Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ nghĩa tư bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ nghĩa tư bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRONG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, khi nói về bản chất của chủ nghĩa xã hội và lí do tại sao Việt Nam lại lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã so sánh với chủ nghĩa tư bản. Qua đó, cuốn sách của Tổng Bí thư đã đánh giá rất toàn diện, sâu sắc về chủ nghĩa tư bản.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa tư bản. Tổng Bí thư cho rằng, chế độ tư bản chủ nghĩa là một bước tiến lớn trong lịch sử nhân loại, đồng thời khẳng định: “Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước”.

Trong cuốn sách của mình, Tổng Bí thư không chỉ khẳng định vai trò rất quan trọng của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển nhanh lực lượng sản xuất mà trong một chừng mực nhất định chủ nghĩa tư bản đã góp phần giải phóng con người với chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn nhiều so với tất cả các chế độ xã hội trước đó. Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng khẳng định những phúc lợi xã hội đối với người lao động mà chủ nghĩa tư bản đang thực hiện không phải là mục đích tự thân của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà trên cơ sở trình độ lực lượng sản xuất phát triển cao và là kết quả đấu tranh kiên trì, bền bỉ qua rất nhiều năm của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản phát triển.

Bên cạnh việc thừa nhận những giá trị của chủ nghĩa tư bản, nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư khẳng định do đặc trưng nội tại vốn có của chính phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên đây là một mô hình phát triển không bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái: “Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó”. Bởi lẽ, “Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa”.

Mục đích của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là tạo ra nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản nên nhà tư bản có xu hướng hạn chế tiền công của người công nhân, trả tiền công cho người công nhân thấp hơn so với số hàng hóa mà họ tạo ra. Để thực hiện được lợi nhuận thì nhà tư bản phải bán được nhiều sản phẩm song chính việc hạn chế tiền công của công nhân đã hạn chế khả năng tiêu thụ hàng hóa của tư bản, đó chính là mâu thuẫn trong xã hội tư bản dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Thực tế lịch sử của chủ nghĩa tư bản đã chứng minh những cuộc khủng hoảng kinh tế luôn gắn liền với phương thức sản xuất này. “Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008-2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới”.

Mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản không những không bền vững về kinh tế mà còn không bền vững về xã hội. Do đặc trưng của phương thức sản xuất này là chạy theo lợi nhuận của một số cá nhân nên người lao động vẫn là đối tượng bị bóc lột của quá trình sản xuất: “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc”. Mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản còn không bền vững về môi trường sinh thái: “Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,… đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại”. Để thu lợi nhuận nhiều thì phải kích thích xã hội tiêu dùng, hưởng thụ, phải tiêu dùng nhiều và phải sản xuất nhiều hơn so với khả năng thực tế của người nghèo so với nhu cầu của người giàu. Càng sản xuất nhiều càng khai thác, bóc lột thiên nhiên, tài nguyên nhiều đã dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường trầm trọng mà loài người đang phải trả giá.

Tống Bí thư cũng đã khẳng định hệ thống chính trị của các nước tư bản chỉ phục vụ cho lợi ích của một thiểu số người đang nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội chứ không phải bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân lao động như họ luôn rêu rao: “Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản”.

Chính trong khủng hoảng kinh tế, nhân dân lao động càng nhận thấy rõ hơn những bất công xã hội trong chủ nghĩa tư bản. Trong cuộc khủng hoảng 2008, những tập đoàn tư bản và những ngân hàng thương mại, những người trực tiếp gây ra tình trạng tồi tệ của nền kinh tế và gián tiếp bần cùng hóa người lao động thì không phải trả giá cho những việc họ đã làm. Chỉ có người lao động đang trực tiếp nếm trải những khó khăn của nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng này làm cho hàng triệu người mất nhà cửa khi họ không còn đủ khả năng trả các khoản nợ cho ngân hàng. Cuộc khủng hoảng này làm cho đời sống nhân dân vô vùng khó khăn, đáng lẽ ra Chính phủ phải có những chính sách hỗ trợ người lao động thì Chính phủ các nước tư bản lại rót tiền vào cứu trợ cho các ngân hàng, những thủ phạm gây ra cuộc khủng hoảng này. Chính phủ Mỹ đã chi khoảng tiền 1500 tỉ USD, Chính phủ Anh tung ra gói cứu trợ 790 tỉ USD, Đức thông qua gói cứu trợ 667 tỉ uSD, Pháp 500 tỉ USD. Khi rót một số tiền lớn làm cho tỷ lệ nợ công ở các nước này tăng lên, tỷ lệ nợ công trên GDP ở các nước phát triển đã tăng từ 44% năm 2007 lên 71% năm 2009[9], vì vậy họ phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”, cắt giảm chi tiêu mà hậu quả đè lên vai người dân. Và quyết định cắt giảm đầu tiên bao giờ cũng đánh vào những người về hưu như ở Anh và Pháp, vào những người làm công ăn lương nhà nước, cắt giảm các chính sách an sinh xã hội của người lao động. Thực tế này một lần nữa khẳng định hệ thống chính trị ở các nước tư bản không phải là quyền lực của nhân dân thực sự mà do các tập đoàn tư bản chi phối nên hoạt động của nó là để phục vụ cho các tập đoàn này, thực tế đã phơi bày đầy đủ bản chất của nền dân chủ tư sản: “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ là sự khẳng định đanh thép cho sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam mà còn giúp chúng ta nhìn một cách sâu sắc, thấu đáo về bản chất của chủ nghĩa tư bản ngày nay, đập tan những luận điệu tô hồng, ca ngợi một chiều chế độ này để cổ xúy đi theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định chủ nghĩa Mác - Lênin là cốt, là gốc, là nền tảng tư tưởng của Đảng. Đến Đại hội Đảng lần thứ VII (1991), Đảng ta khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Luận điểm này đã tiếp tục được khẳng định trong các văn kiện qua các kỳ đại hội của Đảng. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII nêu rõ: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”.

Đi lên CNXH là sự lựa chọn sáng suốt của Đảng phù hợp với khát vọng của người dân Việt Nam vươn tới ấm no, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích giai cấp và lợi ích cá nhân của không ít phần tử suy thoái, bất mãn, đã chống đối lại con đường tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển mà Đảng, Bác và nhân dân ta lựa chọn. Họ đã không từ thủ đoạn nào hòng làm chuyển hướng, làm thất bại công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Họ tập trung công kích, xuyên tạc, phủ định cái gốc của Đảng - nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo nhân dân thực hiện các cuộc trường chinh kháng chiến và công cuộc xây dựng CNXH ngày nay.

