Thứ Tư, 1 tháng 12, 2021

CÔNG THỨC “PHẢN BIỆN” KIỂU “GIẢ CẦY” CỦA NGUYỄN ĐÌNH CỐNG

Ngay sau khi Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm được ban hành, một số người, trong đó có Nguyễn Đình Cống – một cái tên quen thuộc trong làng “dân chủ” - đã nhanh chóng tung lên mạng xã hội những bài viết, mà danh là “phản biện”, “góp ý” nhưng thực chất lại là soi mói, đơm đặt, thậm chí xuyên tạc, hòng chống phá Đảng.

Thành thông lệ, trước mỗi chủ trương, quyết sách của Đảng, các thế lực phản động, cơ hội chính trị luôn dựng lên cái gọi là “lề Đảng” và “lề Dân” mà ở đó, theo chúng: “lề Đảng” thì luôn “hết lời ca ngợi” dù “chưa biết hay dở thế nào”, còn “lề Dân” thì thường hoặc là bàng quan, nghi ngờ, hoặc là phản đối… Khi Quy định 37 được ban hành, trong bài viết “Phản biện điều không được làm”, Nguyễn Đình Cống cho rằng: “tăng cường cấm đoán chỉ chứng tỏ đang bất lực” và “chủ yếu là để lên gân… chẳng giải quyết được việc gì”. Trong khi nội dung 19 điều cấm đối với đảng viên được quy định cụ thể và được công khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, vậy mà Nguyễn Đình Cống không chỉ dựng lên câu chuyện “trước năm 2006 Đảng không có những điều cấm”, Y còn thêm thắt cái gọi là “thừa số chung” với cụm từ “Không được không” vào trước 19 điều trong Quy định số 37-QĐ/TW. Y cho rằng: “một tổ chức cần dùng nhiều lệnh cấm chứng tỏ đã và đang phạm sai lầm nghiêm trọng về đường lối mà không thể khắc phục được bằng những biện pháp giáo dục thông thường” và Y quả quyết rằng: Đảng ban hành Quy định 37 là “không giải quyết vấn đề từ gốc mà chỉ thô bạo xử lý việc đầu ngọn”…

Chưa cần bàn đến những “phản biện” và lời bàn luận của Cống có hợp lý hay không, nhưng chúng ta thấy rất rõ động cơ, đạo đức cầm bút thấp hèn của kẻ danh xưng “dân chủ”, khi cố tình hiểu sai và làm cho người khác hiểu sai về những quy định trên. Đối với người cán bộ, cái gốc đạo đức đó chính là tinh thần “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Việc ban hành Quy định về những điều đảng viên không được làm giống như vạch ra một ranh giới rõ ràng, giữa trắng và đen, giữa sai và đúng… để người cán bộ, đảng viên tự giác tuân thủ, làm theo. Hiểu rõ những gì mình được làm và không được làm là cách chính xác nhất để người cán bộ đảng viên thực hiện bổn phận của mình.

Còn về cách lập luận, ngụy tạo, mang đầy màu sắc âm mưu: “Cấm có nghĩa là mắc sai lầm và không quản lý được” – đó là thứ suy luận phi logic, là thuật ngụy biện sơ đẳng nhất mà các nhà dân chủ như Nguyễn Đình Cống sử dụng nhằm xuyên tạc Quy định số 37 của Đảng về những điều đảng viên không được làm. Theo lập luận của Cống, không lẽ các nước trên thế giới nghiêm cấm sử dụng chất kích thích như rượu bia, ma túy khi điều khiển phương tiện giao thông là do họ không quản lý được lái xe sử dụng những thứ này? Tương tự như vậy, áp dụng cách suy luận của Cống và đám dân chủ giả cầy, ở chiều ngược lại: không cấm tức là quản lý được. Nếu cứ đem cái công thức ngớ ngẩn đó của Cống và đồng bọn áp dụng vào thực tiễn thì còn nhiều điều bi hài nữa, ví dụ như: cấm bán rượu bia cho người chưa đủ 18 tuổi – vì người dưới 18 tuổi luôn sử dụng rượu bia và nhà nước không quản lý được. Thật nực cười!

