Hiển thị các bài đăng có nhãn đi lên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đi lên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ ĐÚNG ĐẮN VỚI QUY LUẬT

Trong nhận thức lý luận ở Việt Nam hiện nay, phạm trù con đường đi lên CNXH phản ánh những chiến lược, sách lược của Đảng cộng sản Việt Nam để xây dựng CNXH ở Việt Nam. Những biện pháp xây dựng CNXH, đầu tiên được Cương lĩnh 1991 cụ thể hóa thành những nhiệm vụ và phương hướng của cách mạng Việt Nam: “Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cần xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo… phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại… nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội…, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội IX đã chỉ ra cụ thể tính chất phát triển rút ngắn của Việt Nam, vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và những điểm cần kế thừa, tiếp thu văn minh nhân loại để xây dựng CNXH: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng, tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.  Từ nhận thức lý luận và những thành tựu thực tiễn, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (Bổ sung, phát triển 2011) đã nêu lên những nét chủ yếu về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam thông qua tám phương hướng xây dựng CNXH:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”.

Hiện nay, con đường ấy đã được làm rõ trên những nét cơ bản, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”.

Song để thật sự sáng tỏ lý luận về con đường đi lên CNXH và trở thành công cụ đắc lực để xây dựng CNXH ở Việt Nam vẫn còn là một quá trình. Những nội dung, biện pháp cơ bản để xây dựng CNXH mà Đảng ta khẳng định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ THỜI ĐẠI

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và của Nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xử thế phát triển của thời đại.

Thực tiễn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mang đặc thù riêng từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành độc lập đã bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn đúng đắn, mang tính thời đại, phù hợp với xu thế và thực tiễn lịch sử.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh trên thế giới chủ nghĩa tư bản đang phát triển chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân lao động chính quốc. Lúc này với Liên Xô, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt. Trong bối cảnh ấy, ngay từ khi ra đời trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta đã xác định, làm cách mạng tư sản dân quyền giành độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa cộng sản, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sự lựa chọn này phù hợp với xu thế phát triển và mang tính thời đại sâu sắc.

Năm 1945, sau khi giành độc lập, Đảng ta lựa chọn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Đây là sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp xu thế thời đại và yêu cầu thực tiễn. Bởi sau chiến tranh thế giới thứ 2, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã hình thành và phát triển. Sự lựa chọn đúng đắn ấy đã tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ “9 năm làm một Điện Biên” chống thực dân Pháp và 21 năm kháng chiến “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Việt Nam đã trở thành tấm gương mẫu mực trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự độc đáo, sáng tạo về đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự do của dân tộc.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là đường lối cơ bản, xuyên suốt và nhất quán của cách mạng Việt Nam, khẳng định sự đúng đắn của Đảng và Bác Hồ trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu thế thời đại, khẳng định bản lĩnh, sự sáng tạo của Đảng trong lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mang đặc thù riêng của dân tộc Việt Nam.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Lịch sử dân tộc ta nửa cuối thế kỷ 19 và ngót nửa đầu thế kỷ 20, đất nước không được độc lập, nhân dân không được tự do. Các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa nông dân”, đến phong trào “Đông Du”, phong trào “Giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản dân tộc”…đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, cách mạng vô sản về Việt Nam. Từ khi có Đảng, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước theo con đường CNXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nói như thế để thấy, con đường cách mạng vô sản tiến bộ là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, CNXH là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, chủ thể quyết định vận mệnh của dân tộc và non sông đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam một lòng phụng sự Nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Ngoài lợi ích của dân tộc, Nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Nhân dân một lòng theo Đảng. Lý tưởng cộng sản là sự lựa chọn của Nhân dân.

Kiên định con đường đi lên CNXH là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta tiếp tục lựa chọn con đường Bác Hồ, Nhân dân đã lựa chọn, kiên định CNXH mà tính đúng đắn, khoa học, cách mạng đã được thực tiễn chứng minh để xây dựng đất nước ta thực sự giàu mạnh, dân chủ, văn minh, nhân dân ta thực sự có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài viết của mình: “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú, kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.

Kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật lịch sử chứ không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chủ nghĩa xã hội hiện thực sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng mà còn làm thay đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay. Chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học đã trở thành hiện thực sinh động; từ một nước XHCN trở thành hệ thống các nước XHCN trên thế giới, trở thành lực lượng cách mạng thúc đẩy nhân loại phát triển và phẩm giá con người trong lòng xã hội được thực thi… Liên Xô sụp đổ là sự kiện địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX làm đau đớn nhân loại tiến bộ, song nó phản ánh sự sai lầm về một mô hình khi đã xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc của CNXH. Điều đó cho thấy, những bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu nhưng tất thắng của CNXH với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, một hình thái kinh tế - xã hội và với tư cách một chế độ xã hội mới đầy ưu việt mà nó vốn có, là sự kết tinh tất cả những thành tựu tinh hoa mà các hình thái kinh tế - xã hội trước đã tạo ra, trên con đường đấu tranh khẳng định sự tồn tại phù hợp quy luật của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người./.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2021

ĐI THEO CON ĐƯỜNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA VIỆT NAM

Thời gian gần đây, trên các trang mạng xã hội xuất hiện bài viết của tên phản động Nguyễn Mạnh Hùng với tiêu đề:“Việt Nam là nước có lẽ là duy nhất trên thế giới vẫn còn các chữ “Xã hội chủ nghĩa” trong tên nước. Đây có phải là điều sai trái không?”. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc, nhằm phủ nhận những giá trị tốt đẹp của Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tiến tới đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bởi lẽ:

Thứ nhất, con đường và mục tiêu chủ nghĩa xã hội đã đem lại độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng ra đời, rất nhiều nhà yêu nước ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân nhưng đều thất bại; các cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu, đất nước vẫn trong vòng nô lệ, dân tộc vẫn không có độc lập, nhân dân vẫn không có tự do. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ nguyên của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, Đảng cùng với nhân dân làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử  “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự thật đó đã được lịch sử ghi nhận, nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ, không ai có thể chối cãi được. Đặc biệt, trong những năm gần đây, Đảng và nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, như: Kinh tế ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng lên, quốc phòng - an ninh ngày càng được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định, điều đó đã chứng tỏ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn.

Thứ hai, chủ nghĩa xã hội là cơ sở nền tảng vững chắc đảm bảo cho thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng, muốn dân giàu, nước mạnh thực sự, lâu dài và phổ biến trong toàn xã hội thì không thể đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, con đường đầy máu và nước mắt, với việc duy trì áp bức, bóc lột và bất công, mà phải kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù đây là sự nghiệp lâu dài, khó khăn, gian khổ và không thể tránh khỏi những lúc vấp váp, sai lầm, khuyết điểm.

Hiện nay, nhân dân ta đang vững bước đi trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với một vị thế mới của những người làm chủ và biết làm chủ vận mệnh của mình, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc. Với những định hướng, chủ trương và giải pháp lớn, nhiệm vụ trọng tâm mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, nhân dân Việt Nam vững tin hướng tới tương lai. Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam giương cao đã và đang đem lại cho dân tộc ta, nhân dân ta sự tự tin và sức mạnh mới, không có thế lực nào có thể cản bước, ngăn đường chúng ta đi.

Cuộc đấu tranh cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta đòi hỏi chúng ta không những phải nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mà còn là một quá trình đấu tranh phê phán, vạch trần những quan điểm sai trái, thù địch cố tình xuyên tạc, phủ nhận giá trị, bản chất cách mạng, khoa học của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, của nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; góp phần đắc lực vào cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi trên con đường chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã chọn.

NIỀM TIN VỮNG CHẮC VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Nước ta quá độ lên CNXH tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước, nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, không chỉ có thời cơ mà còn có cả những thách thức, những nguy cơ. Trong hợp tác kinh tế với các nước, nhất là với các nước tư bản phát triển, là những trung tâm kinh tế, kỹ thuật hùng mạnh, họ có thể lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để gây sức ép đối với chúng ta, nhất là trong những lúc chúng ta gặp khó khăn, buộc chúng ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho họ, hòng lái chúng ta đi chệch khỏi định hướng XHCN. Mặc dù hòa bình, hợp tác, phát triển là xu hướng của thời đại nhưng còn một xu hướng khác đối lập là xu hướng cường quyền, áp đặt. Mưu toan của các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang thể hiện trong các điểm nóng trên nhiều khu vực của thế giới, đang là những mưu toan độc chiếm các vùng biển đảo, xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước khác.

