng đã khẳng định hệ thống chính trị của các nước tư bản chỉ phục vụ cho lợi ích của một thiểu số người đang nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội chứ không phải bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân lao động như họ luôn rêu rao: “Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản”.

Chính trong khủng hoảng kinh tế, nhân dân lao động càng nhận thấy rõ hơn những bất công xã hội trong chủ nghĩa tư bản. Trong cuộc khủng hoảng 2008, những tập đoàn tư bản và những ngân hàng thương mại, những người trực tiếp gây ra tình trạng tồi tệ của nền kinh tế và gián tiếp bần cùng hóa người lao động thì không phải trả giá cho những việc họ đã làm. Chỉ có người lao động đang trực tiếp nếm trải những khó khăn của nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng này làm cho hàng triệu người mất nhà cửa khi họ không còn đủ khả năng trả các khoản nợ cho ngân hàng. Cuộc khủng hoảng này làm cho đời sống nhân dân vô vùng khó khăn, đáng lẽ ra Chính phủ phải có những chính sách hỗ trợ người lao động thì Chính phủ các nước tư bản lại rót tiền vào cứu trợ cho các ngân hàng, những thủ phạm gây ra cuộc khủng hoảng này. Chính phủ Mỹ đã chi khoảng tiền 1500 tỉ USD, Chính phủ Anh tung ra gói cứu trợ 790 tỉ USD, Đức thông qua gói cứu trợ 667 tỉ uSD, Pháp 500 tỉ USD. Khi rót một số tiền lớn làm cho tỷ lệ nợ công ở các nước này tăng lên, tỷ lệ nợ công trên GDP ở các nước phát triển đã tăng từ 44% năm 2007 lên 71% năm 2009[9], vì vậy họ phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”, cắt giảm chi tiêu mà hậu quả đè lên vai người dân. Và quyết định cắt giảm đầu tiên bao giờ cũng đánh vào những người về hưu như ở Anh và Pháp, vào những người làm công ăn lương nhà nước, cắt giảm các chính sách an sinh xã hội của người lao động. Thực tế này một lần nữa khẳng định hệ thống chính trị ở các nước tư bản không phải là quyền lực của nhân dân thực sự mà do các tập đoàn tư bản chi phối nên hoạt động của nó là để phục vụ cho các tập đoàn này, thực tế đã phơi bày đầy đủ bản chất của nền dân chủ tư sản: “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ là sự khẳng định đanh thép cho sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam mà còn giúp chúng ta nhìn một cách sâu sắc, thấu đáo về bản chất của chủ nghĩa tư bản ngày nay, đập tan những luận điệu tô hồng, ca ngợi một chiều chế độ này để cổ xúy đi theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỂM XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Một là, xuyên tạc, nhằm tiến tới phủ nhận, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng lý luận của đổi mới tư duy về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Hai là, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, tán dương đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Ba là, tán dương “con đường thứ ba” phủ nhận khả năng Việt Nam đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Bốn là, họ bác bỏ khả năng định hướng XHCN với nền kinh tế thị trường, phủ nhận chế độ sở hữu công hữu, tán dương tư hữu. Năm là, họ xuyên tạc quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, xuyên tạc động lực phát triển đất nước quá độ lên CNXH.

Tác hại của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta là làm xuất hiện sự thiếu thống nhất ý chí chính trị trong xây dựng CNXH. Gây hoang mang, dao động, làm xói mòn, giảm sút lòng tin trong một bộ phận quần chúng với Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, đồng thuận xã hội và làm vẩn đục tâm lý xã hội; trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của CNXH. Tạo nên những cản trở sự nghiệp xây dựng CNXH, hững nội dung sai lệch ngày càng thấm sâu vào đời sống nhân dân, từ đó dẫn đến tình trạng phân hóa xã hội, quần chúng nhân dân mất niềm tin vào chế độ, đang kìm hãm và gây cản trở cho sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước và sự tiến bộ xã hội. Làm xuất hiện hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta, tập trung vào tự diễn biến về quan điểm, đường lối, tư tưởng, văn hóa xã hội; trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao đã có không ít cán bộ lãnh đạo thoái hóa, biến chất, từ đó thay đổi lập trường tư tưởng, phản bội và chống lại đảng, chống lại chế độ XHCN. Do đó, các chủ thể luôn cảnh giác, tuyên truyền cho nhân dân nhận diện đúng, kiệp thời có biện pháp đấu tranh hiệu quả làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực, thù địch chống phá cách mạng nước ta.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÁC ĐỊNH CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam vào phạm trù cách mạng vô sản là sáng tạo lớn đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta. Ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích đúng tính chất xã hội Việt Nam, đề ra đường lối chính trị đúng đắn: trước hết làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản. Điều đó toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu phải đi tới cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH đã quyết định lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia và phương pháp của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Thứ hai, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ là sáng tạo thứ hai của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc; nhờ đó, đoàn kết tất cả mọi lực lượng toàn dân tộc chống đế quốc và giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thứ ba, chủ trương đúng đắn, sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến phải rải từng bước để phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, khi chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức, Đảng ta đã tập hợp lực lượng đông đảo của cả dân tộc: công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ vừa, nhỏ và cả tầng lớp trên trong bộ máy chính quyền phong kiến, tạo nên sức mạnh vĩ đại.

