Hiển thị các bài đăng có nhãn thành quả. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thành quả. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

NGHĨ VỀ MÙA XUÂN VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Lịch sử ghi nhận, trước khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta bị áp bức dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tuy dấy lên mạnh mẽ và theo nhiều khuynh hướng tư tưởng, con đường khác nhau nhưng đều không thành công, do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một học thuyết khoa học tiên tiến soi đường.

Mùa xuân, chúng ta cùng ôn lại sự kiện lịch sử: Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã tiến hành hội nghị hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa Mác-Lênin, là kết quả quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ đó, Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, gian nan, thử thách để ghi dấu những mốc son chói lọi của đất nước, dân tộc. Cách mạng Tháng Tám thành công cùng sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mở ra kỷ nguyên mới – độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Mang sứ mệnh cao cả, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, thu non sông về một mối và tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Những luận điệu chống phá “cũ mèm”

Tuy vậy, trên một số diễn đàn, mạng xã hội, trên trang điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí, truyền thông thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam tiếp tục tung ra các bài viết, luận điệu sai trái, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Họ cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đại diện cho lợi ích của một nhóm thiểu số tinh hoa, chứ không đại diện cho lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc”; “việc Đảng thừa nhận sự tha hóa, biến chất, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chứng tỏ Đảng không đủ tư cách để đại diện cho toàn dân để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”…

Có ý kiến còn bình luận “việc Đảng kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là siêu hình, trái quy luật và xu thế phát triển của thế giới”. Lại có ý kiến đưa ra lý lẽ lập lờ rằng, nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là mông lung, khó khả thi, vì bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một đảng phái, một chế độ chính trị nào. Có ý kiến quy kết “chế độ độc đảng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khiến Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu”!

Thủ đoạn mà các thế lực này thường sử dụng là xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ra sức tuyên truyền cho luận điệu “chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời”; “chủ nghĩa Mác – Lênin là lý thuyết suông về CNXH không tưởng, không có thực”…

Họ đồng nhất sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô với bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đó cho rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp với thế kỷ XXI, không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ khỏi đời sống tư tưởng chính trị xã hội. Họ cũng tầm thường hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, mục đích sâu xa là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với vai trò là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Không dừng lại ở việc xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng, các thế lực thù địch, phản động còn ra sức lợi dụng những tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội, nhất là tình trạng tham nhũng để gây nhiễu dư luận, xuyên tạc bản chất của chế độ; coi những tiêu cực đó có nguyên nhân là do sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, các đối tượng đưa ra luận điệu “tham nhũng là hệ quả tất yếu của chế độ độc đảng”; “việc phòng chống tham nhũng thực chất là đấu đá trong nội bộ Đảng”. Từ đó, các thế lực này lớn tiếng hô hào đòi thay đổi chế độ, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”!

Những ý kiến nêu trên, nếu không cố tình ngụy tạo thông tin, đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất thì cũng là cái nhìn phiến diện theo kiểu “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn cây mà không thấy rừng, lồng ghép những lời đơm đặt, xuyên tạc nhằm chống phá, hạ bệ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”, với tư cách là “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”, trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời không ngừng củng cố và nâng cao sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.

Lịch sử 93 năm qua đã chứng minh, từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phấn đấu rèn luyện để xứng đáng là đội tiên phong, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam. Khái niệm đảng cầm quyền với đảng lãnh đạo chính quyền của Ðảng Cộng sản Việt Nam là sự thống nhất biện chứng.

Bởi lẽ, sự tồn tại và phát triển của Ðảng là tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại, hoạt động của Nhà nước và Nhà nước là một phương thức hoạt động của Ðảng, là đối tượng lãnh đạo của Ðảng. Khi Ðảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng duy nhất cầm quyền thì “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước ta đạt được sau 37 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng được thể hiện toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế ra khỏi khủng hoảng và tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN được đẩy mạnh. Từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (KT-XH) lạc hậu, trình độ thấp, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh và độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Việt Nam đứng trong top 40 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Tính đến năm 2022, quy mô nền kinh tế ước đạt gần 400 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 4.000USD; quy mô thương mại khoảng 750 tỷ USD, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Việt Nam là nơi hội tụ của hàng vạn nhà đầu tư đến từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ, với gần 35.000 dự án FDI đang hoạt động có tổng vốn đầu tư gần 430 tỷ USD. Không chỉ vậy, Việt Nam thuộc nhóm nước đạt mức cao chỉ số phát triển con người (HDI).

Năm 2020, tỷ lệ nghèo đa chiều theo chuẩn quốc tế giảm còn 4,8% (so với 9,9% năm 2016). Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MDG-2015 và đang nỗ lực thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG-2030 của Liên hợp quốc. Nhiều quốc gia trên thế giới coi Việt Nam là một hình mẫu đáng tham khảo, học hỏi kinh nghiệm về việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội. Với những nỗ lực không mệt mỏi năm 2022, chúng ta đạt và vượt 13 chỉ tiêu, 1 chỉ tiêu xấp xỉ đạt trong 15 chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp, dân tộc và xã hội được xây dựng trên nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Điều lệ Đảng “cố tình” quy định hay xếp đặt. Đây là một yếu tố quan trọng, bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013.

Với những thành quả nêu trên, đầy đủ cơ sở khẳng định rằng, dù thời cuộc có nhiều biến động, thế giới có nhiều đổi thay nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và tiếp tục là lực lượng chính trị duy nhất có đủ vị thế, trí tuệ, năng lực, uy tín để lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Mọi sự xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.