Đó là những thách thức, những nguy cơ mà chúng ta cần có sự nhận thức sâu sắc và tỉnh táo, không một chút mơ hồ, mất cảnh giác, để có những chủ trương, biện pháp ngăn ngừa, đối phó hữu hiệu. Chúng ta thực hiện phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc về mục tiêu chiến lược và mềm dẻo linh hoạt về sách lược. Đấu tranh không phải để phá vỡ hợp tác mà để phát triển sự hợp tác. Phải biết khéo tận dụng thời cơ, tranh thủ quan hệ với các nước lớn trong xu hướng đa cực hóa để mở rộng sự hợp tác vừa có lợi, vừa bảo vệ được mình và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Một vấn đề nữa cũng không kém phần quan trọng là khi nước ta hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, chúng ta cũng chịu sự tác động hai chiều tích cực và tiêu cực đến kinh tế của nước ta. Tác động tích cực khi kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ổn định phát triển, tác động tiêu cực khi kinh tế thế giới và kinh tế khu vực rơi vào trì trệ khủng hoảng. Chúng ta cần có chính sách sử dụng tốt mặt tích cực và ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực, giữ cho nền kinh tế nước ta ổn định và phát triển. Đây là bài học thực tế đã xử lý trước những tác động tiêu cực của cơn khủng hoảng tài chính-tiền tệ và khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới trong thời gian qua.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ TBCN theo quan điểm của V.I.Lênin, người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; nhất định thực hiện được mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2021

MỘT TRONG NHỮNG ĐIỂM NHẤN QUAN TRỌNG TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890-19.5.2021), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Một trong những điểm nhấn của bài viết là những lý giải về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trên quan điểm duy vật biện chứng, bài viết đã làm rõ đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội gắn với yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, được phân biệt với đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở dạng hoàn chỉnh.

Thời kỳ quá độ là thời kỳ mà “nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực” và sự đan xen, cạnh tranh ngày càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng, trong thời kỳ quá độ, do xuất phát điểm thấp, chúng ta “bỏ qua” chủ nghĩa tư bản nhưng phải xác định “bỏ qua” cái gì, cái gì phải kế thừa, phát triển. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Phải kế thừa những thành tựu này có chọn lọc, có phê phán, trên quan điểm khoa học và phát triển.

Bài viết lưu ý rằng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng, hoàn thiện không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ, hoàn chỉnh.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là làm cho mục tiêu xã hội chủ nghĩa luôn được quản trị, giữ vững trong quá trình đổi mới đất nước; làm cho nhân tố xã hội chủ nghĩa, những cái tốt đẹp luôn giữ vai trò chủ đạo, lớn dần lên trong quá trình cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa.

Cùng với vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa là định hình chủ nghĩa xã hội, tức phải làm cho bản chất tốt đẹp, giá trị của chủ nghĩa xã hội được hiện thực hóa trong đời sống hằng ngày mà người dân được thụ hưởng gắn với điều kiện, lộ trình cụ thể. Đó chính là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tăng trưởng kinh tế phải gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển.

Để tránh rơi vào chủ quan duy ý chí, bài viết lưu ý rằng, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội.

Thứ Tư, 26 tháng 5, 2021

THỰC TIỄN XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

Trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh, Đảng ta, nhân dân ta không chỉ kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà còn xác định rõ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Những nội dung quan trọng này đã được khẳng định từ trong Chương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, trong văn kiện từ Đại hội II đến Đại hội VI và tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh 1991 (Đại hội VII): "Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất thấp" và “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt trong quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vẫn là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ với nhau”.

Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và xuất phát từ thực tiễn, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp đúng như Nghị quyết Đại hội VIII (1996) của Đảng nhấn mạnh: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Tại Đại hội IX (2001), Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” và "con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại". Cùng với đó, Báo cáo chính trị tại Đại hội cũng khẳng định nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn, với 8 đặc trưng cơ bản; đồng thời, nhấn mạnh bài học số một là: Trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ Hai, 24 tháng 5, 2021

NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã từng bước rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Tổng thống Nga V. Putin trong Thông điệp Liên bang năm 2005 gọi đó là “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Sự đổ vỡ này xảy ra ngay tại Liên Xô - quê hương của Cách mạng tháng Mười, nơi khai sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực khiến cho các học giả tư sản được dịp lên tiếng phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác.