Cần phải khẳng định rằng, mỗi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành, luôn phải tuân theo một quy trình nghiêm ngặt, mà nguyên tắc cao nhất đó là bám sát sự vận động, phát triển của thực tiễn. Đành rằng, sẽ có nhiều cách nhìn nhận, đánh giá về các chủ trương, quyết sách của Đảng, nhưng không thể có chuyện các chủ trương, các quy định chỉ là để “dọa nhau” như Nguyễn Đình Cống và một số kẻ đơm đặt. Quy định về những điều đảng viên không được làm và kết quả đấu tranh phòng, chống tiêu cực trong Đảng, trong bộ máy công quyền của Nhà nước thời gian qua luôn nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nhân dân, đó là minh chứng rõ nhất, phản bác lại luận điệu “lề Đảng”, “lề Dân” của những kẻ cơ hội chính trị. Việc Trung ương ban hành Quy định 37 càng chứng minh rõ hơn quyết tâm chính trị của Đảng ta trong cuộc chiến phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đó cũng là biểu hiện cao nhất trong trách nhiệm của Đảng trước nhân dân; không hề có cái gọi là “Đảng đang tỏ ra bất lực” hay “rệu rã” như Nguyễn Đình Cống và một số kẻ khác đang cố tình tuyên truyền nhảm nhí./.

XÂY DỰNG VĂN HÓA TỪ CHỨC CỦA CÁN BỘ

Có lên chức, ắt hẳn phải có từ chức là chuyện hết sức bình thường trong công tác cán bộ. Ấy vậy mà ở nước ta trong mấy thập niên gần đây, việc cán bộ tự nguyện từ chức lại là câu chuyện hiếm, có tính chất bất thường.

Từ chức - "quý" và "hiếm"!

Cách đây hơn một năm, dư luận xôn xao trước thông tin đồng chí Lê Viết Chữ, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi và đồng chí Trần Ngọc Căng, Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, cùng viết đơn gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư xin thôi giữ chức vụ do nguyện vọng cá nhân và nhằm tạo điều kiện để kiện toàn công tác nhân sự cho Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2020-2025 (tổ chức vào tháng 10-2020).

Lý do được đưa ra là vậy, nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Trước đó, ngày 16-6-2020, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật ông Lê Viết Chữ bằng hình thức cảnh cáo, Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Trần Ngọc Căng do những sai phạm mà hai vị cán bộ này gây ra. Thế nhưng, kỳ lạ ở chỗ, vẫn có không ít ý kiến hoan nghênh, khen ngợi hành động viết đơn từ chức của các vị cán bộ này.

Theo Đại tá, PGS, TS Đỗ Duy Môn, Khoa Tâm lý học quân sự, Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng), sở dĩ xã hội vẫn có sự tán dương là bởi dù gì đi nữa thì những cán bộ kia vẫn còn đủ can đảm để viết đơn xin từ chức khi biết mình có lỗi trước tổ chức và nhân dân. Điều này khác xa với nhiều cán bộ, đảng viên dẫu có vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, dẫu chịu nhiều điều tiếng xã hội, nhưng vẫn chọn cách im lặng né tránh dư luận, rồi tìm mọi cách cố thủ, cốt để tại vị.

Những năm qua, hàng loạt cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước vi phạm nghiêm trọng kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đã bị xử lý nghiêm minh... Ở phạm vi toàn Đảng và hệ thống chính trị, tính trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp kiểm tra hơn 264.000 tổ chức đảng và hơn 1,1 triệu đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với hơn 15.900 tổ chức đảng và hơn 47.700 đảng viên. Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên... Thế nhưng đáng suy nghĩ là nhiều người đứng đầu cơ quan, đơn vị liên quan vẫn bình an trước những sự vụ, sự việc, vụ án mà đáng ra họ có trách nhiệm liên đới.

Dư luận cho rằng, trước một thực trạng đáng lo ngại về tệ tham ô, tham nhũng, suy thoái, biến chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ như thời gian qua, mà không thấy cán bộ nào tự giác từ chức nên người dân sinh ra lo ngại, cảm nhận được vấn đề bất thường của phần việc vốn được cho là bình thường trong công tác cán bộ.