Thứ năm, sáng tạo vĩ đại trong nhận thức về con đường phát triển của cách mạng trong xu thế mới của thời đại, sáng tạo trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra cho mỗi thời kỳ. Nhờ giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, lật nhào ách đô hộ gần 80 năm của chủ nghĩa thực dân, lật nhào chế độ phong kiến thống trị hàng nghìn năm, lập nên chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mở đường cho dân tộc Việt Nam phát triển theo định hướng XHCN.

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÁC ĐỊNH CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam vào phạm trù cách mạng vô sản là sáng tạo lớn đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta. Ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích đúng tính chất xã hội Việt Nam, đề ra đường lối chính trị đúng đắn: trước hết làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản. Điều đó toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu phải đi tới cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH đã quyết định lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia và phương pháp của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Thứ hai, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ là sáng tạo thứ hai của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc; nhờ đó, đoàn kết tất cả mọi lực lượng toàn dân tộc chống đế quốc và giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thứ ba, chủ trương đúng đắn, sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến phải rải từng bước để phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, khi chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức, Đảng ta đã tập hợp lực lượng đông đảo của cả dân tộc: công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ vừa, nhỏ và cả tầng lớp trên trong bộ máy chính quyền phong kiến, tạo nên sức mạnh vĩ đại.

Thứ tư, sáng tạo vĩ đại trong nhận thức về con đường phát triển của cách mạng trong xu thế mới của thời đại, sáng tạo trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra cho mỗi thời kỳ. Nhờ giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, lật nhào ách đô hộ gần 80 năm của chủ nghĩa thực dân, lật nhào chế độ phong kiến thống trị hàng nghìn năm, lập nên chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mở đường cho dân tộc Việt Nam phát triển theo định hướng XHCN.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ THỜI ĐẠI

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và của Nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xử thế phát triển của thời đại.

Thực tiễn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mang đặc thù riêng từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành độc lập đã bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn đúng đắn, mang tính thời đại, phù hợp với xu thế và thực tiễn lịch sử.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh trên thế giới chủ nghĩa tư bản đang phát triển chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân lao động chính quốc. Lúc này với Liên Xô, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt. Trong bối cảnh ấy, ngay từ khi ra đời trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta đã xác định, làm cách mạng tư sản dân quyền giành độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa cộng sản, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sự lựa chọn này phù hợp với xu thế phát triển và mang tính thời đại sâu sắc.

Năm 1945, sau khi giành độc lập, Đảng ta lựa chọn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Đây là sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp xu thế thời đại và yêu cầu thực tiễn. Bởi sau chiến tranh thế giới thứ 2, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã hình thành và phát triển. Sự lựa chọn đúng đắn ấy đã tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ “9 năm làm một Điện Biên” chống thực dân Pháp và 21 năm kháng chiến “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Việt Nam đã trở thành tấm gương mẫu mực trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự độc đáo, sáng tạo về đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự do của dân tộc.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là đường lối cơ bản, xuyên suốt và nhất quán của cách mạng Việt Nam, khẳng định sự đúng đắn của Đảng và Bác Hồ trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu thế thời đại, khẳng định bản lĩnh, sự sáng tạo của Đảng trong lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mang đặc thù riêng của dân tộc Việt Nam.

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH TRONG CUỐN SÁCH “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM” CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới của đất nước và bối cảnh chung của thế giới, cuốn sách nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo của Đảng ta đã được thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Đại hội XIII của Đảng là: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Xử lý đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước làng giềng... Khai thác, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”.