Trên con đường xây dựng xã hội mới, chúng ta phải thường xuyên, liên tục đấu tranh chống lại các hoạt động cả trên bình diện lý luận và thực tiễn để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động có sứ mệnh xây dựng thành công xã hội mới, điều đó cũng có nghĩa cuộc đấu tranh này là liên tục, gắn liền với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ liên tục về thời gian, mà còn liên tục về không gian, không chỉ trên phạm vi quốc gia mà cả trên bình diện quốc tế. Điều này gắn liền với sự vận động của xã hội loài người đang quá độ lên CNXH. Phủ định học thuyết Mác – Lênin chính là sự phủ định xu hướng vận động khách quan của sự quá độ lên CNXH trên phạm vi thế giới, là sự phủ định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Cũng chính vì vậy, cuộc đấu tranh này luôn quyết liệt, phức tạp, là cuộc đấu tranh mất còn với thế lực thù địch phản động của những người cộng sản đi theo con đường mà các nhà kinh điển Macxit đã chỉ ra.

Tính quyết liệt và phức tạp của cuộc đấu tranh ngày nay còn gắn liền với sự lợi dụng những bước tiến trình độ lực lượng sản xuất, biểu hiện tập trung ở sự phát triển của khoa học công nghệ. Việc lợi dụng thành tựu khoa học công nghệ để tạo ra bước phát triển mới của CNTB, cũng như lợi dụng thành tựu công nghệ để chống phá với những phương thức ngày càng tinh vi, với mục tiêu không bao giờ thay đổi là phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định con đường XHCN, luôn được các thế lực thù địch khai thác triệt để.

Bên cạnh đó, quá trình hội nhập và mở cửa các nền kinh tế quốc gia dân tộc một mặt là điều kiện cho quá trình hợp tác phát triển, mở rộng sự hiểu biết, giao lưu văn hóa, gắn kết cộng đồng vì sự phát triển chung, đồng thời cũng là không gian cho các thế lực thù địch lợi dụng đẩy mạnh các hoạt động chống phá cả trên phương diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại và an ninh quốc phòng.

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

THỰC CHẤT “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC HIỆN NAY

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực hản động nhằm lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện há hi quân sự. Như vậy, “Diễn biến hòa bình” chỉ là sự thay hình, đổi dạng để che đậy bản chất của chủ nghĩa đế quốc, gây mơ hồ ảo tưởng, dao động về mục tiêu lý tưởng đối với cán bộ đảng viên và nhân dân lao động để tiến công chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu chiến lược của “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là làm cho các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện đa nguyên chính trị, kinh tế tư nhân hóa; xã hội hương tây hóa; cuối cùng làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa chuyển hóa thành chế độ tư bản chủ nghĩa. hương thức tiến hành, thực hiện sự thẩm thấu hòa bình, làm cho chủ nghĩa xã hội mục rỗng từ bên trong, tự sụ đổ theo kiểu chiến thắng không cần chiến tranh. Chúng thực hiện bằng sự tiến công xâm nhậ vào trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh các thủ đoạn hi quân sự như: Chính trị, tư tưởng, kinh tế, ngoại giao, tâm lý, lối sống... làm biến chất chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trong lòng nhà nước xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch kết hợ chặt chẽ giữa “Diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ và răn đe quân sự.

Tính chất của “Diễn biến hòa bình” rất độc ác, nham hiểm, tinh vi và hức tạ. Chúng đánh thẳng vào trong lòng chủ nghĩa xã hội, thực hiện âm mưu “tự diễn biến” hòng tạo ra sự mất ổn định từ bên trong, trước hết về chính trị ngay từ nội bộ Đảng cộng sản. Đây là cuộc đấu tranh hết sức gay go và hức tạ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, là cuộc đấu tranh không hân tuyến, kẻ thù vừa trực diện vừa giấu mặt, vừa công khai vừa bí mật, nó len lỏi vào mọi lực lượng, mọi lĩnh vực, ở mọi lúc mọi nơi đối với cả con người và tổ chức, kết hợ cả lực lượng bên trong và lực lượng bên ngoài. Chính kẻ thù chỉ ra rằng: “Diễn biến hòa bình” có ưu điểm hơn hẳn thủ đoạn và hương thức tiến hành chiến tranh ở chỗ nó không khêu gợi tinh thần cảnh giác của đối hương mà nhiều khi còn ru ngủ tinh thần đấu tranh của đối hương. Theo họ, điều kiện cần thiết để thực hiện “Diễn biến hòa bình” là mở rộng tiế xúc, giao lưu giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Những cơ sở thúc đẩy chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để chống há chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược xuyên suốt, nhất quán của chủ nghĩa đế quốc là tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, bắt các nước xã hội chủ nghĩa hải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa của chủ nghĩa đế quốc. Khôi hục một thế giới thống nhất tư bản chủ nghĩa theo một trật tự của chủ nghĩa tư bản. Đó là bản chất không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc. Kể từ khi nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1917 và hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay, từng giây từng hút chủ nghĩa đế quốc chưa bao giờ lơi lỏng mục tiêu đó. “Diễn biến hòa bình” lúc đầu chỉ đóng vai trò thủ đoạn để hỗ trợ các chiến lược quân sự, đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX đã trở thành một chiến lược quân sự và đến giữa thậ kỷ 80, do tình hình thế giới có những biến động hức tạ, có lợi cho chủ nghĩa đế quốc, chúng đã đẩy mạnh và thực thi toàn diện “Diễn biến hòa bình”chống há chủ nghĩa xã hội.
Trong một thời gian dài, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành nhiều chiến lược quân sự gây chiến tranh chống há chủ nghĩa xã hội, nhưng đều thất bại. Việc chủ nghĩa đế quốc thực hiện ráo riết hơn “Diễn biến hòa bình” chính là nhằm khắc hục sự hạn chế của các thủ đoạn quân sự, che đậy bản chất xâm lược của chúng. Họ hy vọng rằng đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình” làm “ruỗng nát” chủ nghĩa xã hội từ bên trong mà đòn tác động tư tưởng tâm lý tạo nên sự chuyển hóa về lậ trường chính trị là đòn trọng yếu nguy hiểm nhất tạo nên sức “hủy diệt” từ bên trong, đẩy đối hương đến suy yếu toàn diện, rối loạn nội bộ và sụ đổ nhanh hơn.
Mặt khác trong vài thậ kỷ gần đây, chủ nghĩa tư bản đã ứng dụng thành công nhiều thành tựu khoa học và công nghệ vào lĩnh vực sản xuất, tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn. Trong khi đó các nước xã hội chủ nghĩa có những khó khăn nhất định. Đây là cơ hội để chúng sử dụng đòn kinh tế tiến công chủ nghĩa xã hội: Viện trợ kinh tế kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản nhằm làm vật mồi chài để xâm nhậ, khống chế, nhượng bộ về chính trị, tiến tới can thiệ vào công việc nội bộ và lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Họ xác định những khó khăn về kinh tế  xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa là thời cơ có lợi để sử dụng đòn kinh tế trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Lợi dụng xu thế hòa dịu trên thế giới và những sai lầm khuyết điểm trong cải cách,cải tổ của các nước xã hội chủ nghĩa để thực hiện ráo riết hơn “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống chủ nghĩa xã hội. Cuối 1987 thế giới xuất hiện xu thế hòa hoãn, hòa dịu và đối thoại, đây là cơ hội cho sự xâm nhậ của hương Tây vào các nước xã hội chủ nghĩa bằng các thủ đoạn hi quân sự. Mặt khác, bước vào những năm 1980, các nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện cải cách, cải tổ nhằm giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra cho hù hợ với quy luật khách quan. Cải cách, cải tổ là công việc đầy khó khăn hức tạ trên các bình diện xã hội, do đó không tránh khỏi những sai lầm vấ vá. Đây chính là cơ hội ngàn vàng cho chủ nghĩa đế quốc luồn lách, chui sâu, leo cao thực thi toàn diện “Diễn biến hòa bình”, kết hợ nội công, ngoại kích để triệt há chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình” diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới, trong đó Việt Nam là trọng điểm, trước hết chúng ra sức há hoại về mặt chính trị tư tưởng. Mục tiêu “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, chúng há hoại làm cho Đảng cộng sản suy yếu mọi mặt, chia rẽ nội bộ Đảng, làm cho quần chúng xa rời Đảng, mất hương hướng, rời xa chủ nghĩa xã hội, theo con đường chủ nghĩa tư bản. Đồng thời các thế lực thù địch tìm mọi cách vô hiệu hoá lực lượng vũ trang, tách sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với Quân đội.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