Kể từ sau sự kiện gây chấn động lịch sử toàn thế giới đến nay đã gần 30 năm, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức tìm mọi cách lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ nhận chủ nghĩa Mác. Đúng như bài viết của đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: “Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá”.

Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đưa ra hai xu hướng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội từ sự khủng hoảng và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu:

Một là, những người không có lập trường tư tưởng vững vàng nên khi sự kiện “chấn động toàn thế giới” xảy ra thì tỏ rõ sự hoang mang, hoài nghi về tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô với sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn cho thấy xu hướng này xảy ra trong chính bản thân những người mácxít - những người đã từng tôn thờ chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, những đối tượng có lập trường phi mácxít, có tư tưởng chống phá nên đã vin vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một bằng chứng không gì thuyết phục để phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bác bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của loài người. Thực tiễn cho thấy xu hướng này chiếm đa số, trở thành làn sóng chống Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác. Điển hình cho xu hướng này là trường phái trotskyist mới. Họ cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”. Họ cũng cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng” nên áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai của lịch sử”... Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xuất phát từ lập luận đó, họ cho rằng hiện nay “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa”; rằng, “con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang đi là trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”; hay đó chính là “một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản”(5). Do đó, theo họ, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà một số nước đã đi qua để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chính những sự xuyên tạc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lập trường, quan điểm của những người theo chủ nghĩa Mác. Biểu hiện rõ ràng nhất là xu hướng “phi mácxit hóa”, phân rã về tư tưởng, ly khai với học thuyết Mác - Lênin trỗi dậy mạnh tại hàng loạt nước từng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, cũng như trong nội bộ các đảng cộng sản, các đảng xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân quốc tế. Hiện nay, mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã diễn ra gần 30 năm nhưng các phần tử cơ hội, phản động, xét lại vẫn coi đây là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để tiếp tục phủ nhận chủ nghĩa Mác nói chung lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác nói riêng.

Ở Việt Nam, từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, có không ít người, trong đó có cả những người cộng sản đã hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận sự lựa chọn của Đảng Cộng sản Việt Nam vì họ cho rằng khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sự “kéo lùi lịch sử”, không tuân theo quy luật mà C. Mác đã từng khẳng định: sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.

Như vậy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để các học giả phương Tây nắm lấy để công kích, xuyên tạc, lý luận của chủ nghĩa Mác về chủ nghĩa xã hội. Điều này gây ra sự dao động, hoài nghi của không ít người Việt Nam, trong đó có cả những người đã từng đi theo chủ nghĩa Mác, ủng hộ, thậm chí tôn thờ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Đó là biểu hiện của xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà Đảng ta luôn nhắc đến trong những năm gần đây.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI: '“VIỆT NAM CHỌN CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ SỰ TRƯỢT DÀI THEO VẾT XE ĐÃ ĐỔ Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU"

Trong những năm gần đây, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là tin học đang phát triển mạnh mẽ cùng với những khó khăn, thách thức nảy sinh do tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và những diễn biến phức tạp mới trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Những phần tử cơ hội chính trị ở trongnước hùa theo những luận điểm sai trái của địch, ra sức công kích Đảng và chếđộ xã hội chủ nghĩa. Hàng ngày, chúng tung lên mạng, tán phát hàng trăm tàiliệu, từ xuyên tạc về lý luận đến vu cáo trong thực tiễn nhằm làm xói mòn lòng tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa; ra sức bịa đặt, bôi nhọ cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước với mưu toan chia rẽ, kích động lật đổ chính quyền.
Con đường cách mạng mà nhân dân ta đã lựa chọn “độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng chủ nghĩa xã hội” là hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn nước ta và yêu cầu bức xúc của xã hội Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Yêu cầu đó là độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, là đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu bằng con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.         
Kiên trì mục tiêu đó, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Chúng ta có quyền tự hào khi nhận định rằng,“Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới”. Đó là thực tế lịch sử không ai có thể phủ nhận, xuyên tạc. Xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay không sẵn có mô hình, là một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, nhưng đó là con đường hợp quy luật, hợp lòng dân. Công cuộc đổi mới của chúng ta hơn 30 năm qua có cả thành tựu và khuyết điểm, nhưng thành tựu là cơ bản, là mặt chủ yếu của sự phát triển. Khuyết điểm không phải mặt cơ bản, chủ yếu, song chúng ta tự nghiêm khắc thấy rằng, có một số mặt rất nghiêm trọng, không thể xem thường. Thực tế chỉ rõ, trong bất cứ trường hợp nào, Đảng ta đều dũng cảm nhìn nhận, không chối bỏ trách nhiệm về những yếu kém của mình./.