Theo: Bình Nguyên – Bảo Ninh

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ DÂN CHỦ CỦA VIỆT NAM

Trong thời gian qua, trước những khó khăn về kinh tế-xã hội do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 chưa được giải quyết và những diễn biến phức tạp trong khu vực… lợi dụng tình hình này, những kẻ cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xuyên tạc tình hình, hòng bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội Việt Nam. Họ viết và tán phát trên mạng rằng: "Đàn áp về nhân quyền ở Việt Nam ngày càng gia tăng"; "các quyền của người dân, trong đó có dân chủ, quyền lập hội, biểu tình… không được thực hiện, trái lại ngày càng bị bóp nghẹt...". Vậy dân chủ đã và đang được bảo đảm ở Việt Nam như thế nào?

Đặc trưng nền dân chủ của Việt Nam là tất cả mọi người đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; chế độ dân chủ của Việt Nam dựa trên hệ thống chính trị các cấp-đó là chế độ sinh hoạt của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; là tiếng nói của Mặt trận Tổ quốc và của các đoàn thể xã hội luôn luôn được tôn trọng. Ở đây tiếng nói, nguyện vọng của người dân được bảo đảm thông qua các đại diện của mình.

Một trong những đặc trưng của nền dân chủ ở Việt Nam là chế độ dân chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". (Điều 4, Hiến pháp 2013).

Ngay từ khi cách mạng thành công (tháng 8-1945) cho đến thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến dân chủ ở cấp cơ sở. Theo đó. Tổng Bí thư Đỗ Mười chỉ đạo ban hành Chỉ thị số 30 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở gồm: Bảo đảm để mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước…; có quy chế và các hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên môn, công tác cán bộ... của chính quyền, cơ quan, đơn vị; có quy định về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn; cơ chế để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sở trực tiếp và thông qua, gồm: Mặt trận, các đoàn thể, ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, thủ trưởng cơ quan,…

Sau Chỉ thị 30, Chính phủ đã luật hóa bằng nghị định của Chính phủ. Dựa trên chỉ thị và nghị định về dân chủ, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hàng trăm văn bản nhằm bảo đảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở, bao gồm cả quyền dân chủ của cán bộ, công chức, của cán bộ, nhân viên ở các doanh nghiệp… Cho đến nay, chế độ dân chủ ở Việt Nam đã và đang được thực hiện nghiêm túc ở các cấp, từ cơ sở xã phường, cơ quan, cho đến Quốc hội. Tất cả những vấn đề từ đời sống thường nhật cho đến vấn đề độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ đều được người dân quan tâm và có quyền tham gia.

Những ý kiến xuyên tạc, phủ nhận thành tựu về dân chủ có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nhận thức không đầy đủ về dân chủ. Ở nhiều quốc gia phương Tây, dân chủ thường gắn với các hoạt động chống chính phủ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs)… Đó là các cuộc tụ tập đông người, phá hủy các công trình công cộng, xúc phạm cá nhân, quan chức từ cấp thấp cho đến tổng thống. Quyền tự do báo chí cũng có nội dung tương tự… Trách nhiệm của người đưa tin, của cơ quan quản lý báo chí thường rất nhẹ. Vì vậy dùng tiêu chí dân chủ, nhân quyền của phương Tây để xem xét, đánh giá chế độ dân chủ của Việt Nam là một sai lầm về chính trị và thiếu sót về phương pháp luận. Do đó, cần nhận thức đúng, về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

LUẬN ĐIỆU PHẢN NHÂN VĂN CỦA ĐỖ NGÀ

Đã từ lâu, được sự tiếp tay, tiếp sức của các thế lực thù địch, các tổ chức phản quốc lưu vong, Đỗ Ngà từ ngộ nhận, ảo tưởng đến ngông cuồng, điên loạn chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta. Mới đây, trên trang Hung-viet.org đã đăng tải bài viết “Lênin và di sản tàn phá mà ông ta để lại” của Đỗ Ngà với nội dung xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã mang lại cho nhân dân Liên Xô và hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới.

Đỗ Ngà phủ nhận giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trong những ngày tháng năm lịch sử, khi tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đang hân hoan chào mừng ngày Chiến thắng phát xít, tri ân những thành quả cách mạng mà chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô mang lại cho nhân loại thì Đỗ Ngà lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những giá trị tốt đẹp đó. Bằng cái nhìn thiển cận, phản nhân văn của mình, y đã xuyên tạc, bôi đen, phủ nhận lịch sử khi cho rằng “Lênin đã gieo rắc thảm họa cho nhân loại”?!. Bên cạnh đó, y còn đưa ra những luận điệu vu khống, bóp méo những chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng Cộng sản Liên Xô (Đảng Bônvêvic) và những người lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ. Mục đích của y là phủ nhận những thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Thế nhưng, thực tế đã chứng minh luận điệu xuyên tạc của y là hoàn toàn sai sự thật.

Chúng ta biết rằng, vì mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người những người Cộng sản Liên Xô đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp để hiện thực hóa khát vọng ngàn đời của người dân lao động: tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân. Trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, hầu như tất cả ngành công nghiệp chủ yếu của Nga nằm trong tay tư bản nước ngoài và tư liệu sản xuất nằm trong tay giai cấp tư sản; giai cấp công nhân, nông dân Nga bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất; đời sống của nhân dân hết sức khổ cực. Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã cho rằng: Phương sách duy nhất để làm cho nhân dân lao động hết cùng khổ là thay đổi, từ dưới lên trên chế độ hiện nay trên toàn quốc và lập chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, nước Nga Xô-viết ra đời, bắt đầu thực thi “Sắc lệnh ruộng đất”: Nông dân đã nhận được miễn phí hơn 150 triệu ha ruộng đất từ giai cấp địa chủ, được xóa tiền nợ. Công nhân tự nguyện, tự giác, liên hợp với nhau, sử dụng kỹ thuật hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, sản lượng công nghiệp Liên Xô năm 1940 tăng 12 lần so năm 1913; tỷ trọng công nghiệp đã chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân; sản lượng của ngành chế tạo máy tăng 35 lần; sản lượng điện tăng 24 lần; năm 1937 sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã vượt lên đứng hàng thứ hai trên thế giới. Thế và lực của Liên Xô tăng lên nhanh chóng trên trường quốc tế.

Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Liên Xô đã giành thắng lợi trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1944), cứu loài người thoát khỏi thảm họa bị diệt vong của chủ nghĩa phát-xít. Nhờ có nền kinh tế kế hoạch mà Liên Xô đã phục hồi, phát triển nhanh chóng sau Chiến tranh, trở thành thành trì vững chắc của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô có nền khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành khoa học đứng hàng đầu thế giới, điển hình như khoa học vũ trụ, giáo dục, y tế, quốc phòng. Liên Xô trở thành trành trì của cách mạng và là biểu tượng, cổ vũ, động viên các dân tộc trên thế giới đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc.

Âm mưu thâm độc của Đỗ Ngà phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Từ sự xuyên tạc, vu khống những thành quả của cách mạng tháng Mười Nga và thành tựu về kinh tế – xã hội mà Liên Xô đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Đỗ Ngà đã cố tình xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin. Dưới cái nhìn phản nhân văn của mình, y cho rằng là “một di sản vô cùng độc hại”, là sự “gieo rắc thảm họa cho nhân loại” và là “ý thức hệ vô cùng khủng khiếp”!. Đúng là chỉ những kẻ vô nhân đạo, phản nhân văn như Đỗ Ngà mới có thể đưa ra những luận điệu như thế.

Bởi lẽ, chúng ta đều biết: Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời là bước ngoặt vĩ đại của tư tưởng nhân loại, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và những dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới. Đây là con đường duy nhất đúng để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Và đây cũng là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, thực tiễn những diễn biến phức tạp, khó lường ở một số nước trên thế giới hiện nay càng khẳng định giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó cũng là minh chứng để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu khống của Đỗ Ngà.

Với niềm tin, khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Nhân dân Việt Nam luôn kiên định vào chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng ta, luôn kiên định niềm tin tất thắng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc của Đỗ Ngà cũng như “đồng loại” của y tất yếu sẽ bị sức mạnh, niềm tin của nhân dân đập tan và vô hiệu hóa./.

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2022

KHÔNG ĐƯỢC PHÉP PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Có được những thành tựu đó là do có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự cố gắng to lớn, đáng tự hào của toàn dân và toàn quân ta.

Tuy nhiên các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình đổi trắng, thay đen, xuyên tạc bản chất, tính chất và những thành tựu to lớn của dân tộc ta trong sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược, đặc biệt là những thành tựu trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Chúng cho rằng đất nước đang rơi vào tụt hậu, nghèo nàn, thiếu đường hướng xây dựng, phát triển.

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn xứng đáng với sự lựa chọn, giao phó của lịch sử, niềm tin của nhân dân. Sau khi lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thắng lợi, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển. Bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Vì vậy, dẫu có cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân ta đến đâu thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng không thể bẻ cong được sự thật. Thực tiễn đã khẳng định, những thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là do sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng. Do đó, mỗi người dân Việt Nam yêu nước phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động phản bác và đập tan các chiêu trò xuyên tạc và phủ nhận thành quả cách mạng của các thế lực thù địch.

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

VÌ SAO HỌ LẠI CHỐNG CHỦ NGHĨA MÁC MỘT CÁCH ĐIÊN CUỒNG VÀ QUYẾT LIỆT NHƯ VẬY

Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam. Tính cách mạng, khoa học và sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được lý luận và thực tiễn khẳng định.

Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX ở nước Đức, do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập. Vào thời điểm đó, lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản phát triển rất mạnh mẽ, ưu thế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được khẳng định và cách mạng tư sản đã giành thắng lợi. Thế nhưng, ngọn cờ “tự do, bình đẳng, bác ái” và những lời hứa của giai cấp tư sản trong quá trình cách mạng lúc này chỉ còn lại là “chiếc bánh vẽ”. Thành quả và lợi ích của cuộc cách mạng tư sản đã bị giai cấp tư sản chiếm vđoạt mà không hề đếm xỉa đến lợi ích của những người bạn đồng minh là giai cấp vô sản. Bị lừa dối và phản bội, giai câp vô sản dã thúc tỉnh và họ hiểu rằng, kẻ thù của minh không phải là "máy móc mà chính là giai cấp tư sản. Vì vậy, họ đã liên hiệp lại, kiên quyết đứng lên đấu tranh đòi lại quyền sống cho mình. Cuộc đấu tranh "một mất một còn" của giai câp vô sản chống lai giai cấp tư sản ngày càng quyết liệt. Sống trong thời đại ấy, C.Mác và Ph.Ăngghen tận mắt chứng kiến các biến cô lịch sử và phát hiện ra vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân – những người "đào huyệt" chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Các ông đā xây dựng lý luân khoa hoc, cách mang để trang bị cho giai cấp công  nhân.

Như vây, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời là tất yếu khách quan của lịch sử, từ các điêu kiện khách quan và các nhân tố chủ quan phát triển chín muồi chứ không phải “được nặn ra từ những cái đầu thiển cận”, mang nặn tính chủ quan, áp đặt; cũng không phải sự ba hoa của kẻ làm trò ảo thuật”, mà là sự chứng minh của khoa học hiện đại.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ THIẾU!

Thực tế cho thấy, sau khi lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu mang tính lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới, thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH.