NHẬN THỨC CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN CÙNG TỒN TẠI, VỪA HỢP TÁC, VỪA ĐẤU TRANH

Thế giới hiện nay là thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; là cả một không gian mở, đan xen lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau. Một khi khủng hoảng kinh tế ở một khu vực hoặc một nước lớn sẽ kéo theo khủng hoảng toàn cầu; một khi giá dầu mỏ lên xuống thất thường và đột biến đủ làm cho kinh tế thế giới bị ảnh hưởng…

Như vậy, cùng với việc đổi mới nhận thức của toàn nhân loại, đặc biệt là của giới lãnh đạo các nước về trách nhiệm chung đối với sự phát triển thế giới, những nhân tố khách quan nêu trên vừa thúc đẩy, đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho việc cùng tồn tại và hợp tác cùng phát triển đối với tất cả các nước.

Trong khi nhận thức rõ sự hợp tác giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay là khá toàn diện, thì không thể quên rằng giữa hai chiều hướng phát triển này vẫn chứa đựng những mâu thuẫn vốn có.

Các thế lực hiếu chiến và thù địch chưa bao giờ từ bỏ dã tâm muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội. “Diễn biến hòa bình” là một trong những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu đó. Đây là cuộc chiến tranh không khói súng nhưng thực sự là kế sách nham hiểm phá vỡ thành lũy của chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN, cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không kém phần gay gắt, quyết liệt và phức tạp.

Bởi vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và hợp tác, giao lưu với các nước tư bản, các nước XHCN phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng XHCN, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu, lý tưởng của mình.

Từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lênin.

Thứ Ba, 14 tháng 9, 2021

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN KHÔNG PHẢI LÀ XÃ HỘI TỐT ĐẸP NHƯ MỌI NGƯỜI LẦM TƯỞNG!

Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa tư bản liên tục có sự điều chỉnh để thích nghi với bối cảnh mới và đã đạt được nhiều thành công để tiếp tục tồn tại; mặc dù vậy, vẫn không thể khắc phục được những ung nhọt và những căn bệnh cố hữu của nó. Bredinxky, người Mỹ gốc Ba Lan, nguyên là cố vấn an ninh thời Tổng thống Mỹ Catơ, đã xuất bản cuốn sách “Ngoài vòng kiểm soát, sự nổi loạn toàn cầu bên thềm thế kỷ XXI”. Đây là cuốn sách đưa ra nhiều luận cứ cho các chiến lược của Mỹ. Dù đã cố tô vẽ cho bộ áo cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản Mỹ, nhưng chính Bredinxky phải thừa nhận 20 vấn đề nan giải của xã hội Mỹ. Trong đó nổi lên là: nợ nần; chăm sóc y tế không đầy đủ; giáo dục trung học chất lượng kém; một giai cấp giàu có tham lam; vấn đề chủng tộc và nghèo đói ngày càng sâu sắc; tội ác và bạo lực tràn lan; sự truyền bá ồ ạt về đồi trụy tinh thần bằng phương tiện nghe nhìn, v.v.

Cho dù chủ nghĩa tư bản ngày nay đã có sự điều chỉnh nhất định trong những hình thức quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối nhưng vẫn không thể khắc phục được mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Biểu hiện cụ thể:

Thứ nhất, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động. Sự phân cực giàu nghèo và tình trạng bất công xã hội tăng lên, chứng tỏ bản chất bóc lột giá trị thặng dư vẫn tồn tại, dù được biểu hiện dưới những hình thức tinh vi hơn. Cả sự bần cùng hóa tuyệt đối lẫn tương đối của giai cấp công nhân vẫn đang tồn tại. Trong xã hội tư bản ngày nay, sự bất bình đẳng và các tệ nạn xã hội vẫn tồn tại một cách phổ biến; sự suy đồi về xã hội, văn hóa và đạo đức ngày càng trầm trọng. Tệ phân biệt chủng tộc, tình trạng bất công đã làm tăng các tệ nạn xã hội và trở thành một thách thức gay gắt. Tội ác và bạo lực tràn lan. Ngày nay, trong xã hội tư bản, sự tha hóa không chỉ diễn ra trong lao động mà còn diễn ra trong mọi mặt của đời sống xã hội. Không những môi trường tự nhiên mà cả môi trường xã hội cũng bị ô nhiễm và hủy hoại. Đời sống văn hóa và đạo đức của xã hội tư bản xuống cấp nghiêm trọng.

Thứ hai, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc. Ngày nay, mâu thuẫn này đang chuyển thành mâu thuẫn giữa các nước chậm phát triển bị lệ thuộc với những nước đế quốc.