Những người vi phạm kỷ luật không từ chức có lẽ là bởi tâm lý sợ pháp luật, sợ dư luận phỉ báng, khinh rẻ. Họ cố thủ, cố “giữ ghế” vì nhiều lý do khác nhau, bởi bản chất vốn dĩ của họ cũng chả tốt đẹp gì. Vậy tại sao cán bộ tốt, cán bộ có tư cách trong Đảng lại không thể từ chức, chưa thực hành từ chức vì lợi ích chung? Phải chăng ở Việt Nam, văn hóa từ chức chưa được hình thành trên thực tế.

Những câu hỏi nêu trên thật khó trả lời. Khó không phải vì không có đáp án rõ mười mươi, mà khó vì sự tế nhị trong cách trả lời. Ở Việt Nam, ít thấy cán bộ từ chức, trong khi không ít cán bộ gần tuổi nghỉ hưu, không đủ tiêu chí giữ cương vị trong nhiệm kỳ mới, nhưng vẫn cố tình "vận động" để được kéo dài. Lý do mà họ đưa ra là vì "khát vọng tiếp tục cống hiến", "vì muốn lo toan cho cấp dưới và vì sợ thế hệ kế cận, kế tiếp chưa thật sự đủ độ chín để cáng đáng vị trí công tác quan trọng". Chỉ nghe về những cán bộ dù không vi phạm kỷ luật, nhưng uy tín thấp, năng lực kém, hiệu quả hoạt động ở lĩnh vực, cơ quan, đơn vị phụ trách đạt kết quả chưa đáp ứng yêu cầu, nhưng vẫn bằng mọi giá giữ ghế, tại vị bằng nhiều lý do khác nhau, dư luận đã dâng trào những đợt sóng bất bình, lên án.

Có một điểm cần nói nữa là trong hệ thống chính trị thường chỉ mặc định việc từ chức là của lãnh đạo, cán bộ chủ trì, chủ chốt, chứ đội ngũ cán bộ, nhân viên thì lại không hề được nhắc tới. Trong khi có hàng vạn cá nhân khoác lên mình bộ trang phục công sở, gắn mác công chức vẫn "sáng đi, chiều về, đến tháng lĩnh lương", không đóng góp được gì cho tổ chức, thậm chí còn “rảnh rỗi sinh nông nổi”, kéo bè kéo cánh, gây mất đoàn kết trong tập thể... Ấy vậy mà chẳng thấy ai ngượng ngùng trước Đảng, trước dân, vẫn bám trụ cho bằng được cái vị trí công chức dù Trung ương và các cấp đang quyết liệt tinh giản biên chế, thải loại cán bộ kém và yếu.

Vậy nên, việc từ chức của cán bộ hiện nay vẫn được cho là “quý” và “hiếm”. Quý là bởi từ chức là hành vi văn hóa của cán bộ mà Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đang mong được chứng kiến nhiều hơn, nhằm kết nên “văn hóa từ chức” mà chúng ta đang ở điểm xuất phát ban đầu; “hiếm” là bởi nó diễn ra quá lẻ tẻ, ít ỏi đến độ bất thường!

Trái với quy luật

Thực tế nêu trên quả là chuyện bất bình thường trong việc bình thường của quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy. Chuyện "có xuống-có lên, có vào-có ra" là lẽ đương nhiên của cuộc sống và nhất là trong công tác cán bộ. Hôm nay anh tốt, có năng lực thì được tin tưởng phó thác nhiệm vụ cao hơn; ngày mai không phù hợp, hoặc thấy bản thân không thể cáng đáng thì xin xuống, để rèn luyện, phấn đấu, làm công việc phù hợp với trình độ, năng lực của mình, miễn là có ích cho xã hội. Ấy nhưng hình dạng phát triển theo “hình trôn ốc”, đúng với quy luật “phủ định của phủ định” trong phát triển như chính các nhà lý luận Mác-xít đúc rút lại không hiện hữu trong công tác cán bộ ở Việt Nam.