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT LỊCH SỬ CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ “ĐI VÀO VẾT XE ĐỔ CỦA LIÊN XÔ”

Trong thời gian vừa qua lợi dụng sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cùng những khó khăn mà Đảng và nhân dân ta gặp phải trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, các học giả tư sản và những thế lực thù địch đã đưa ra cái gọi là: “những nhận định, đánh giá khách quan về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”. Trong đó cho rằng Việt Nam kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội là đã tự dẫn mình “đi theo vết xe đổ của Liên Xô”.
Cần khẳng định rõ rằng, sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể của chủ nghĩa xã hội đã lạc hậu, không đồng nghĩa với sự sụp đổ của học thuyết khoa học, cách mạng là chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng không phải là sự cáo chung của lý tưởng cộng sản mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại. Càng sai lầm nếu nghĩ đó là sự kết thúc của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội mà C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin xây dựng. Sự sụp đổ đó là một bài học đắt giá, đã khách quan tạo cho những người cộng sản có thêm những dữ liệu mới đối với việc nhận thức như thế nào cho đúng, bổ sung và hoàn thiện hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội, trở về đúng với quan điểm, lập trường của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, để phát triển đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới.
Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là kiên định con đường vận động khách quan của lịch sử, là kiên định một lý tưởng tốt đẹp và hiện thực, nhân văn, nhân đạo. Đó là đi theo lý tưởng và những giá trị của cách mạng Tháng Mười Nga, những thành quả và giá trị nhân văn tốt đẹp mà hơn 70 năm nhân dân Liên Xô bằng xương máu của mình đã tạo dựng nên. Tuyệt nhiên đó không phải là dập khuôn máy móc, làm theo một mô hình đã lạc hậu, cùng những sai lầm mang tính hệ thống trong cải tổ, không phải là “đi theo vết xe đổ của Liên Xô” như sự công kích của các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị rêu rao.
Thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã chứng minh tính đúng đắn cho sự lựa chọn của Đảng và nhân dân ta. Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời rút ra được những bài học quý báu từ sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, vận dụng một cách linh hoạt vào điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế của thời đại nên cách mạng Việt Nam đã từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và ngày càng vững bước đi lên. Thành tựu đó được thể hiện: Kinh tế ngày càng phát triển, nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc; môi trường chính trị luôn giữ vững sự ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; văn hóa – xã hội ngày càng phát triển; đối ngoại được mở rộng và đi vào chiều sâu, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế. Việt Nam vẫn luôn là hình mẫu để nhiều nước đang và chậm phát triển noi theo.

Tất cả những thành tựu đạt được trên đã chứng tỏ rằng sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với quy lật của lịch sử. Những luận điệu tuyên truyền trên đều là những lời vu khống vô căn cứ khoa học, đều là những lời hằn học, thù địch sớm muộn chúng cũng sẽ nhận lấy những thất bại.