Thứ ba, mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau, chủ yếu là giữa ba trung tâm kinh tế, chính trị hàng đầu của thế giới tư bản (Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu), giữa các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia.

Thứ tư, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Mâu thuẫn này vẫn tồn tại một cách khách quan, xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Trên thực tế, mâu thuẫn này biểu hiện trong mưu đồ của các thế lực đế quốc, lợi dụng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở một số nước để đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt bằng mọi thủ đoạn (không loại trừ sự can thiệp bằng quân sự) nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Nhưng do điều kiện quốc tế đã có những thay đổi: giữa một số nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đã thiết lập quan hệ chính thức về mặt nhà nước, có quan hệ vừa hợp tác vừa đấu tranh về nhiều mặt, do vậy mâu thuẫn này ngày nay biểu hiện chủ yếu bằng “diễn biến hòa bình” và chống “diễn biến hòa bình”. Tuy hình thức biểu hiện có khác trước, nhưng đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn là cuộc đấu tranh rất quyết liệt.

Thực tế thời gian qua, một số nước Đông Âu và ở Liên Xô sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa tan rã đã đi theo con đường chủ nghĩa tư bản nhưng đã qua 30 năm mà không hề giàu có, ngược lại đã vấp phải những khó khăn chồng chất về kinh tế - xã hội và nhiều người đã nuối tiếc những năm tháng trước đây, khi còn hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Để hiểu rõ hơn vì sao chúng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xin trích dẫn những luận cứ đầy sức thuyết phục của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một ít cá nhân và phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”. Đồng thời, khẳng định “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam”.

ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG ĐẮN MÀ ĐẢNG VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÃ LỰA CHỌN

Nhân loại đã chứng kiến trong thế kỷ XIX - XX, chủ nghĩa tư bản đã tỏa vòi đi khắp các châu lục để vừa “hút máu” nhân dân lao động ở chính quốc, vừa hút máu nhân dân lao động ở các nước thuộc địa. Nhân dân Việt Nam đã trải qua những khổ đau, cơ cực dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc nên thấy hết bản chất của chủ nghĩa tư bản. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại. Chưa bao giờ như lúc bấy giờ, công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam ở trong tình hình đen tối, không có đường ra.

Nhưng rồi lịch sử đã có lời giải đáp. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã là người gieo hạt, gây mầm và tạo dựng cách mạng Việt Nam. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy ánh sáng soi đường trong Luận cương của V.I. Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên khắp thế giới khỏi ách nô lệ”. Với kỳ công của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hóa thành một sự kiện trọng đại: ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Vừa ra đời, Đảng ta tuyên bố: “Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Lời tuyên bố ấy đồng nghĩa với việc bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa; chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình, là con đường mà dân tộc Việt Nam đã và đang đi theo dòng thời đại.

Sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về logíc là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử, hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế của thời đại; xét về nhu cầu, hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản lớn nhất quyết định sự phát triển của đất nước hôm nay và mai sau. Vì thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”; “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2021

THẾ GIỚI LUÔN THAY ĐỔI NHƯNG NỘI DUNG THỜI ĐẠI KHÔNG THAY ĐỔI

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, CNXH ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười cũng chấm hết.

Đây đúng là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng, thành quả mà Cách mạng Tháng Mười đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó quyết không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười. Lịch sử đã tỏ rõ, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội TBCN đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Hà Lan, Anh, Pháp... thì hình thái kinh tế-xã hội TBCN mới thực sự thắng thế trước hình thái kinh tế-xã hội phong kiến.

Sự phát triển của xã hội loài người từ sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười không chỉ là ngọn đèn pha tỏa sáng dẫn đường, mà còn có những đóng góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của CNTB. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười làm cho CNTB bị đổ vỡ một mảnh lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới với sự hình thành và phát triển của CNXH làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của CNTB, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của CNTB. CNTB không thể sống tự nó nữa mà đã phải cố gắng vì sự tồn tại của nó. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội... ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều do kết quả đấu tranh của những người lao động để giành quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và sâu xa hơn là được ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định rằng, mặc dù tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới có nhiều thay đổi, có khi là thay đổi khôn lường, nhưng bản chất của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động, nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức.

SỰ THAY THẾ MỘT THỜI ĐẠI NÀY BẰNG THỜI ĐẠI KHÁC KHÔNG THỂ DIỄN RA NHANH CHÓNG ĐƯỢC

Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH, thì nay CNXH sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của CNTB; rằng CNXH và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận của họ rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và rất thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được, mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước tụt lùi. Sự đổ vỡ của mô hình XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản trên thế giới. Ai cũng biết rằng, sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa (TBCN) thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp, bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

KHÔNG MƠ HỒ VỀ BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, giá trị thặng dư được tạo ra ngày càng nhiều hơn cho nhà tư bản. Vai trò, vị trí của giai cấp công nhân, người lao động mặc dù được đề cao và đời sống của họ cũng được cải thiện nhiều mặt; song, xét về địa vị, họ vẫn là những người lao động làm thuê, phục vụ mục đích làm gia tăng giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên sâu sắc. Trước thực tiễn đó, bản thân chủ nghĩa tư bản, dù ở phương Đông hay phương Tây, đều phải điều chỉnh để thích nghi và tồn tại. Và dù cón những điều chỉnh, thích nghi nhưng bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện đại không hề thay đổi.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

KHỦNG HOẢNG LUÔN LÀ BẠN ĐỒNG HÀNH CỦA KINH TẾ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

Bất kỳ khủng hoảng nào cũng chỉ xuất hiện khi bị mất thăng bằng, bị mất cân đối giữa những phần cấu thành sự thống nhất. Trong phạm trù kinh tế thì khủng hoảng xuất hiện khi thăng bằng giữa cầu và cung của hàng hóa hoặc dịch vụ  bị mất. Có bao nhiêu lý thuyết về kinh tế, thì có bấy nhiêu loại khủng hoảng kinh tế. Và gần như tất cả các lý thuyết đều nói là không thể tránh khỏi khủng hoảng kinh tế được. Nó là một phần của hệ thống kinh tế và sẽ chỉ biến mất khi chúng ta xóa bỏ luật lệ kinh tế theo kiểu mẫu thị trường và kế hoạch.