Từ quan điểm chỉ đạo chung này, các nội dung về đường lối, định hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cụ thể đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích rất sâu sắc. Trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Tổng Bí thư yêu cầu Đảng bộ Quân đội cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính chất, vai trò của Quân đội ta là “Quân đội nhân dân, Quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được đặt dưới sự lãnh đạo” tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng, để thực hiện được 6 nhiệm vụ về: quán triệt nhận thức tính chất, trách nhiệm vủa Quân đội; xây dựng quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu; tăng cường mối quan hệ máu thịt của Quân đội với nhân dân; sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; phối hợp các bộ, ngành, địa phương để tăng cường tiềm lực quốc phòng và thế trận toàn dân; và thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng “Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Do vậy, “Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân”.

Về vấn đề an ninh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu tập trung quyết liệt, thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng “lực lượng công an thật sự trong sạch, vững mạnh, gần dân, sâu sát cơ sở”; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, các bộ, ngành, địa phương và Quân đội nhân dân để “giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống, tuyệt đối không chủ quan, lơ là; không để bị động, bất ngờ”.

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

KẾ THỪA SÁNG TẠO, CÓ CHỌN LỌC, PHÁT TRIỂN

Sau khi cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra mắt, tôi đã tìm đọc và thực sự thấm thía bởi nội dung cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ, sâu sắc nhiều vấn đề thực tiễn quá trình xây dựng CHXH ở nước ta.

Trong nội dung các bài viết, bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh sự kế thừa có chọn lọc để bổ sung, hoàn thiện, phát triển những đặc trưng cốt lõi của CNXH ở Việt Nam; chỉ rõ sự sáng tạo, khác biệt về chất giữa CNXH mà nước ta đang xây dựng so với chủ nghĩa tư bản. Những vấn đề này vô cùng bổ ích, giúp mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hiểu rõ hơn, nhận thức đầy đủ hơn và tin tưởng hơn vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Điển hình như, trong bài viết nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 / 19-5-2021), bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, ngày 15-5-2021, Tổng Bí thư khẳng định: “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”.

Tinh thần đó cũng được đề cập trong các nghị quyết của Đảng về phát triển con người, coi trọng giáo dục-đào tạo, xây dựng văn hóa, hội nhập quốc tế, đường lối ngoại giao, hợp tác quốc phòng... Quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp; cho nên sự kế thừa tinh hoa nhân loại một cách sáng tạo, có chọn lọc, phù hợp với hoàn cảnh, đặc thù Việt Nam là tất yếu khách quan, không thể nóng vội. Sự khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trên cơ sở phân tích, lập luận, đưa ra những dẫn chứng đầy thuyết phục từ thực tiễn nước ta đã góp phần củng cố vững chắc niềm tin cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng CNXH.

Đây cũng là bài học sâu sắc, khích lệ, khuyến khích mỗi cán bộ, đảng viên và mọi cá nhân trong công tác, thực hiện nhiệm vụ phải luôn tìm tòi, sáng tạo, đổi mới phù hợp với thực tiễn; biết “gạn đục khơi trong”, học tập, tiếp thu những ưu điểm từ đồng chí, đồng nghiệp; kế thừa có chọn lọc và phát huy những giá trị tốt đẹp trong tập thể để không ngừng tiến bộ, xây dựng cơ quan, đơn vị ngày càng phát triển vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.


Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

RA MẮT CUỐN SÁCH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Cuốn sách gồm 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay.

Sáng nay (9/2), Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức lễ ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Dự lễ ra mắt sách có Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng; Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa…

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” do Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức bản thảo và xuất bản, gồm 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kể từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay.

Nội dung xuyên suốt 29 bài viết là sự phân tích biện chứng, lý giải thấu đáo những câu hỏi lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư.

Các bài viết đã thể hiện rõ và làm sâu sắc thêm bản chất, giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội trên các bình diện chính trị, kinh tế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cách diễn đạt hết sức dung dị, gần gũi, dễ hiểu đối với mọi tầng lớp nhân dân, được chắt lọc từ đời sống thực tiễn sinh động của đất nước.

