Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”. Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc đó là các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước

Để thực hiện âm mưu này, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng triệt để vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam bằng thủ đoạn chủ yếu sau:

Một là, kích động mâu thuẫn giữa các tôn giáo, lôi kéo quần chúng có đạo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

Hiện nay, các thế lực thù địch tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, tuyên truyền kích động mâu thuẫn, xung đột, nhất là đối lập về hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản; vu cáo cộng sản diệt đạo, vu cáo Nhà nước đàn áp tôn giáo làm cho bộ phận quần chúng lạc hậu ngộ nhận tin theo, từ đó, tạo lực lượng chống đối ngầm chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bằng mọi thủ đoạn, đặc biệt là lợi dụng triệt để phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, mạng xã hội… các thế lực thù địch tổ chức in, ấn, tán phát, truyền bá các tài liệu xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, dưới danh nghĩa các “kỷ yếu hội nghị tôn giáo”, “thông điệp", “lời chứng”…  của các tín đồ trong nước hoặc các tổ chức tôn giáo phản động lưu vong ở nước ngoài vu cáo “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kích động tín đồ chống lại đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Hai là, xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Trong những năm qua, với chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đại đa số các chức sắc tôn giáo yên tâm làm việc đạo, có tinh thần dân tộc, đồng tình với đường hướng “tốt đời, đẹp đạo”, có sự điều chỉnh theo hướng thích nghi, hợp tác với chính quyền để tăng cường truyền giáo.

Tuy nhiên, có một số người mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, giữ thái độ cực đoan, quá khích gây tổn hại đến lợi ích dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân, thậm chí một số người ra mặt chống đối pháp luật. Những phần tử này đã lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền trong vùng đồng bào có đạo. Đặc biệt là việc đòi phục hồi những tổ chức tôn giáo có từ thời Mỹ, nguỵ, kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước. Bên cạnh đó, các thế lực phản động bên ngoài cũng không ngừng gia tăng hoạt động bảo trợ cho hoạt động truyền đạo trái phép ở Tây Bắc, Tây Nguyên và một số địa phương khác, cùng với sự xuất hiện các “đạo lạ”, tà đạo làm cho nhiều nơi mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống, lao động của nhân dân.

Ba là, lợi dụng giáo lý, giáo luật, những kẻ đứng đầu cực đoan trong một số tôn giáo và hoạt động sinh hoạt tôn giáo để kích động tín đồ chống lại chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Ở một số nơi đã xuất hiện việc lợi dụng các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo, làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền, xuyên tạc và chống phá chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, làm cho tín đồ giảm lòng tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; mức độ cao hơn là làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.

Lợi dụng và ủng hộ một số chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, quá khích để kích động chia rẽ các tôn giáo, giữa tôn giáo với dân tộc, với Đảng và Nhà nước. Chúng ra sức đẩy mạnh các hoạt động ngầm, cổ xuý các phần tử cực đoan trong các tôn giáo móc nối với nhau dự định cho ra đời tổ chức liên tôn giáo để hợp sức chống phá cách mạng như: Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Thích Quảng Độ (Phật giáo), Lê Quang Liêm (Phật giáo Hoà Hảo)… ở đầu thế kỷ XXI.

Bốn là, lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, thăm thân, du lịch, các tổ chức phi chính phủ (NGO)...  để lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số có đạo chống phá chính quyền Việt Nam

Đây là một trong những thủ đoạn mới mang tính hợp pháp, công khai mà các thế lực thù địch đã và đang sử dụng với mục đích hỗ trợ bọn phản động, cực đoan trên địa bàn hình thành các nhóm tổ chức, tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng và tiến hành các hoạt động phá hoại.

Thủ đoạn này rất tinh vi, khó nhận biết, bởi lẽ nó được núp dưới các hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”... của các tổ chức NGO trá hình.

Sẽ không có gì phải lưu tâm khi các tổ chức này hoạt động theo đúng mục đích, tôn chỉ của nó. Vấn đề đáng chú ý là, các thế lực thù địch sử dụng những tổ chức này để thâm nhập vào các địa bàn chiến lược, khu vực nhạy cảm của nước ta để thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; tiếp cận, chỉ đạo bọn phản động, cực đoan tiến hành các hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi “tự trị, ly khai” nhằm gây mất ổn định và tạo cớ can thiệp.