Nói như thế để thấy, chỉ ở nước ta mới có kiểu phát triển cán bộ theo “đường tiến lên duy nhất” là chủ yếu. Khi một người dừng lại, hoặc “ôm ghế” thì kéo theo là cả bộ máy bên dưới ì ạch, giậm chân tại chỗ, khó có thể "vượt mặt". Trong khi, ở nhiều nước trên thế giới, việc từ chức của cán bộ quan chức thường diễn ra phổ biến, thường xuyên. Vào đầu tháng 10-2021, Thủ tướng Áo Sebastian Kurz thông báo từ chức, hay trước đó, cựu Thủ tướng Italy Giuseppe Conte, cựu Thủ tướng Malaysia Muhyiddin Yassin hay cựu Thủ tướng Thụy Điển Stefan Lofven đã có các quyết định tương tự... Ở Nhật Bản, không ít người rất ngạc nhiên khi biết rằng, chỉ trong vòng 21 năm qua, Nhật Bản đã có tới 10 vị thủ tướng khác nhau. Trong số đó, chỉ có ông Abe Shinzo và ông Junichiro Koizumi là hai vị thủ tướng làm hết một nhiệm kỳ (3 năm), trong khi hầu hết các vị khác chỉ tại nhiệm được trên dưới một năm.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam cũng có không ít bậc hiền tài quyết liệt từ quan, từ chức, trở thành tấm gương sáng cho muôn đời sau, như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ... Đó là những bậc hiền tài sáng ngời về đạo đức, được sử sách ghi lại một cách trung thực bằng sự kính trọng, suy tôn.

Thời đại Hồ Chí Minh, trong Đảng ta cũng đã có nhiều cán bộ, đảng viên cao cấp xin rút khỏi (từ chức) các cơ quan lãnh đạo cấp cao sau khi phạm sai lầm trong công tác quản lý, trở thành tấm gương sáng trong việc nêu gương của cán bộ. Ví như, sau những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất được kết luận, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã xin rút khỏi Bộ Chính trị, đồng chí Hồ Viết Thắng xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương và đặc biệt, đồng chí Trường Chinh xin từ chức Tổng Bí thư của Đảng...

Vậy đấy. Nhìn ra thế giới nhận thấy các nước bạn đều đề cao văn hóa từ chức; trước đây thế hệ cha anh cũng làm được điều này, vậy tại sao thời gian qua và ở thời điểm hiện tại, đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa làm được, chưa chủ động, tự giác từ chức, thậm chí là không dám từ chức. Đây quả là vấn đề bất thường trong cái bình thường, cần phải được xem xét một cách đồng bộ, toàn diện để có những giải pháp vận hành công tác cán bộ đúng với quy luật khách quan!

Nguồn: qdnd.vn

MỞ RỘNG VÀ GẮN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG VỚI TIÊU CỰC

Đẩy mạnh/tăng cường phòng và đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa thường xuyên và lâu dài để Đảng trong sạch vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong/cầm quyền/độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác phòng, chống tham nhũng nói riêng, ngày 16/9/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã ký ban hành Quy định số 32-QĐ/TW (Quy định số 32); trong đó, gắn công tác phòng, chống tham nhũng đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Ở Việt Nam, theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thì tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn khi họ lợi dụng/lạm dụng chức vụ, quyền hạn được trao/được đảm nhiệm nhằm mục đích vụ lợi cho cá nhân, người thân, nhóm lợi ích… Cụ thể, đó là các hành vi: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi… và đó cũng chính là các biểu hiện của sự suy thoái. Vì thế, phòng và đấu tranh chống tham nhũng luôn là một nhiệm vụ quan trọng, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm; được đẩy mạnh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" và một số văn bản khác.

Vì tham nhũng chính là trở lực lớn đối với sự nghiệp xây dựng, đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước; làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng thời là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, cho nên, để phòng và đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQHXI về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1009/2006 về nhân sự Ban Chỉ đạo; Quốc hội cũng đã ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; ngày 1/2/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị ký Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (Ban Chỉ đạo)...

Đặc biệt, lần đầu tiên vấn đề phòng, chống tham nhũng được ghi tại khoản 2, Điều 8 Hiến pháp năm 2013: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải... kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền". Cùng với Hiến pháp và Luật Phòng, chống tham nhũng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đã có một chế định pháp lý riêng, quy định các tội phạm tham nhũng… Đây chính là tổ chức bộ máy và những cơ sở pháp lý vững chắc để công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng đạt hiệu quả.