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn - Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, cuốn sách là tài liệu quý, một công trình có tầm khái quát lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc về những phát triển, sáng tạo riêng có của Đảng ta về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trên nền tảng tư duy lý luận sâu sắc, cuốn sách đã trình bày, phân tích, lý giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách khúc triết, rành mạch, rõ ràng, dung dị và dễ hiểu.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta, là tài liệu quý để giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo nên sự đồng thuận để khơi dậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

PHÊ PHÁN, BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM”

Công cuộc đổi mới 35 năm qua đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Chính vì thế, mọi biểu hiện của đổi mới luôn được nhiều người chăm chú theo dõi, phân tích, đánh giá, nhận định. Trong nhiều nhiệm kỳ đại hội Đảng vừa qua, công cuộc đổi mới luôn được Đảng ta xác định rõ ngay trong chủ đề của đại hội. Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có một số đối tượng ác ý tung ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn.

Những luận điệu đen tối đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị để tạo thêm động lực, nếu không, trước sau cũng sẽ đưa đến tàn lụi đất nước. Tựu trung, chủ ý thâm độc nhất cho rằng đổi mới đã cạn kiệt nguồn lực, từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì đổi mới về chính trị mà thôi. Các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước". Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường.

Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.

Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CHO RẰNG VIỆT NAM ĐANG ĐI THEO CON ĐƯỜNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA VÀ TRÁ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Quan điểm trên hoàn toàn sai trái. Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức ngày càng rõ hơn nội dung bỏ qua chế độ TBCN. Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”. Đây là bước tiến về nhận thức của Đảng khi xác định rõ nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về CNXH ngày càng rõ hơn.

Nhận thức được những vấn đề lý luận căn bản đó sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc đường lối của Đảng về hoàn thiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, củng cố niềm tin đối với quá trình đổi mới và con đường phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Chuyển hóa từ nhận thức vào hành động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý theo vị trí việc làm đó là tổ chức thực thi các chính sách của Nhà nước và tham mưu cho các cấp lãnh đạo trong việc hoạch định chính sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương, mỗi ngành, trên cả nước.


Thứ Tư, 20 tháng 10, 2021

SỰ RA ĐỜI CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trong lúc xã hội Việt Nam đang khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước thì Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh xuất hiện. Trước cảnh nước mất nhà tan, cũng như bao người Việt Nam yêu nước thời đó, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước. Song, không giống với cụ Phan Bội Châu, dù đã “Nam bôn, Bắc tẩu, dấu chân in gần khắp nửa châu Á” mà “tự xét thấy chẳng việc gì nên”, để đến khi sức tàn, lực kiệt vẫn ôm mối hận mà than rằng “cuộc đời tôi trăm thất bại chẳng một lần thành công”. Nguyễn Ái Quốc không tìm đường cứu nước ở phương Đông lạc hậu, Người quyết định sang Pháp, hướng về các nước phương Tây để trước hết là tìm hiểu cho rõ những gì đang ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, xem vì sao các nước phương Tây lại trở nên phú cường, rồi sau đó sẽ trở về giúp đồng bào.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Việt Nam Nguyễn Tất Thành đã lên tàu Latusơ Tơrêvin rời Tổ quốc thân yêu, vượt trùng dương đi tìm chân lý cách mạng. Cuộc hành trình trong 6 năm từ Á sang Âu, Phi, Mỹ rồi lại trở về châu Âu năm 1917 giúp Nguyễn Ái Quốc nhận thức và khám phá nhiều điều mới mẻ. Khảo sát các cuộc cách mạng ở Pháp, Anh, Mỹ, Người cho rằng, đó là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản đã xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Người đi đến kết luận, chúng ta đã đổ xương máu để làm cách mạng, thì nên làm đến nơi, nghĩa là làm sao cho cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc.

Cách mạng Tháng Mưòi Nga năm 1917 thắng lợi là sự kiện chính trị lớn nhất của thế kỷ XX, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản.  Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đặt ra sự lựa chọn mới đối với những người cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc cho một số ít người hay cho đại đa số người? Độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa tư bản hay độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội?

Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba) ra đời, có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Năm 1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn ra quyết liệt trong nhiều đảng công nhân và ngay trong Đảng Xã hội Pháp: tiếp tục theo Quốc tế thứ hai tức là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc tế thứ ba, con đường cách mạng.

Những cuộc thảo luận sôi nổi trong Đảng Xã hội Pháp về lý luận cách mạng, về Quốc tế II và Quốc tế III vẫn chưa thể giúp Nguyễn Ái Quốc lựa chọn được học thuyết mà mình cần tiếp nhận. Cho đến cuối tháng tháng 7 năm 1920, lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin để trình bày tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản, Người mới tìm thấy ở đó cái cẩm nang giải phóng dân tộc Việt Nam.