Qua 35 năm đổi mới, từ chỗ phải đối diện với cảnh nghèo nàn, cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội lạc hậu, Việt Nam nay đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình; quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống mọi mặt của người dân được cải thiện. Sự phát triển vượt bậc về kinh tế-xã hội được thể hiện rõ nét khi năm 2020, quy mô nền kinh đạt khoảng 343 tỷ USD và GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước cũng liên tục giảm trong vòng 5 năm trở lại đây...

Trong Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam mới công bố trong tháng 11 này, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, dù phải đối mặt với nhiều trở ngại trong việc khởi động lại nền kinh tế sau một thời gian cách ly xã hội kéo dài vì đại dịch, song kinh tế Việt Nam đang cho thấy những dấu hiệu cải thiện và phục hồi. Tương tự, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng bày tỏ lạc quan về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn.

Những gì diễn ra trong thời gian phải đối phó với đại dịch Covid-19 cũng cho thấy, ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm tới việc đưa đất nước phát triển nhanh về kinh tế, mà còn ưu tiên bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.

Quan trọng hơn, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có sự ổn định về chính trị, xã hội, độc lập, chủ quyền được giữ vững; uy tín và vị thế đất nước trên trường quốc tế cũng chưa bao giờ lớn mạnh như hiện nay. Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang trong quá trình chủ động, tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị với các đảng cầm quyền ở các nước XHCN và tham gia vào các diễn đàn chính đảng đa phương trên thế giới không phân biệt khuynh hướng và tư tưởng chính trị.

Còn nhớ, trong dịp diễn ra Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có hàng trăm thư mừng, điện mừng từ các chính đảng, các nguyên thủ, các tổ chức quốc tế gửi về Hà Nội. Đó không chỉ là minh chứng cho sự tin cậy, tình cảm hữu nghị mà bạn bè quốc tế dành cho Việt Nam, mà còn chứng tỏ vị thế của Đảng ta ngày càng được nâng cao.

Những thành quả ấy cũng không phải là “miếng bánh vẽ” như một số đối tượng vẫn rêu rao, cũng không xuất phát từ những nhận định chủ quan, mà được khẳng định bằng những đánh giá thẳng thắn của cộng đồng quốc tế. Ông Vojtech Fillip, Phó chủ tịch thứ nhất Hạ viện Cộng hòa Séc, Chủ tịch Đảng Cộng sản Séc-Morava (KSČM) từng nói rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng được khẳng định thông qua những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội cũng như nâng cao uy tín trên trường quốc tế.

Hiện nay, Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cũng được đánh giá cao không chỉ ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây mà cả đối với các nước phương Tây.

Tại một hội thảo được tổ chức vào đầu năm 2020 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Philip Fernandez, thành viên của CVFS, đảng viên Đảng Cộng sản Canada, nhấn mạnh việc Việt Nam lọt vào nhóm các quốc gia tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hàng đầu châu Á, vị thế không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế, là nhờ vai trò lãnh đạo không thể thiếu của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những thành quả mà nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận. 

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2021

BỆNH QUY CHỤP MÃN TÍNH

Đâu đó trên không gian mạng xã hội, thật giả lẫn lộn vẫn còn những quan điểm mang tính áp đặt khi cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết thời, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới.

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bất mãn và cơ hội chính trị nhằm ngăn cản nỗ lực phát triển của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được xem như “căn bệnh quy chụp mãn tính”, với mục tiêu sâu xa là gây mất ổn định về chính trị, gây chia rẽ nội bộ, khiến nhân dân hoang mang, dao động về tương lai của đất nước.

Một trong những chiêu bài nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, cho rằng Đảng ta “chuyên quyền”, “độc đoán”, không đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân mà chỉ khiến dân tộc thụt lùi. Từ luận điệu này, nhiều đối tượng kêu gọi nhân dân “thức tỉnh”, “cất cao tiếng nói vì sự tồn vong của dân tộc” và đi ngược hướng với với con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Thậm chí, họ còn đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bên cạnh đó, qua các bài viết chỉ dựa vào ý chí chủ quan được đăng hằng ngày trên mạng xã hội, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao để khiến nhân dân hoài nghi, bất mãn, mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, những luận điệu kiểu này thường được phát tán với mức độ dày đặc mỗi khi trong nước xuất hiện các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng.

Những khuyết điểm, sai lầm của một số đảng viên, quan chức chủ chốt bị đem ra mổ xẻ và để rồi quy kết rằng với thực trạng ê chề, rệu rã từ trong nội bộ như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước; và rằng, dân còn tin Đảng, theo Đảng là còn khổ...

Thực tế cho thấy, sau khi lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu mang tính lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới, thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH.

Qua 35 năm đổi mới, từ chỗ phải đối diện với cảnh nghèo nàn, cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội lạc hậu, Việt Nam nay đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình; quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống mọi mặt của người dân được cải thiện. Sự phát triển vượt bậc về kinh tế-xã hội được thể hiện rõ nét khi năm 2020, quy mô nền kinh đạt khoảng 343 tỷ USD và GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước cũng liên tục giảm trong vòng 5 năm trở lại đây...

Trong Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam mới công bố trong tháng 11 này, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, dù phải đối mặt với nhiều trở ngại trong việc khởi động lại nền kinh tế sau một thời gian cách ly xã hội kéo dài vì đại dịch, song kinh tế Việt Nam đang cho thấy những dấu hiệu cải thiện và phục hồi. Tương tự, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng bày tỏ lạc quan về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn.

Những gì diễn ra trong thời gian phải đối phó với đại dịch Covid-19 cũng cho thấy, ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm tới việc đưa đất nước phát triển nhanh về kinh tế, mà còn ưu tiên bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.