Trường phái tự do chủ nghĩa khẳng định rằng kinh tế có tính chất chu trình, có thời kỳ phát triển và đổ vỡ, bởi vì nhu cầu tiêu dùng và đầu tư có dạng sóng. Còn chủ nghĩa Mác khẳng định rằng khủng hoảng tài chính là thuộc tính cần thiết của chủ nghĩa tư bản, vì mục tiêu chính trong hệ thống của chủ nghĩa tư bản đã khởi sự là phải thu lợi nhuận. Mô tả dưới dạng sơ đồ thì nó thể hiện câu chuyện như sau: mức độ sản xuất hàng hóa tăng lên và vượt nhu cầu tương ứng khả năng thanh toán thực tế, dẫn tới chuyện phải cho vay tiền để mua hàng hóa với mục tiêu tăng cầu. Nợ nần dần dần tích lũy, tiền-hàng hóa không cho vay được nữa và sự sản xuất rút ngắn lại vì không cần thiết. Bắt đầu quá trình sa thải nhân viên - công nhân với quy mô lớn, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, mức độ sung túc trong cuộc sống và sinh hoạt sụt giảm.

 Chu kỳ như thế này của hệ thống kinh tế chủ nghĩa tư bản là định lý. Những thời kỳ phát triển mạnh mẽ và suy sụp chuyền từ tay nọ sang tay kia. Các nhà bác học đã cố gắng tìm hiểu lý do của những khủng hoảng từ lâu, nhưng chưa có kết quả. Mỗi trường hợp là một câu chuyện khác nhau. “Theo bản chất của vòng tuần hoàn công nghiệp, thì một khi vòng tuần hoàn đã được người ta phát động, tất nhiên nó sẽ được tiếp tục cứ lặp đi lặp lại mãi theo chu kỳ. Ở thời kỳ tiêu điều, sản xuất giảm xuống đến mức mà nó đã đạt được trong vòng tuần hoàn trước, và đó lại là một nền sản xuất mà bây giờ người ta đã có một cơ sở kỹ thuật đích đáng. Trong thời phồn vinh – tức là thời kỳ trung gian – nền sản xuất tiếp tục phát triển trên cơ sở đó. Trong thời kỳ sản xuất quá thừa và đầu cơ, việc sản xuất đã huy động các lực lượng sản xuất đến mức tối đa, đến mức vượt ra khỏi các giới hạn tư bản chủ nghĩa của quá trình sản xuất”.

Như vậy, các cuộc khủng hoảng đều diễn ra theo một trình tự đại thể như nhau, cho dù lĩnh vực và quốc gia hứng chịu đầu tiên, mức độ mạnh yếu, phạm vi lan tỏa, độ dài thời gian có thể khác nhau. Tóm lại, khủng hoảng kinh tế lặp đi lặp lại như một quy luật khách quan, vận hành theo một cơ chế đại thể như nhau với một số khác biệt tùy theo bối cảnh từng nước và từng thời kỳ. Cái khác căn bản là ngày nay, dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, tính tùy thuộc giữa các quốc gia quá chặt chẽ, đứng trước hiểm họa chung các nước đều phải cụm lại đối phó. Do đó, khủng hoảng đỡ nghiêm trọng hơn và không đưa tới chiến tranh thế giới.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG KHÔNG PHẢI “HÀNG ĐỘC QUYỀN” CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

Trong quá trình đóng góp cho văn kiện Đại hội XIII của Đảng, vấn đề xây dựng kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) giành được nhiều sự quan tâm. Các thế lực thù địch, chống phá Việt Nam và một số cá nhân có quan điểm sai trái cho rằng, KTTT là của chủ nghĩa tư bản (CNTB), vì thế không thể kết hợp KTTT với định hướng XHCN.

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

QUAN ĐIỂM CỦA C. MÁC VÀ PH. ĂNGGHEN VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội có những đặc điểm cơ bản sau:
- Xã hội thời kỳ quá độ: xã hội vừa thoát thai từ xã hội TBCN, còn mang nặng dấu ấn của xã hội cũ.
          - Thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Tương ứng với thời kỳ quá độ về kinh tế - xã hội là TKQĐ về chính trị. Nhà nước của giai đoạn này là nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.
          - Thời kỳ quá độ là thời kỳ “sinh đẻ” lâu dài và “đau đớn”.
          - Thời kỳ quá độ bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, liên tục và các điều kiện biến đổi không ngừng.
          - Đặc điểm bao trùm: xã hội quá độ, bao gồm trong đó sự hiện diện những dấu vết, những bộ phận của xã hội cũ (TBCN) ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đồng thời xuất hiện và hình thành những nhân tố mới của xã hội mới.

QUAN NIỆM VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Thời kỳ quá độ là thời kỳ chuyển biến từ xã hội cũ sang xã hội mới- từ xã hội tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội loài người đã và sẽ tuần tự trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, trong đó hình thái kinh tế - xã hội CSCN là hình thái cuối cùng,tiến bộ nhất trong lịch sử loài người. Sự chuyển tiếp giữa các hình thái kinh tế - xã hội chính là thời kỳ quá độ. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện, từ xã hội cũ sang xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Nó diễn ra từ khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tay vào việc xây dựng xã hội mới và kết thúc khi xây dựng thành công các cơ sở của xã hội xã hội chủ nghĩa về vật chất - kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, tư tưởng. Nói cách khác, kết thúc thời kỳ quá độ khi đã xây dựng xong cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả cơ sở kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

VÌ SAO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN Ở MỸ, ĐỨC ĐANG ĐI VÀO NGÕ CỤT?

Người dân lao động một mặt là bán sức lao động cho các ông chủ, mặt khác cũng là khách hàng của chính các ông chủ ấy. Khách hàng thu nhập càng nhiều, họ chi tiêu càng lắm, các ông chủ sẽ càng có nhiều lợi nhuận.
Trong suốt gần 3 thập niên qua, nhất là kể từ khi khối CNXH ở đông Âu sụp đổ, thu nhập của giới lao động ngày càng giảm. Trong khi nền kinh tế phát triển thì người hưởng lợi duy nhất vẫn chỉ là các ông chủ vốn đã giàu lại càng giàu hơn. Lương hưu, tiền hỗ trợ cho người thu nhập thấp cũng như tiền lương trong hầu hết các ngành nghề tính theo sức mua đều bị giảm một cách đáng kể. Điều đó có nghĩa rằng khách hàng hoặc sẽ phải giảm chi tiêu, hoặc phải chọn mua hàng giá rẻ. Rốt cuộc các ông chủ tiếp tục phải tăng giá bán, giảm giá thành, trong đó giảm lương người lao động để có thể tiếp tục có nhiều lợi nhuận. Từ các lý do đó, ngân sách nhà nước ngày càng hao hụt, nguồn thu không có, nguồn chi cần thiết vẫn vậy và vay nợ là điều tất yếu để có thể trang trải.
Cái vòng luẩn quẩn đã khiến cho các nước lao vào các cuộc khủng hoảng nợ công không còn lối thoát mà chẳng có chính trị gia nào có thể giải quyết được trong vòng ít nhất 30 năm tới đây.
Tuy nhiên có thể bạn từng đọc qua rằng, vay nợ tức là sống bằng mồ hôi công sức của thế hệ sau, đó là quan điểm sai lầm. Nợ của người này thực ra là tài sản của người kia. Nếu không có việc vay nợ thì kẻ có tiền sẽ chẳng bao giờ làm ra được thêm tiền và cũng sẽ chẳng ai giàu lên được nhờ cho vay nợ. Thế nhưng những kẻ vay nợ họ sẽ phải để lại khoản nợ ấy cho thế hệ sau của họ thừa kế và những kẻ cho vay nợ thì thế hệ sau của họ vẫn là các ông chủ nợ, vai trò không hề thay đổi.