Văn kiện trình bày rõ hướng đi và biện pháp lãnh đạo của Đảng Cộng sản đưa sự nghiệp đấu tranh của các dân tộc thuộc địa đi đến thắng lợi hoàn toàn. Lênin bóc trần thái độ lừa dối của chế độ dân chủ tư sản đối với những người bị bóc lột khi tuyên bố quyền bình đẳng nói chung, trong đó bao gồm cả quyền bình đẳng dân tộc. Do vậy, một trong những nhiệm vụ của đảng cộng sản là phải phân biệt rõ những dân tộc bị áp bức, phụ thuộc không được hưởng quyển bình đẳng, với những dân tộc đi áp bức, bóc lột được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi. Để đập lại sự lừa dối kiểu dân chủ tư sản đang che giấu việc tuyệt đại đa số nhân dân trên trái đất bị một thiểu số nhỏ bé những nước tư sản tiên tiến nô dịch về mặt thuộc địa và tài chính. Trên thực tế, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước tiên tiến và quần chúng lao động các nước thuộc địa và phụ thuộc sau chiến tranh thế giới thứ nhất đang làm tan rã ảo tưởng dân tộc tiểu tư sản về khả năng chung sống hoà bình và bình đẳng giữa các dân tộc dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.

Xuất phát từ những luận điểm trên, Lênin cho rằng: “Điều quan trọng nhất trong chính sách của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa là phải làm cho vô sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản. Bởi vì chỉ có sự gần gũi ấy mới bảo đảm việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản, nếu không có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng”. Đồng thời, Lênin cũng nêu lên những nhiệm vụ quan trọng của các đảng cộng sản là phải trực tiếp ủng hộ phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa: giai cấp công nhân ở nước tư bản đang thống trị dân tộc chậm tiến trước tiên có nhiệm vụ ủng hộ tích cực nhất phong trào giải phóng các dân tộc ấy; phải đặc biệt ủng hộ phong trào nông dân ở các nước chậm tiến chống bọn địa chủ, chống chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất, chống chế độ phong kiến, phải liên minh chặt chẽ nhất giữa tất cả các phong trào giải phóng dân tộc với nước Nga Xôviết.

Những luận điểm cách mạng của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc mà qua 9năm tìm kiếm (1911-1920) Người mới bắt gặp. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đê thuộc địa của Lênin đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc nhận biết một tổ chức chính trị cần tham gia là Quốc tế III do Lênin sáng lập và lãnh đạo thực sự giúp đỡ các dân tộc bị áp bức đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc giành độc lập tự do. Từ đó, Người nhận thức được là trong thời đại ngày nay, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, con đường do Lênin và Quốc tế Cộng sản vạch ra. Sau này nhớ lại thời điểm được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đê thuộc địa của V.I.Lênin, Người đã viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.

Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế ba”.

Niềm tin của Nguyễn Ái Quốc ở lý luận của V.I.Lênin về cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa và lập trường đúng đắn của Quốc tế Cộng sản là cơ sở để Người xác định thái độ ủng hộ việc gia nhập Quốc tế Cộng sản tại Đại hội Tua (Tours) tháng 12 năm 1920 và đây cũng là sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Chính Người đã nói rõ điều đó khi trả lời nữ đồng chí Rôsơ câu hỏi vì sao lại bỏ phiếu cho Quốc tế III: “Rất đơn giản. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Quốc tế III nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Còn Quốc tế II không hề nhắc tới vận mệnh các thuộc địa vì vậy tôi bỏ phiếu tán thành Quốc tế III. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Qua 10 năm sống và làm việc ở những nước tư bản phát triển, Nguyễn Ái Quốc không choáng ngợp trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà lại nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật. Người khẳng định dứt khoát chủ nghĩa tư bản không cứu được nước, không cứu được dân. Thắng lợi của Cách Tháng Mười Nga năm 1917 đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra chân lý thời đại: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Sản phẩm của quá trình chuẩn bị đó chính là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước, mở ra thời đại mới cho cách mạng Việt Nam.

Đi theo đường hướng của Lênin, của Quốc tế Cộng sản, từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 90 năm qua, Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Đồng thời, những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua còn góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Quốc tế Cộng sản, cổ vũ giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới đứng lên đấu tranh vì các mục tiêu tiến bộ của thời đại.