Trên thực tế, sau hơn 7 năm (tính đến cuối năm 2020) kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo, các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử 1.900 vụ án tham nhũng, với hơn 4.400 bị can. Riêng Ban Chỉ đạo đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo hơn 800 vụ án, vụ việc. Đau xót là, chưa bao giờ có nhiều cán bộ, đảng viên; trong đó, có nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao vướng vào vòng lao lý vì tham ô, tham nhũng, cố ý làm trái pháp luật như trong nhiệm kỳ khóa XII của Đảng… Đó là những con số "biết nói" trong báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng những năm qua.

Những kết quả đạt được không chỉ khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà còn cho thấy cuộc đấu tranh này được thực hiện quyết liệt, "không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào" và đã tạo được sức răn đe, cảnh tỉnh lớn. Đấu tranh chống tham nhũng thực sự "đã trở thành phong trào, xu thế", được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao; được quốc tế ghi nhận

Vì thế, đã đến lúc phải mở rộng diện đấu tranh; trong đó không chỉ đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống - Nghĩa là phải gắn phòng và đấu tranh chống tham nhũng với các biểu hiện tiêu cực/suy thoái: "Hai cái này nó có liên quan đến nhau, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì mới dẫn đến tham nhũng, đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống. Cái lợi ích kinh tế nó thường gắn liền với quyền lợi chính trị, chức quyền, với sự hư hỏng về đạo đức, lối sống” đúng như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo ngày 18/3/2021.

BỆNH QUY CHỤP MÃN TÍNH

Đâu đó trên không gian mạng xã hội, thật giả lẫn lộn vẫn còn những quan điểm mang tính áp đặt khi cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết thời, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới.

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bất mãn và cơ hội chính trị nhằm ngăn cản nỗ lực phát triển của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được xem như “căn bệnh quy chụp mãn tính”, với mục tiêu sâu xa là gây mất ổn định về chính trị, gây chia rẽ nội bộ, khiến nhân dân hoang mang, dao động về tương lai của đất nước.

Một trong những chiêu bài nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, cho rằng Đảng ta “chuyên quyền”, “độc đoán”, không đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân mà chỉ khiến dân tộc thụt lùi. Từ luận điệu này, nhiều đối tượng kêu gọi nhân dân “thức tỉnh”, “cất cao tiếng nói vì sự tồn vong của dân tộc” và đi ngược hướng với với con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Thậm chí, họ còn đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bên cạnh đó, qua các bài viết chỉ dựa vào ý chí chủ quan được đăng hằng ngày trên mạng xã hội, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao để khiến nhân dân hoài nghi, bất mãn, mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, những luận điệu kiểu này thường được phát tán với mức độ dày đặc mỗi khi trong nước xuất hiện các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng.

Những khuyết điểm, sai lầm của một số đảng viên, quan chức chủ chốt bị đem ra mổ xẻ và để rồi quy kết rằng với thực trạng ê chề, rệu rã từ trong nội bộ như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước; và rằng, dân còn tin Đảng, theo Đảng là còn khổ...

Thực tế cho thấy, sau khi lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu mang tính lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới, thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH.

Qua 35 năm đổi mới, từ chỗ phải đối diện với cảnh nghèo nàn, cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội lạc hậu, Việt Nam nay đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình; quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống mọi mặt của người dân được cải thiện. Sự phát triển vượt bậc về kinh tế-xã hội được thể hiện rõ nét khi năm 2020, quy mô nền kinh đạt khoảng 343 tỷ USD và GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước cũng liên tục giảm trong vòng 5 năm trở lại đây...

Trong Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam mới công bố trong tháng 11 này, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, dù phải đối mặt với nhiều trở ngại trong việc khởi động lại nền kinh tế sau một thời gian cách ly xã hội kéo dài vì đại dịch, song kinh tế Việt Nam đang cho thấy những dấu hiệu cải thiện và phục hồi. Tương tự, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng bày tỏ lạc quan về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn.