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

BẢN CHẤT CHỦ NGHĨA TƯ BẢN VÀ NHỮNG ĐIỀU CHỈNH, THÍCH NGHI MỚI CỦA NÓ

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản tác phẩm mở đầu chủ nghĩa xã hội khoa học, Mác và Ăngghen đã nhận định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”. Gần 170 năm đã trôi qua, thế giới đã có những biến đổi to lớn, chủ nghĩa tư bản cũng có nhiều bước phát triển hiện hình với vóc dáng mới của nó, liệu điều tiên đoán trên đây của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lênin có trở thành sự thật hay không? Và chúng ta có nhận thức như thế nào về quan điểm cho rằng hiện nay chủ nghĩa tư bản đã có sự điều chỉnh, thích nghi, thay đổi về bản chất, là con đường duy nhất để phát triển xã hội loài người mà các học giả tư sản và phần tử cơ hội, biến chất đang hết sức tung hô.
Thứ nhất, những biến đổi từ tình hình thế giới, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa đã đặt ra những yêu cầu mới đòi hỏi chủ nghĩa tư bản hiện đại phải có những điều chỉnh thích nghi phù hợp, nếu muốn tồn tại và phát triển. Thực tế, những cải cách về quan hệ phân phối, quan hệ quản lý và ở một mức độ nhỏ của quan hệ sở hữu mà giới chủ tư bản đã và đang thực hiện có tạo ra những thay đổi ở trong xã hội các nước nước tư bản, khiến cho đời sống của nhân dân, người lao động của các nước này được nâng cao hơn. Nhưng về bản chất không hề thay đổi địa vị của người lao động trong quá trình sản xuất, dù có trở thành những quản đốc, giám đốc… của các nhà máy và xí nghiệp tư bản, họ vẫn chỉ là những người làm thuê, bị bóc lột sức lao động bằng máy móc và sẵn sàng bị sa thải nếu không đáp ứng được những yêu cầu ngày càng khắt khe của ông chủ tư bản, nên đời sống họ luôn bấp bênh.
Thứ hai, chủ nghĩa tư bản hiện nay tuy đã có những điều chỉnh, thích nghi mới, nên vẫn còn tiềm năng phát triển. Nhưng về bản chất đó vẫn là chế độ bóc lột, bởi những cải cách của nó không hề đụng chạm tới quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, mầm mống của bất công trong xã hội. Vì vậy, mâu thuẫn nội tại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không những không bị triệt tiêu, mà có mặt còn trở nên trầm trọng nhiều hơn nữa. Biểu hiện là các cuộc biểu tình, bãi công thu hút ngàn ngàn người tham gia thuộc mọi tầng lớp xã hội đã và vẫn đang diễn ra phổ biến ở hầu hết các nước tư bản phát triển. Tiềm năng phát triển của chủ nghĩa tư bản vẫn không thể kéo nó ra khỏi vòng xoáy của các chu kỳ khủng hoảng kinh tế - tài chính của bản thân nó vốn đã diễn ra từ thời Mác và ngày càng có xu hướng tăng lên nhanh chóng.
Thứ ba, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước thụt lùi lớn của lịch sử loài người. Nhưng không thể vội vàng kết luận chủ nghĩa tư bản đã giành chiến thắng, là con đường duy nhất để nhân loại tiến lên. Thực tế cho thấy, hiện nay chủ nghĩa tư bản vẫn chìm đắm trong các mâu thuẫn, khủng hoảng trầm trọng không thể cứu vãn, những cuộc chiến tranh, xung đột quân sự, dân tộc, giai cấp, khủng bố, tranh chấp… phản ánh mâu thuẫn lợi ích căn bản giữa các tập đoàn người mà chủ nghĩa tư bản không thể điều hòa được. Trong khi đó, từ những bài học thành công và thất bại, chủ nghĩa xã hội đang có những bước phục hồi và phát triển mạnh mẽ, Việt Nam, Trung Quốc,… đang trở thành những tấm gương sáng cho các nước noi theo. Sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu chỉ phản ánh bước quanh co, thăng trầm của lịch sử, là sự đổ vỡ của một trong những cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó, con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn còn đó, là một trong những xu hướng tích cực của nhân loại như Đảng ta đã khẳng định: Theo quy luật tiến hóa của lịch sử loài người nhất định sẽ tiến chủ nghĩa xã hội.

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

Phê phán quan điểm: Việt Nam đi theo chủ nghĩa tư bản mới giàu có và phù hợp với xu thế của thời đại


Trong thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến sự ra đời, tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Mặc dù gặp phải sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, song chủ nghĩa xã hội hiện thực đã vượt lên trên những khó khăn, thử thách và đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực; đồng thời đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển của lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đã làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào khủng hoảng và tạm thời thoái trào; song những thành tựu mà chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đạt được trên thực tế là không thể phủ nhận.
Kể từ đó đến nay, chủ nghĩa xã hội hiện thực luôn bị các thế lực thù địch, phản động và chủ nghĩa cơ hội - xét lại ra sức công kích, xuyên tạc. Đáng chú ý là không chỉ các lực lượng đối lập mà ngay trong hàng ngũ những người cộng sản cũng có không ít người muốn phủ định học thuyết Mác-Lênin trên các vấn đề thời đại hiện nay, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ... Những biến cố to lớn của lịch sử cũn đã tác động đến tiến trình cách mạng Việt Nam, làm cho một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên bi quan, giao động và cho rằng: “Đi theo chủ nghĩa tư bản, Việt Nam mới giàu có và phù hợp với xu thế của thời đại”. Vậy, đây là một cách nhìn thực tế, hay chỉ là sự mơ hồ, thiển cận về lý luận và ảo tưởng trước những hào nhoáng bên ngoài của chủ nghĩa tư bản hiện đại?
Để không rơi vào trạng thái mập mờ, bấp bênh về tư tưởng, lý luận và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm phản động, sai trái của các thế lực thù địch về các vấn đề trên, cần phải nắm vững một số nội dung cơ bản là: Phải luôn nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu trong hơn 30 năm đổi mới đã khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn.
Việc giành cho được độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” luôn là khát vọng và hành động cách mạng của mọi người dân Việt Nam trong nhiều thế kỷ qua. Kể từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng đến nay, những khát vọng ấy đã từng bước được hiện thực hóa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, với thái độ khách quan, nhìn thẳng vào thực tế, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, trong xã hội hiện nay còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, hối lộ, làm giàu bất chính, thu vén cho gia đình, dòng họ, địa phương, bạn bè thân hữu… Trong khi đó, đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nếu không khắc phục kịp thời những vấn đề trên thì tất yếu sẽ dẫn đến nhiều cái nhìn lệch lạc, tiêu cực, thiếu thiện chí về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