Quan trọng hơn, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có sự ổn định về chính trị, xã hội, độc lập, chủ quyền được giữ vững; uy tín và vị thế đất nước trên trường quốc tế cũng chưa bao giờ lớn mạnh như hiện nay. Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang trong quá trình chủ động, tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị với các đảng cầm quyền ở các nước XHCN và tham gia vào các diễn đàn chính đảng đa phương trên thế giới không phân biệt khuynh hướng và tư tưởng chính trị.

Còn nhớ, trong dịp diễn ra Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã có hàng trăm thư mừng, điện mừng từ các chính đảng, các nguyên thủ, các tổ chức quốc tế gửi về Hà Nội. Đó không chỉ là minh chứng cho sự tin cậy, tình cảm hữu nghị mà bạn bè quốc tế dành cho Việt Nam, mà còn chứng tỏ vị thế của Đảng ta ngày càng được nâng cao.

Những thành quả ấy cũng không phải là “miếng bánh vẽ” như một số đối tượng vẫn rêu rao, cũng không xuất phát từ những nhận định chủ quan, mà được khẳng định bằng những đánh giá thẳng thắn của cộng đồng quốc tế. Ông Vojtech Fillip, Phó chủ tịch thứ nhất Hạ viện Cộng hòa Séc, Chủ tịch Đảng Cộng sản Séc-Morava (KSČM) từng nói rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng được khẳng định thông qua những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội cũng như nâng cao uy tín trên trường quốc tế.

Hiện nay, Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cũng được đánh giá cao không chỉ ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây mà cả đối với các nước phương Tây.

Tại một hội thảo được tổ chức vào đầu năm 2020 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Philip Fernandez, thành viên của CVFS, đảng viên Đảng Cộng sản Canada, nhấn mạnh việc Việt Nam lọt vào nhóm các quốc gia tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hàng đầu châu Á, vị thế không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế, là nhờ vai trò lãnh đạo không thể thiếu của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông nói: "Uy tín và vị thế cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã phản ánh sức mạnh chính trị và ý thức hệ của Đảng, cũng như khả năng tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam khi tìm ra phương hướng trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, và cùng với sự tham gia của nhân dân để đưa ra chương trình nghị sự nhằm xây dựng một nước Việt Nam hiện đại”. Và, việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối bắt nguồn từ đâu nếu không phải từ niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với Đảng Cộng sản Việt Nam?

Những thành quả mà nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận. 

Chiêu bài cố tình nhồi nhét, áp đặt dư luận bằng những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự nó đã lỗi thời!./.

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

TIẾP TỤC PHÁT HUY MẠNH MẼ ĐỘNG LỰC, NGUỒN LỰC CỦA ĐỔI MỚI

Nếu quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố tiềm ẩn và hiển hiện có thể nhận biết được.

Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại.

Hai là, những thành quả của đổi mới lại tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực cho nó, tạo cho đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp thêm năng lượng mới.

Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai, vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù; nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.

Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu biết cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn lực bên ngoài bao gồm: Vốn, kỹ thuật-công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám, tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước, chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp, chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và của nhân dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước.

Rõ ràng, công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC THÀNH QUẢ CHỐNG DỊCH CỦA VIỆT NAM

Hiện nay, lợi dụng các trang mạng xã hội các thế lực thù địch, phản động đã tung tin, phát tán nhiều tin bài, hình ảnh không đúng về hoạt động chống dịch ở Việt Nam, chúng cho rằng: “trước tình hình diễn biến nghiêm trọng, chính quyền chỉ biết cách ly những khu vực có người nhiễm… và xem họ như một loại tội phạm, người dân thất nghiệp không có nguồn tiền sinh sống, nhưng không được chia sẻ, cứu trợ,...Đây là những tin bài, hình ảnh sai sự thật về thành quả chống dịch của Việt Nam. Trái ngược hoàn toàn với quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác chống dịch, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân.

Ngay khi dịch bùng phát, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hộim, Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 đã chủ động chỉ đạo sát sao, quyết liệt, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc và thực hiện các biện pháp mạnh mẽ, tích cực để ngăn chặn dịch bệnh. Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, từ khi dịch bệnh COVID-19 xuất hiện ở Việt Nam, cùng với việc nỗ lực tìm kiếm, tiếp cận, đàm phán, trao đổi với các nhà sản xuất, đối tác phát triển, cung ứng vaccine phòng COVID-19 trên thế giới để nhanh chóng có vaccine phòng chống dịch bệnh chủ động cho Việt Nam. Bộ Y tế đã chỉ đạo các đơn vị nghiên cứu phát triển và sản xuất vaccine trong nước chủ động, tích cực, khẩn trương triển khai nghiên cứu phát triển, thử nghiệm lâm sàng vaccine “made in Việt Nam”, ban hành Quyết định số 2301/QĐ-BYT thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình nghiên cứu chuyển giao công nghệ và sản xuất vaccine phòng COVID-19. Các doanh nghiệp Việt Nam đã thảo luận, đàm phán với Nhà sản xuất Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên bang Nga để sớm tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine cho Việt Nam, cuối 2021 đến đầu 2022 sẽ chủ động vaccine trong nước.

Ngay đầu tháng 6/2021, Quỹ vắc-xin phòng, chống dịch Covid-19 đã chính thức ra mắt với sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tính đến ngày 20/7/2021, tổng cộng số tiền đã chuyển vào Quỹ vắc-xin phòng, chống dịch Covid-19: 8.185.000.000.000đ (đã bao gồm quy đổi từ ngoại tệ về VNĐ).