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG

Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là trung thành tuyệt đối với lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế vận động phát triển của lịch sử xã hội loài người. Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là chúng ta đang đi tiếp con đường mà lịch sử dân tộc đã lựa chọn trong 87 năm qua. Đây là sự nối tiếp hiện thực – thực tiễn chủ nghĩa xã hội đã có, đang có ở Việt Nam. Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với nguyện vọng ngàn đời của nhân dân ta. Chúng ta kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là cụ thể hóa, hiện thực hóa con đường ấy trong đời sống hiện thực trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội...
Nhìn lại lịch sử hình thành phát triển của xã hội loài người, xã hội loài người đã trải qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một kiểu chế độ chính trị xã hội được thiết lập. Tuy nhiên trừ hình thái kinh tế - xã hội, xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì các hình thái kinh tế - xã hội trước đó như: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa đều là những chế độ áp bức, bóc lột. Ở các chế độ này giai cấp thống trị đã dùng quyền thống trị của mình để áp bức, bóc lột các tầng lớp nhân dân lao động rất tàn khốc. Ở chế độ chiếm hữu nô lệ người nô lệ bị giai cấp chủ nô coi như họ không phải là con người mà được coi là động vật biết nói, bị đem đi bán như một món hàng. Ở chế độ phong kiến và tư bản tuy mức độ áp bức không tàn khốc như thời chiếm hữu nô lệ nhưng cũng rất nặng nề. Chỉ đến khi có hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và được hiện thực hóa thông qua cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi mới thực sự giải thoát giai cấp những người lao động thoát khỏi ách áp bức bóc lột, đưa họ lên là người làm chủ bản thân, làm chủ xã hội.
Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra một thời đại mới cho lịch sử xã hội loài người thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Mười đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đứng lên đấu tranh tự giải phóng mình. Tính ưu việt của thời đại mơi được thể hiện chỉ một thời gian ngắn trong vòng mấy chục năm tại quê hương Cách mạng Tháng Mười nhân dân Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã tạo nên những kỳ tích từ một nước nghèo nàn, lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề do chiến tranh Liên Xô đã vươn lên thành cường quốc đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa trở thành lực lượng đối trọng với chủ nghĩa đế quốc, có vai trò to lớn trong bảo vệ nền hòa bình thế giới.
Đi theo Cách mạng Tháng Mười, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và đã giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay cho dù chủ nghĩa xã hội hiện thực trên quê hương Cách mạng Tháng Mười không còn nữa, lợi dụng kẻ thù luôn tìm mọi âm mưu thủ đoạn chống phá nhưng vượt trên tất cả những thách thức đó Việt Nam vẫn trên đà phát triển rất mạnh mẽ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ta ngày càng được nâng cao, tình hình chính trị nội bộ ổn định, quan hệ ngoại giao được mở rộng, vị trế ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, quốc phòng, an ninh của đất nước ngày càng vững chắc.
Tất cả những thành tựu đạt được trên đã minh chứng cho sự kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn. Điều này cũng minh chứng rằng các âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch dù chúng có núp dưới bất cứ hình thức nào thì cũng đều là lạc lõng và sẽ chuốc lấy sự thất bại./. 