Những gì diễn ra trong thời gian phải đối phó với đại dịch Covid-19 cũng cho thấy, ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm tới việc đưa đất nước phát triển nhanh về kinh tế, mà còn ưu tiên bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.

Quan trọng hơn, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có sự ổn định về chính trị, xã hội, độc lập, chủ quyền được giữ vững; uy tín và vị thế đất nước trên trường quốc tế cũng chưa bao giờ lớn mạnh như hiện nay. Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang trong quá trình chủ động, tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị với các đảng cầm quyền ở các nước XHCN và tham gia vào các diễn đàn chính đảng đa phương trên thế giới không phân biệt khuynh hướng và tư tưởng chính trị.

Còn nhớ, trong dịp diễn ra Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có hàng trăm thư mừng, điện mừng từ các chính đảng, các nguyên thủ, các tổ chức quốc tế gửi về Hà Nội. Đó không chỉ là minh chứng cho sự tin cậy, tình cảm hữu nghị mà bạn bè quốc tế dành cho Việt Nam, mà còn chứng tỏ vị thế của Đảng ta ngày càng được nâng cao.

Những thành quả ấy cũng không phải là “miếng bánh vẽ” như một số đối tượng vẫn rêu rao, cũng không xuất phát từ những nhận định chủ quan, mà được khẳng định bằng những đánh giá thẳng thắn của cộng đồng quốc tế. Ông Vojtech Fillip, Phó chủ tịch thứ nhất Hạ viện Cộng hòa Séc, Chủ tịch Đảng Cộng sản Séc-Morava (KSČM) từng nói rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng được khẳng định thông qua những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội cũng như nâng cao uy tín trên trường quốc tế.

Hiện nay, Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cũng được đánh giá cao không chỉ ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây mà cả đối với các nước phương Tây.

Tại một hội thảo được tổ chức vào đầu năm 2020 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Philip Fernandez, thành viên của CVFS, đảng viên Đảng Cộng sản Canada, nhấn mạnh việc Việt Nam lọt vào nhóm các quốc gia tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hàng đầu châu Á, vị thế không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế, là nhờ vai trò lãnh đạo không thể thiếu của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông nói: "Uy tín và vị thế cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã phản ánh sức mạnh chính trị và ý thức hệ của Đảng, cũng như khả năng tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam khi tìm ra phương hướng trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, và cùng với sự tham gia của nhân dân để đưa ra chương trình nghị sự nhằm xây dựng một nước Việt Nam hiện đại”. Và, việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối bắt nguồn từ đâu nếu không phải từ niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với Đảng Cộng sản Việt Nam?

Những thành quả mà nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận. 

Chiêu bài cố tình nhồi nhét, áp đặt dư luận bằng những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự nó đã lỗi thời!./.

VI PHẠM QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA CÁC DÂN TỘC TRÊN THẾ GIỚI

Theo các chuyên gia về luật quốc tế, Luật Magnitsky đã vi phạm Khoản 2, Điều 1 của Hiến chương Liên hợp quốc, đó là cố tình cản trở sự phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, không tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc trên thế giới. Thế nên, việc áp đặt quan điểm pháp lý của Luật Magnitsky lên các quốc gia có chủ quyền của Mỹ là không thể chấp nhận được và chỉ làm phức tạp hơn sự việc ở các quốc gia có chủ quyền. Thực tế cho thấy, từ khi Luật Magnitsky ra đời, nhiều quốc gia trên thế giới đã phản đối mạnh mẽ và tìm các biện pháp trả đũa, trong đó có Nga, Trung Quốc, Saudi Arabia... Điều đó khiến mối quan hệ song phương giữa Mỹ với nhiều đối tác chiến lược trên thế giới khó được khăng khít. Thế nên, việc Safeguard Defenders ủng hộ Phạm Đoan Trang cho xuất bản cuốn sách trên là hành vi cố tình ủng hộ Luật Magnitsky.