Hiện nay, Việt Nam đã tiêm được hơ 8 triệu liều vaccine Covid – 19 và mỗi ngày có hàng nghìn lượt người được công bố khỏi bệnh về với gia đình. Đặc biệt, thời gian vừa qua dịch ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam bùng phát mạnh, nhiều người dân không có việc làm Chính phủ và chính quyền địa phương đã kịp thời hỗ trợ nhân dân về nhu yếu phẩm, phương tiện về quê miễn phí, quyết tâm không để bất kỳ người dân nào thiếu đói, thiếu mặc,… hình ảnh cụ già, e nhỏ giành tiền tiết kiệm để ủng hộ đồng bào miền nam chống dịch, rồi từng đoàn cán bộ, Bác sỹ, ý tá miền Bắc tạm gác lại công việc cơ quan, gia đình lên đường chia lửa cùng đồng đội phía nam chống dịch,… điều đó đã chứng tỏ tinh thần đoàn kết, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, toàn thể dân tộc Viêt Nam đang quyết tâm chống dịch, như chống giặc. Bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân, của đồng bào. Thế mà, có kẻ cam tâm, đưa ra những lời lẽ, thông tin bịa đặt, sai trái làm méo mó, bôi nhọ quyết tâm chống dịch của nhân dân ta, thật đáng lên án, đấu tranh vạch trần âm mưu đen tối của chúng.

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

KHÉP LẠI QUÁ KHỨ NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC PHÉP QUÊN ĐI LỊCH SỬ

Khi nói về lịch sử, đại văn hào Victor Hugo từng khẳng định: Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là phản chiếu tương lai trên quá khứ. Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có mối quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Lịch sử chính là thước đo chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, vì vậy những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam sẽ mãi trường tồn cho dù thời gian trôi qua.

Nhìn về quá khứ không phải là để nung nấu hận thù, càng không phải để kích động tư tưởng bài ngoại, mà nhớ về quá khứ chính là cơ sở để xây dựng lòng tự tôn, tự hào dân tộc trong mỗi người, từ đó suy nghĩ sáng suốt, hành động hiệu quả để không làm tổn thương cha ông ta những người đã không ngại gian khổ hy sinh để giành nền độc lập tự do cho dân tộc.

Để có được nền hòa bình, độc lập, thống nhất ngày hôm nay, dân tộc chúng ta đã phải trải qua biết bao gian khổ hy sinh, trên mỗi con đường mỗi thửa ruộng đi qua in dấu chân biết bao người anh hùng. Trong các cuộc trường chính dân tộc lớp lớp thế hệ cha anh lên đường ra mặt trận, bỏ lại sau lưng mẹ già, em thơ, vợ trẻ, họ chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc, lịch sử được viết lên bởi những tấm lòng trung kiên về một thế hệ không biết cúi đầu, họ nguyện hiến dâng xả thân vì Tổ quốc.

Trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu với biết bao cuộc xâm lăng của các thế lực ngoại bang với nền kinh tế hùng mạnh, vũ khí tối tân, nhưng tinh thần yêu nước cùng với sự đoàn kết đã làm nên sức mạnh, giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, không những không chịu khuất phục mà còn đương đầu, chiến đấu và chiến thắng. Khát khao hòa bình, khát khao chiến thắng thôi thúc bao con tim tự nguyện lên đường đi chiến đấu. Toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo Đảng - Bác Hồ vùng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, không kể phụ nữ chân yếu tay mềm, không kể chi tuổi tác già nua với khí thế sục sôi tất cả cho tiền tuyến. Cuộc chiến tranh thắng lợi tạo ra một bước ngoặc lịch sử vĩ đại mang tên thời đại Hồ Chí Minh.

Giờ đây nước nhà thống nhất Bắc Nam sum họp một nhà, dân tộc ta vừa xây dựng đất nước vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách chống phá Đảng- Nhà nước ta. Dư âm của cuộc chiến tranh khốc liệt vẫn còn đó, nỗi đau nhức nhối của các anh thương bệnh binh, bao em bé nhiễm chất độc màu da cam có lớn mà không có khôn, bao cảnh vợ mất chồng, mẹ mất con, nước mắt mẹ cạn khô cạn vì những người con thân yêu lần lượt ra đi mãi mãi không trở về, hàng triệu người con đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc. Khắp nơi trên đất nước Việt Nam những nghĩa trang sừng sững minh chứng cho cuộc chiến đấu khốc liệt.

Với những hy sinh, mất mát to lớn không gì bù đắp được, chúng ta càng thấm thía giá trị của độc lập, tự do, của hòa bình, thống nhất. Chúng ta càng phải kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng đã giành được, giữ gìn độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; tiếp tục nỗ lực phấn đấu hết sức mình để các thế hệ người dân Việt Nam mãi mãi được sống trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc./

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2020

CHIÊU TRÒ CŨ CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG

Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, với việc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các phần tử cơ hội và thế lực thù địch đã đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, sai trái, bóp méo sự thật nhằm thực hiện ý đồ chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Một trong số những quan điểm mà chúng đưa ra là: “Ở Việt Nam, thực hiện thể chế nhất nguyên chính trị là không dân chủ, vì thế, để có dân chủ thì cần phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Những luận điệu trên cùng với cái gọi là “xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lênin” với quan điểm “kinh tế quyết định chính trị”, chúng cho rằng: “kinh tế đa thành phần thì chính trị phải đa nguyên”, và từ đó, những đối tượng cơ hội, thù địch đòi hỏi phải xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013).