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2016

CÁC GIÁ TRỊ CĂN BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Trong quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, mục tiêu của thời kỳ qúa độ lên CNXH là để chuẩn bị các cơ sở vật chất, tinh thần cho CNXH phát triển trên cơ sở của chính nó. Tính chất chính trị của thời kỳ qúa độ lên CNXH là sự tiếp tục đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt với những nội dung mới, bằng những biện pháp mới và trong những điều kiện mới hoàn toàn khác so với thời kỳ GCCN chưa giành được chính quyền. Đặc điểm về kinh tế - xã hội của thời kỳ qúa độ lên CNXH là tính chất “không thuần nhất” với sự “đan xen của những mảnh những bộ phận của xã hội cũ”, những “dấu vết của xã hội cũ mà nó vừa thoát thai ra” bên cạnh những mầm mống, những yếu tố vừa mới được xây dựng của xã hội XHCN.  
Theo đó, những người xây dựng CNXH phải sáng tạo khi tìm kiếm các mô hình riêng, biện pháp - con đường đặc thù, phù hợp với bối cảnh lịch sử để đi lên CNXH. V.I.Lênin đã nêu luận điểm rất có giá trị về  vấn đề này: "Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau. Mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội"1.
Cũng theo tư tưởng của V.I.Lê nin, việc tìm kiếm con đường đi lên CNXH là một quá trình lâu dài, khó khăn, cho nên phải kiên định, kiên nhẫn, tỷ mỉ để “làm đi làm lại nhiều lần” và mạnh dạn, khoa học để thay đổi – kể cả những vấn đề chiến lược. Nó quanh co, phức tạp và đôi khi phải biết chấp nhận cả những “con đường vòng”, biết chấp nhận những thất bại, bước lui tạm thời. Phải biết tích hợp các giá trị nhân loại, những yếu tố hợp lý của xã hội TBCN, chắt lọc những giá trị truyền thống của dân tộc… để xây dựng xã hội mới... 
Có thể khái quát thành 2 giá trị căn bản trong quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhận thức con đường đi lên CNXH 
Thứ nhất là giá trị chỉ đạo thực tiễn.
 Chủ nghĩa Mác là học thuyết không chỉ giải thích thế giới mà còn là học thuyết để cải tạo thế giới, bởi vậy, các nhà kinh điển đã rất quan tâm đến vấn đề chỉ đạo biện pháp xây dựng CNXH. Trong khi xây dựng CNXH, cùng với nhận thức rõ về tính tất yếu, đặc trưng hay mô hình của nó, các Đảng Cộng sản rất cần đến chỉ đạo về phương pháp - biện pháp, cách thức, lộ trình, v.v. và những điều đó có thể tìm thấy trong kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin. 
Mục đích quy định biện pháp, cho nên từ mục tiêu cao cả nhất của CNXH là giải phóng con người và tạo ra điều kiện cho sự phát triển tự do, toàn diện cho mỗi người và cho mọi người[1], hệ thống biện pháp, hay con đường đi lên CNXH trước tiên phải là phát triển sản xuất, phải trên cơ sở của LLSX xã hội hóa trình độ cao để có năng suất lao động cao, từ đó mới có của cải vật chất dồi dào để thỏa mãn mọi nhu cầu của mọi người. CNXH phải là xã hội giàu có sung túc chứ không phải là xã hội bình quân sự nghèo khổ. Theo đó, trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tất cả những gì cản trở sự phát triển của sản xuất đều là phản động với lịch sử và cần được loại bỏ. CNXH là phát triển sản xuất và mọi biện pháp mà nó áp dụng cũng trước hết là để “tăng thật nhanh LLSX lên”. Đây là giá trị phương pháp luận hàng đầu của chủ nghĩa Mác - Lênin. 
Thứ hai, là giá trị khoa học và cách mạng bao gồm phương pháp luận, định hướng và cơ sở để thẩm định những sáng kiến mới về biện pháp hay con đường xây dựng CNXH.
Với hệ thống lý luận CNXH khoa học nói chung, các  nhà kinh điển đặc biệt nhấn mạnh nhiều lần với hậu thế về ý nghĩa phương pháp luận, “kim chỉ nam” của học thuyết này. Với hàm ý khuyến khích tính sáng tạo, tránh rập khuôn giáo điều, phương pháp luận duy vật biện chứng về lịch sử với các đặc trưng tư duy: khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể… có thể được xem là định hướng chung cho tư duy về con đường đi lên CNXH.
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin bàn khá kỹ lưỡng với những lưu ý sâu sắc về tư duy biện chứng và biện pháp linh hoạt, sáng tạo. Xây dựng CNXH phải biết gắn liền nguyên lý chung “với mảnh đất hiện thực”, có thể in “dấu ấn riêng của quốc gia mình” lên quá trình xây dựng CNXH của mỗi nước. Theo đó, những người xây dựng CNXH phải sáng tạo khi tìm kiếm các mô hình riêng, biện pháp - con đường đặc thù, phù hợp với bối cảnh lịch sử để đi lên CNXH. Nó là một quá trình lâu dài, khó khăn, cho nên phải kiên định, kiên nhẫn, tỷ mỉ để “làm đi làm lại nhiều lần” và mạnh dạn, khoa học để thay đổi – kể cả những vấn đề chiến lược. Nó quanh co, phức tạp và đôi khi phải biết chấp nhận cả những “con đường vòng”, biết chấp nhận những thất bại, bước lui tạm thời. Phải biết tích hợp các giá trị nhân loại, những yếu tố hợp lý của xã hội TBCN, chắt lọc những giá trị truyền thống của dân tộc để xây dựng xã hội mới...
Tính chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác còn thể hiện ở chỗ, học thuyết khoa học này, mang tính chất “mở” và chấp nhận sự bổ sung phát triển của hậu thế. V.I.Lênin là người đầu tiên khẳng định rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga.” [2]
Tính chất “Khoa học và cách mạng trong chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện cả ở hệ thống - chỉnh thể cũng như trong từng bộ phận hợp thành (Triết học, kinh tế chính trị và CNXH khoa học). Tất cả đều nổi bật ở sự gắn liền lý luận với thực tiễn. Đây là bản chất, nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa  Mác - Lênin”[3].


1 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1976, tập 30, tr.160.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1974, tập 4, tr.232.
[3] GS,TS. Hoàng Chí Bảo, Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê nin và chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb CTQG, H.2012, tr.365