Tổ chức Safeguard Defenders đã có những việc làm không tôn trọng pháp luật Việt Nam. Bởi xem kỹ các nội dung thì cuốn sách chủ yếu chỉ ra cách thức giúp những kẻ vi phạm pháp luật ở Việt Nam tự xây dựng chiếc “khiên” trước khi thực hiện hành động chống phá Đảng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Điều này chẳng khác nào khuyến khích, “tiếp máu” cho những kẻ vi phạm pháp luật ở Việt Nam cố tình quậy phá, chia rẽ khối đại đoàn kết, làm phức tạp tình hình, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Điều này có thể sẽ làm mất đi nhiều cơ hội phát triển của Việt Nam trong tương lai.

Tổ chức Safeguard Defenders lựa chọn tiếng Việt phát hành cuốn sách để hướng tới các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” ở Việt Nam. Đây được xem là điều hết sức phi lý và càng không thể chấp nhận được. Lý do đơn giản là từ xưa đến nay, nhất là trong những năm gần đây ở Việt Nam chẳng hề có hiện tượng vi phạm nhân quyền như các tổ chức, cá nhân trên thế giới từng vu cáo. Ở Việt Nam không hề có cái gọi là “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm” mà chỉ có những công dân cố tình vi phạm pháp luật và pháp luật hình sự đã được pháp luật Việt Nam quy định. Quan điểm rõ ràng ấy được nêu cụ thể trên các phát ngôn, báo cáo chính thức, cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông chính thống của Nhà nước Việt Nam. Đây là một sự thật không thể bị chối bỏ.


LUẬN ĐIỆU LẠC LÕNG, SÁO RỖNG

Vừa qua, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ) phát đi thông cáo kêu gọi chính phủ nước này cần sử dụng vòng đối thoại nhân quyền để thúc ép Việt Nam trả tự do cho những "tiếng nói bất đồng" đang bị giam giữ và có những cải thiện về nhân quyền.

Thực tế, đây không phải lần đầu tổ chức này tự cho mình quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Mượn cớ thông tin đó, một số tờ báo, trang mạng nước ngoài a dua "theo đóm ăn tàn" để xuyên tạc, có thái độ hằn học, thể hiện luận điệu sáo rỗng, cho rằng Việt Nam hạn chế nhân quyền, bắt người vô cớ.

Cần nhắc lại và nhận thức rằng, không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, bảo đảm theo đúng Hiến pháp và pháp luật.

 Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (ngày 15-9-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp...

Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có nội quy; một tổ chức, đoàn thể phải có quy chế, có điều lệ... Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước".

Chính vì thế, đã là tội phạm thì phải có luật pháp để xử lý nghiêm minh, giữ gìn sự ổn định đất nước và bảo đảm an toàn cho nhân dân. Do đó, những luận điệu của các thành phần thiếu thiện chí, mượn cớ để quy chụp, cố tình chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng, sáo rỗng cần phải lên án, phê phán mạnh mẽ.

"TÍN DỤNG ĐEN" HOÀNH HÀNH NÚP BÓNG APP CHO VAY ONLINE

Để đối phó với các cơ quan chức năng, các đối tượng hoạt động tín dụng đen đã chuyển hướng lập các doanh nghiệp núp bóng, cho vay trực tuyến, vay qua ứng dụng hoặc lập các tài khoản, hội nhóm trên mạng xã hội (Zalo, Facebook).

Bát nháo “tín dụng đen” núp bóng cho vay trực tuyến

Theo nhận định của Cục Cảnh sát hình sự, sau 2 năm thực hiện Chỉ thị số 12 ngày 25/4/2019 của Thủ tướng Chính Phủ, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động “tín dụng đen” đã có chiều hướng giảm nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 bùng phát.

Theo đó, tình trạng tạm dừng kinh doanh, kinh doanh không có lãi, nợ lương, mất việc làm, giảm thu nhập khiến nhu cầu vay tiền để phục vụ sinh hoạt, kinh doanh tăng cao. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ thanh niên có nhu cầu vay tiền để phục vụ tiêu xài cá nhân hoặc sử dụng cho các mục đích khác như: sử dụng ma túy, chơi cờ bạc...

“Có cung ắt có cầu”, các đối tượng hoạt động “tín dụng đen” đã lập các doanh nghiệp núp bóng cho vay trực tuyến, vay qua ứng dụng hoặc lập các tài khoản, hội nhóm trên mạng xã hội (Zalo, Facebook) để tiếp cận, mời chào số lượng lớn người có nhu cầu vay tiền.