VIỆT NAM ĐI THEO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN CÓ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI HIỆN NAY?

Trước sự điều chỉnh, thích nghi của chủ nghĩa tư bản, hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng Việt Nam nên lựa chọn con đường đi theo chủ nghĩa tư bản mới giàu có và phù hợp với xu thế của thời đại, điều này có đúng không? Chúng ta cùng phân tích những vấn đề cơ bản sau, sẽ có câu trả lời thỏa đáng.
Chúng ta phải công nhận trước sự đấu tranh của các lực lượng tiến bộ, trước xu thế của thời đại, trước cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chủ nghĩa tư bản đã buộc phải điều chỉnh cho phù hợp và họ đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận. Do có ưu thế về vốn, do sử dụng có hiệu quả các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, do có kinh nghiệm trong quản lý sản xuất và kinh doanh nên đã làm cho của cải của chủ nghĩa tư bản được nhân lên gấp bội trong một thời gian ngắn.
Tuy nhiên nhìn một cách thấu đáo thì ai cũng có thể thấy chủ nghĩa tư bản do nắm giữ những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội nên sự giàu có luôn thuộc về thiểu số giai cấp tư sản, còn đại đa số công nhân và nhân dân lao động thì luôn bị đẩy vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói và ngày càng bị bần cùng hóa. Bên cạnh đó không phải cứ tất cả các nươc tư bản đều giàu có mà điều này chỉ đúng với một số nước (G7), một số nước thì ở nhóm các nước trung bình, phần còn lại của thế giới tư bản đều ở nhóm đang, chậm và kém phát triển. Điều này chứng minh rằng không phải cứ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì sẽ giàu có. Một điều nữa mà mọi người đều thừa nhận đó là chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc luôn là bạn đường của chiến tranh, tất cả các cuộc chiến tranh, các cuộc xung đột đã và đang xảy ra trên thế giới đề do bàn tay của chủ nghĩa đế quốc nhúng vào. Vậy đi theo chủ nghĩa tư bản có thật sự tốt đẹp? Điều này không cần trả lời thì mọi người trên thế giới đều hiểu rõ. Vậy mà hiện nay một số kẻ lại vờ như không nghe, không biết, không hiểu gì về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, vẫn hô hào, cổ xúy ủng hộ cho các quan điểm phản động và mong muốn cho Việt Nam đi theo con đường đầy bùn nhơ và tội lỗi đó.
Từ những phân tích ở trên có thể khẳng định rằng Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ ghĩa xã hội là đúng, là hợp quy luật, phù hợp lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn xu thế thời đại. Việt Nam không thể đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, nếu đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì sẽ không có được nền độc lập, tự do thực sự và cũng không thể đem lại sự giàu có cho mọi người dân trong xã hội./.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2018

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM: VIỆT NAM ĐI THEO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN MỚI GIÀU CÓ VÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI

Trong thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến sự ra đời, tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Mặc dù gặp phải sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, song chủ nghĩa xã hội hiện thực đã vượt lên trên những khó khăn, thử thách và đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực; đồng thời đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển của lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đã làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào khủng hoảng và tạm thời thoái trào; song những thành tựu mà chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đạt được trên thực tế là không thể phủ nhận.
Kể từ đó đến nay, chủ nghĩa xã hội hiện thực luôn bị các thế lực thù địch, phản động và chủ nghĩa cơ hội - xét lại ra sức công kích, xuyên tạc. Đáng chú ý là không chỉ các lực lượng đối lập mà ngay trong hàng ngũ những người cộng sản cũng có không ít người muốn phủ định học thuyết Mác-Lênin trên các vấn đề thời đại hiện nay, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ... Những biến cố to lớn của lịch sử cũng đã tác động đến tiến trình cách mạng Việt Nam, làm cho một số người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên bi quan, giao động và cho rằng: “Đi theo chủ nghĩa tư bản, Việt Nam mới giàu có và phù hợp với xu thế của thời đại”. Vậy, đây là một cách nhìn thực tế, hay chỉ là sự mơ hồ, thiển cận về lý luận và ảo tưởng trước những hào nhoáng bên ngoài của chủ nghĩa tư bản hiện đại?
Để không rơi vào trạng thái mập mờ, bấp bênh về tư tưởng, lý luận và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm phản động, sai trái của các thế lực thù địch về các vấn đề trên, cần phải nắm vững một số nội dung cơ bản là: Phải luôn nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu trong hơn 30 năm đổi mới đã khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn.
Việc giành cho được độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” luôn là khát vọng và hành động cách mạng của mọi người dân Việt Nam trong nhiều thế kỷ qua. Kể từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng đến nay, những khát vọng ấy đã từng bước được hiện thực hóa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, với thái độ khách quan, nhìn thẳng vào thực tế, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, trong xã hội hiện nay còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, hối lộ, làm giàu bất chính, thu vén cho gia đình, dòng họ, địa phương, bạn bè thân hữu… Trong khi đó, đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nếu không khắc phục kịp thời những vấn đề trên thì tất yếu sẽ dẫn đến nhiều cái nhìn lệch lạc, tiêu cực, thiếu thiện chí về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