Có thể nhận thấy những luận điệu nêu trên không mới và ngày càng bộc lộ đầy đủ nhất những ý đồ chính trị đen tối nhằm tạo cớ cho sự hình thành các tổ chức chính trị phản động đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, là tiếp tục thực hiện các bước của chiến lược “diễn biến hòa bình” từ đó tiến hành bạo loạn, lật đổ, gây bất ổn chính trị - xã hội trong nước. Nếu chúng ta nhận thức không đúng thì sẽ rơi vào cái “bẫy” của họ, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như ở Liên Xô và Đông Âu đã từng diễn ra. Vì rằng, những luận điệu nêu trên sai cả về phương diện lý luận và thực tiễn.

Thứ nhất về phương diện lý luận:

Các thế lực thù địch “xuất phát” từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin là “kinh tế quyết định chính trị” để cho rằng, kinh tế nhiều thành phần thì chính trị phải đa nguyên là hoàn toàn trái với ý nghĩa nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khi nói kinh tế quyết định chính trị, thì điều quan trọng cần phải lưu ý là chủ nghĩa Mác không bao giờ xem kinh tế là yếu tố duy nhất mà bên cạnh yếu tố kinh tế còn có những yếu tố khác. Tất cả các yếu tố ấy đều nằm trong một chỉnh thể thống nhất tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên sự vận động, biến đổi của xã hội.

Mỗi quốc gia, dân tộc đều có một lịch sử hình thành, phát triển và có truyền thống riêng của mình. Từ đó, nó tạo nên tính đặc thù của mỗi quốc gia, dân tộc và được thể hiện qua các hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần của con người, trong đó có hoạt động chính trị. Như vậy, để xem xét một thể chế chính trị thì phải xem xét một cách toàn diện, chứ không chỉ xem xét một mặt, một yếu tố nào đó. Nếu tuyệt đối hóa, đề cao một mặt, một yếu tố nào đó sẽ là phiến diện, một chiều không khỏi mắc phải sai lầm trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Những quan điểm nêu trên chính là cơ sở lý luận để khẳng định Việt Nam thực hiện thể chế chính trị nhất nguyên trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp.

Thứ hai, về phương diện thực tiễn:

Dưới góc độ kinh tế, trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, thì thành phần nào giữ vai trò thống trị, chi phối các thành phần kinh tế khác sẽ là cơ sở kinh tế để quyết định hình thức tổ chức chính trị. Hiện nay, ở Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại, nhưng thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

Dưới góc độ truyền thống đoàn kết toàn dân tộc, trong chiều dài lịch sử của đất nước, truyền thống đoàn kết của nhân dân ta luôn được phát huy, tạo thành sức mạnh vô địch trong phòng chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm. Truyền thống đoàn kết đó đã được đúc kết thành chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”; đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Về vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam: Hơn 90 năm từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tộc vượt qua mọi thử thách của lịch sử, chiến đấu và giành chiến thắng trước những kẻ thù xâm lược hùng mạnh. Đảng đã xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó mọi giai cấp, tầng lớp, lực lượng kề vai sát cánh, đoàn kết, thống nhất phấn đấu vì mục tiêu chung: Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Thực hiện sứ mệnh là lực lượng duy nhất giữ vai trò lãnh đạo, Đảng luôn giữ vững được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân.

Từ những thành quả đã đạt được, mỗi người dân Việt Nam luôn đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng; dư luận quốc tế, chính phủ, nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới đánh giá cao và ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam, nhờ đó uy tín của Đảng không ngừng được xác lập và nâng cao trên trường quốc tế. Đây là cơ sở đặc biệt quan trọng để chúng ta khẳng định việc thực hiện chế độ chính trị nhất nguyên trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam - đó là một thực tế khách quan không phải bàn cãi và không thể phủ nhận!

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

LƯU MANH “THỪA NƯỚC ĐỤC THẢ CÂU”

Nhiều năm qua, đã thành quen thuộc, mỗi dịp người dân cả nước hân hoan hướng tới, kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9… lại xuất hiện những tiếng nói lạc lõng, không chỉ ở nước ngoài mà cả ở trong nước, rêu rao về sự “hùng mạnh, giàu có của Việt Nam Cộng hòa”, từ đó xuyên tạc con đường mà Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, phủ nhận các thành tựu của đất nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong hàng chục năm qua. Đáng tiếc, lại có người mơ hồ tin theo, vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, mà không hiểu rõ, đó là luận điệu dối trá để đầu độc dư luận, thực hiện mưu đồ làm “sống lại” một chế độ bán nước, hại dân đã bị xóa sổ gần nửa thế kỷ. Cũng vậy càng gần đến ngày lễ kỷ niệm để ta sống lại với những ký ức hào hùng của đất nước của dân tộc thì những tiếng “sủa” của bọn “rận chủ” với nội dung xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước; kích động chia rẽ nội bộ, gây hận thù dân tộc. Đây là những nội dung đáng lên án và không thể chấp nhận vì tính phản động của nó gây ra.

TIẾP TỤC LÀ NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI

Đã thành quen thuộc, khi những “tiếng sủa” lạc lõng, không chỉ ở nước ngoài mà cả ở trong nước, rêu rao về sự “hùng mạnh, giàu có của Việt Nam Cộng hòa” lại xuất hiện, từ đó xuyên tạc con đường mà Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, phủ nhận các thành tựu của đất nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong hàng chục năm qua. Đáng tiếc, lại có người mơ hồ tin theo, vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, mà không hiểu rõ, đó là luận điệu dối trá để đầu độc dư luận, thực hiện mưu đồ làm “sống lại” một chế độ bán nước, hại dân đã bị xóa sổ gần nửa thế kỷ. Trên trang blog Chân Trời Mới Media các đối tượng đã tán phát với nhiều nội dung xuyên tạc, phủ nhận chính sách của Đảng, Nhà nước ta đặc biệt là về đối ngoại, nhất là đối ngoại quốc phòng của Việt Nam; bôi nhọ nói xấu Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch. Đây là một bài viết đáng lên án và không thể chập nhận vì tính phản động của nó gây ra.