Thủ đoạn của các đối tượng là quảng cáo không cần thế chấp tài sản, chỉ cần giấy tờ tùy thân, giải ngân ngay qua tài khoản ngân hàng… nhưng thu thêm nhiều khoản phí, tiền phạt trái luật (thực chất là để lách số tiền lãi vượt ngưỡng theo quy định của pháp luật); lập các hợp đồng mua bán, giao nhận tiền, tài sản khống; ép người đi vay thực hiện khống các hành vi vi phạm pháp luật nhằm gây bất lợi về pháp lý cho người vay; một số hợp đồng vay tiền tuy số tiền vay nhỏ, thời gian vay ngắn nhưng lãi suất gấp nhiều lần định mức pháp luật cho phép.

Bên cạnh các ứng dụng cho vay tiền của các tổ chức tín dụng, công ty tài chính… xuất hiện nhiều ứng dụng không rõ nguồn gốc về đơn vị chủ quản có biểu hiện hoạt động “tín dụng đen”. Các ứng dụng này thường xuyên thay đổi tên hoặc để ẩn thông tin nhằm tránh sự theo dõi của cơ quan chức năng.

Khi khách hàng cài đặt ứng dụng vay và để lại thông tin cá nhân, sẽ có đối tượng liên hệ, mời chào vay tiền và cài đặt các ứng dụng vay khác. Các ứng dụng này có khả năng truy cập thu thập danh bạ, lịch sử tin nhắn, cuộc gọi, thông tin tài khoản mạng xã hội… của người vay để sử dụng khi đòi nợ hoặc cho những mục đích trái pháp luật khác.

Thực tế cho thấy, khách hàng của các ứng dụng này chủ yếu là học sinh, sinh viên, công nhân, người thu nhập thấp cần vay một khoản tiền khoảng vài triệu đồng trong thời gian ngắn mà không muốn thực hiện các thủ tục vay tại ngân hàng, tổ chức tín dụng.

Khách hàng có thể không để ý hoặc bỏ qua các thông tin quy định ràng buộc về lãi suất, phí, tiền phạt dẫn đến mức lãi suất phải trả cao hơn nhiều lần lãi suất của ngân hàng, dẫn đến việc vay của ứng dụng sau trả lãi cho ứng dụng trước.

Cần sự chung tay để đẩy lùi “tín dụng đen”

Liên quan đến hoạt động đòi nợ, theo Cục Cảnh sát hình sự cho biết, từ ngày 1/1/2021, ngành nghề kinh doanh dịch vụ đòi nợ đã bị cấm hoạt động, góp phần hạn chế các vi phạm pháp luật phát sinh từ hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Tuy nhiên, một số công ty vẫn hoạt động núp bóng dưới danh nghĩa các công ty bảo vệ, tư vấn luật, mua bán nợ, ủy quyền đòi nợ; sử dụng nhân viên của các công ty đòi nợ trước đây để liên kết với các doanh nghiệp, cơ sở cho vay hoặc cho đối tác thuê nhân viên để đòi nợ.

Tình trạng các đối tượng côn đồ, đối tượng nghiện, các băng nhóm tội phạm thực hiện các hành vi đòi nợ đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự đã giảm rõ rệt nhưng thủ đoạn đòi nợ bằng cách ném chất bẩn, chất thải, gạch đá vào nơi ở, nơi làm việc của con nợ và người thân con nợ vẫn xuất hiện ở nhiều nơi.

Điển hình là tình trạng gây sức ép đòi nợ bằng cách gọi điện, nhắn tin giả danh các cơ quan bảo vệ pháp luật để đe dọa hoặc sử dụng thông tin cá nhân, danh bạ, tài khoản mạng xã hội của người đi vay để bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, phát tán cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp người đi vay.

Trong thời gian dịch bệnh COVID-19 bùng phát, không ít vụ án xảy ra mà nguyên nhân bắt nguồn từ “tín dụng đen”.

Trước tình hình phức tạp đó, cùng với nỗ lực đấu tranh của lực lượng Công an, đòi hỏi phải có sự vào cuộc rốt ráo của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị và sự tỉnh táo của người dân để “tín dụng đen” không còn lộng hành./.