Tư tưởng V.I.Lênin về học tập và sử dụng những giá trị của chủ nghĩa tư bản


Trong lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin rất quan tâm đến vấn đề học tập và sử dụng những giá trị của chủ nghĩa tư bản.  Những tư tưởng của V.I.Lênin về xung quanh nội dung này không chỉ có giá trị lịch sử, mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Vào đầu năm 1921, địa vị quốc tế của đất nước Xô Viết được củng cố, một thế cân bằng lực lượng được xác lập, tuy còn “tạm thời, không ổn định, nhưng dù sao vẫn là một thế cân bằng”. Tuy nhiên, nhà nước Xô Viết đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Do bốn năm chiến tranh đế quốc, ba năm nội chiến và can thiệp quân sự của nước ngoài, nền kinh tế quốc dân bị suy sụp. Đứng trước vô vàn khó khăn, nhiệm vụ chính trị cơ bản, quan trọng và thiết yếu nhất lúc ấy của chính quyền Xô Viết chính là xây dựng, phát triển nền kinh tế. V.I.Lênin đã nói: Phải học tập và sử dụng những giá trị của chủ nghĩa tư bản; kiên quyết phản đối việc “đem chủ nghĩa tư bản đối lập một cách trừu tượng với chủ nghĩa xã hội”. Theo V.I.Lênin: “lùi một bước” và “thỏa hiệp” bằng việc thu phục và trả lương cao chuyên gia tư sản là giải pháp tốt nhất xúc tiến chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin cho rằng, không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm tổ chức quản lý, thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được.
V.I. Lê-nin từng xem việc chuyển từ trấn áp sang sử dụng những chuyên gia tư sản là một thành tựu quan trọng nhất mà Đảng và Chính quyền Xô-viết đã đạt được trong những năm đầu xây dựng đất nước. Phê phán lập luận của “những người cộng sản cánh tả” cho là có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không cần sử dụng các chuyên gia tư sản, V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Cần phải đặt vấn đề chuyên gia một cách rộng rãi hơn nữa. Chúng ta phải sử dụng họ trong mọi lĩnh vực xây dựng mà chúng ta không thể bảo đảm thắng lợi được với những khả năng của bản thân chúng ta, vì chúng ta không có kinh nghiệm, cũng không có trình độ khoa học của những chuyên gia tư sản”.
Sử dụng các chuyên gia tư sản là một việc cần thiết, song việc cần thiết hơn là phải biết sử dụng họ như thế nào. Về điều này, V.I. Lê-nin đã nhắc nhở: “ Cần phải giao công việc cho họ, nhưng cũng phải theo dõi họ chặt chẽ, đặt họ dưới quyền các chính uỷ, ngăn chặn các ý đồ phản cách mạng của họ. Đồng thời cần phải học tập họ. Với tất cả những điều đó, và không mảy may nhượng bộ các ngài đó về chính trị, chúng ta sử dụng lao động của họ ở khắp mọi nơi có thể sử dụng được”[1].
          Việc “chuyển trọng tâm cách mạng sang lĩnh vực phát triển văn hóa” là một bước tiến có ý thức và tính chất hiện thực để đi tới chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nhấn mạnh, những người cộng sản phải học khoa học và công nghệ, cách tổ chức lãnh đạo, quản lý xã hội, giáo dục và đào tạo, cách làm ăn buôn bán… phải biết tiếp thu tất cả những gì quý giá nhất của nhân loại. Chủ nghĩa xã hội có thể thực hiện được hay không là “tùy ở kết quả của chúng ta có kết hợp được chính quyền Xô viết với những tiến bộ mới nhất của chủ nghĩa tư bản”. V.I.Lênin chủ trương: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt đẹp của nước ngoài: Chính quyền Xô viết + trật tự nước Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơ rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ, etc… = chủ nghĩa xã hội”[2].




[1] V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977,V.I. Lê-nin: Sđd, t. 38, tr. 7-8
[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 36, tr.684

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

THỰC CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI

Chủ nghĩa tư bản là thủ phạm gây ra hai cuộc chiến tranh thế giới với hàng triệu người bị thiệt mạng; là kẻ ném bom nguyên tử xuống dân lành Nhật Bản; là kẻ xúi giục hoặc trực tiếp gây ra hàng trăm cuộc chiến tranh lớn nhỏ công khai hoặc che đậy trên khắp hành tinh; là kẻ thường áp đặt những thủ đoạn trả thù nhỏ nhen như cấm vận, bao vây kinh tế đối với các nước không vừa ý. Sự sụp đổ về kinh tế và chính trị ở Đông Âu và Liên Xô đều có bàn tay độc ác của chủ nghĩa tư bản. Vì sao chiến tranh lạnh đã chấm dứt mà thế giới vẫn tiếp tục biến động, xáo trộn, mất ổn định và căng thẳng như hiện nay? Rõ ràng đó là vì vẫn còn chủ nghĩa tư bản với các chính sách gây chiến, can thiệp và áp đặt nói trên.
Chủ nghĩa tư bản đã và đang bóp méo nền văn minh nhân loại bằng chế độ dân chủ chủ yếu cho người giàu, bằng chế độ phân biệt chủng tộc, bằng việc nuôi dưỡng các tệ nạn ma túy, tham nhũng, làm kiệt quệ tài nguyên, hủy hoại môi trường sống vì lợi nhuận tối đa.
Chủ nghĩa tư bản dù là chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn tiếp tục gây đau khổ cho nhân dân các nước nhất là các nước đang phát triển. Sự xuất hiện và phát triển của tình trạng nợ nần ở các nước này là hậu quả trực tiếp của nền kinh tế - chính trị tư bản chủ nghĩa. Nợ nần đã gây ra bao thảm cảnh. “Thế giới thứ ba” hiện có hơn 500 triệu người bị đe dọa chết đói; khoảng 1,6 tỷ người sống trong cảnh khốn cùng; hơn 600 triệu người thất nghiệp; 800 triệu người mù chữ; 1,5 tỷ người không được hưởng dịch vụ y tế. Trẻ em là bị thiệt thòi nhất: hàng năm có tới 40.000 trẻ em bị chết vì không có ăn…
Chủ nghĩa tư bản còn lợi dụng ưu thế vốn có về kinh tế và kỹ thuật để tăng cường chạy đua vũ trang, làm kiệt sức, đi tới đánh gục các đối thủ. Một châu Phi bao người đói khát; một châu Á còn bao người nghèo túng; một Mỹ Latinh nợ nần chồng chất; rất cần có sự trợ giúp thế mà hàng năm người ta chi tới 1.300 tỷ đôla để chế tạo ra những vũ khí giết người!
Chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn là chế độ tư bản tàn bạo. Chính nó đã gây ra nhiều thảm họa cho các nước, nhất là các nước nghèo. Mặc dù đạt được những tiến bộ chưa từng thấy về kinh tế và công nghệ, nó luôn luôn bộc lộ sự thiếu khả năng và vô trách nhiệm trong việc hạn chế và loại bỏ tình trạng bần cùng của tuyệt đại bộ phận dân cư trên thế giới. Nó, trước sau vẫn là xã hội không có tương lai.