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2020

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi cách đây 75 năm là dấu mốc lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam thời hiện đại. Vậy mà, những phần tử cơ hội, xét lại trong và ngoài nước, đặc biệt cái gọi là đảng Việt Tân lại cố tình phủ nhận thành quả vĩ đại ấy của dân tộc ta. Chúng cho rằng “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “là đi ngược lại sự bảo hộ của mẫu quốc”, “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”... Đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn của những kẻ thiếu lương tri... quên đi “vết nhơ” của lịch sử dân tộc ta đã phải chịu cảnh nô lệ, lầm than hơn 80 năm.

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

THÀNH QUẢ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM LÀ ĐIỀU KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Lập hiến và lập pháp là một trong những hoạt động quan trọng và đặc trưng nhất của Quốc hội Việt Nam. Chức năng này đã được thể hiện xuyên suốt qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013. Ngoài Hiến pháp năm 1946 quy định nguyên tắc chung “Nghị viện nhân dân đặt ra các pháp luật”, thì cả 4 bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định Quốc hội là cơ quan lập hiến và lập pháp. Qua mỗi bản Hiến pháp, cơ chế thực hiện chức năng lập pháp của Quốc hội được kế thừa, phát triển và ngày càng được làm rõ hơn. 

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2020

“CON RỐI” ĐỘI LỐT NHÂN QUYỀN

Tổ chức HRW được thành lập năm 1988 trên cơ sở hợp nhất tổ chức Helsinki Watch (do Robert L.Bernstein thành lập năm 1978 với mục đích "giám sát" Liên Xô bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm "bảo vệ" nhân quyền tại nước này) với một số tổ chức quốc tế khác có cùng tôn chỉ, mục đích nghiên cứu và cổ vũ cho phát triển nhân quyền. Nói là chuyên nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền, nhưng nhìn vào những hoạt động của HRW người ta không khó để nhận ra tổ chức này đã và đang “lời nói không đi đôi với việc làm”, ngày càng xa rời, thậm chí đi ngược tôn chỉ, mục đích.

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2019

NHÌN LẠI 2018 – KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN, XUYÊN TẠC THÀNH QUẢ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM


              Vừa qua, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) ở Hoa Kỳ đã ra “Phúc trình năm 2019”. Trong phần về Việt Nam, báo cáo này viết: “Tình hình nhân quyền Việt Nam-xuống cấp nghiêm trọng”, “Chính phủ Việt Nam đã đàn áp những người đấu tranh cho nhân quyền một cách hệ thống-đã “xâm phạm các quyền dân sự và chính trị cơ bản” như cản trở các quyền tự do biểu đạt, chính kiến và ngôn luận; ngăn chặn các quyền tự do báo chí và tiếp cận thông tin. Đây là quan điểm sai lầm mang tính kỳ thị, thể hiện ý đồ xấu đối với Việt Nam. Bởi lẽ, đối với nhân dân Việt Nam, quyền con người không thể tách rời độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thực tế, trong năm 2018, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được củng cố; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc. Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam đã chủ động ứng phó với các tình huống phức tạp, bảo đảm an ninh, an toàn cho ngư dân và các hoạt động kinh tế biển. Thúc đẩy đàm phán, hợp tác giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới, lãnh thổ; xây dựng, quản lý biên giới hòa bình, ổn định và phát triển. Nhìn lại năm 2018, cho dù các thế lực thù địch tán phát thông tin xuyên tạc, bôi đen chế độ xã hội cũng không thể phủ nhận được thành quả quyền con người của nhân dân Việt Nam.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2018

BẢO VỆ THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG LÀ "PHẢI BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ XA"

Hiện nay, trước sự sụp đổ của hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thoái trào; chủ nghĩa tư bản và các thế lực phản động đã và đang tiếp tục thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đối với các nước xã hội chủ nghĩa trong đó Việt Nam là một trọng điểm chống phá. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay cần phải có sự nhận thức mới trong tư duy và hành động. Bài học kinh nghiệm từ Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa to lớn cho Đảng ta vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ta hiện nay.
Để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta đã đề ra nhiều kế sách, phương thức, phương châm, một trong những phương thức, phương châm mang tính nguyên tắc được đúc kết ra qua quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; tổng kết qua 30 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến. Đây là một quá trình nhận thức và hành động của Đảng qua tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, trong bối cảnh tình hình đất nước, thế giới và khu vực có nhiều thuận lợi nhưng cũng phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức phức tạp và khó lường.
Quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự kế thừa tư tưởng giữ nước truyền thống của dân tộc “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong tình hình mới,  đồng thời thể hiện tư duy, nhận thức mới của Đảng về phương thức, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, về không gian là bảo vệ từ bên ngoài biên giới lãnh thổ; về thời gian là bảo vệ, phòng ngừa, chủ động từ trước, chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa nguy, lấy việc phòng ngừa từ trước, chuẩn bị từ trước là chủ yếu, theo phương châm không cần tiến hành chiến tranh là thượng sách.
Hiện nay, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, biên giới, biển đảo, nhất là ở Biển Đông diễn ra gay gắt; các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”… Trong bối cảnh đó, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, quán triệt thấu suốt phương châm bảo vệ Tổ quốc từ xa của Đảng trong thời gian tới cần phải: Làm tốt công tác nắm, dự báo chính xác tình hình quốc tế, trong nước, nhất là những động thái mới về quốc phòng, an ninh và xu hướng phát triển của nó tác động đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nắm vững phương châm, phương thức tiến hành bảo vệ Tổ quốc hiện nay; Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.