Như vậy, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay là đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm, vừa công khai, hợp pháp, vừa bí mật, bất hợp pháp cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội với nhiều tổ chức, nhiều lực lượng… để đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia Việt Nam thành nhiều “quốc gia” trong sự khống chế của chúng.

Những thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch đã làm cho cuộc sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, vùng sâu, vùng xa ở nước ta đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, các thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch có đạt được mục tiêu hay không còn phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của ta./.

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA NHỮNG KẺ HẠI NƯỚC, HẠI DÂN

Cùng với sự phát triển của internet và mạng xã hội, các đối tượng phát tán thông tin xấu, độc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta rất đa dạng, phức tạp; đa thành phần, nhiều tầng nấc; đủ kiểu loại với nhiều chiêu thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; đáng kể là các “cơ quan đặc biệt nước ngoài” có chính sách thù địch với Việt Nam. Đó là một số nước phương Tây, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các tổ chức quốc tế, các tổ chức tư nhân nước ngoài chống Việt Nam. Cùng với đó là nhóm đối tượng phản động người Việt lưu vong được sự bảo trợ, tiếp sức, “bơm tiền” của một số phần tử cực hữu trong chính giới phương Tây.

Cùng với đó là các cá nhân, tổ chức phản động gồm “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”…; các trung tâm phá hoại tư tưởng bên ngoài như BBC, RFA, RFI, VOA, các kênh youtube: “Nhân việt TV”, “Thời báo.de”, Chân trời mới, Đáp lời sống núi; blog “người buôn gió”…và một số đối tượng phản động, chống đối cực đoan trong nước, các đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn; những cá nhân thiếu hiểu biết do trình dộ nhận thức kém, thiếu thông tin…

Phần lớn các đối tượng, tổ chức nêu trên đều đang sinh sống ở nước ngoài, có nguồn tài chính độc lập, thậm chí có các hệ thống, công cụ hỗ trợ phục vụ cho các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Hiện nay, một số đối tượng quản lý, điều hành hệ thống mạng, tài khoản xã hội như facebook, yutube, twiter…với số lượng người theo dõi, truy cập rất lớn. Tiền thu được bởi việc chia sẻ quảng cáo từ những trang mạng xã hội là một trong những nguồn thu chính, giúp các đối tượng này duy trì hoạt động. Họ đang móc nối, liên kết, sản xuất các tin, bài viết, các video clip có nội dung xấu, độc, sặc mùi thù hận, vu khống, chống đối. Ngoài ra, nguồn kinh phí chủ yếu để các đối tượng này duy trì hoạt động là khoản đóng góp của các đối tượng phản động trong và ngoài nước thông qua nhiều tài khoản ngân hàng khác nhau.

Các mô thức, chiêu trò, thủ đoạn thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội và Công an

Âm mưu cơ bản, xuyết suốt và lâu dài của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta là sử dụng internet, mạng xã hội thông qua hệ thống mạng, tài khoản xã hội: facebook, youtube, twiter, zalo… viết tin bài, dàn dựng các video clip có nội dung xấu, độc, tính chất “giật gân” để khêu gợi sự tò mò, hiếu kỳ của cư dân mạng thông qua việc móc nối, liên kết, vào hùa với nhau để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Với tần suất lớn, liên tục trong một thời gian ngắn, các tin bài, video clip thường được tung lên mạng xã hội vào đêm muộn, về sáng (theo giờ Việt Nam) nhằm gây khó khăn cho các cơ quan xử lý, khó ngăn chặn, bóc gỡ. Hơn thế, lại thu hút số lượng người đọc rất lớn ngay từ sáng sớm. Cùng với chiêu trò thâm độc “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tụ chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, các thế lực thù địch muốn đạt được mục đích: hướng lái nước ta đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa; tiến tới thay đổi chế độc chính trị – xã hội Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị ở Việt Nam.

Để thực hiện âm mưu này, họ đã và đang sử dụng những thủ đoạn:

(1) Gây nhiễu thông tin, tập trung chủ yếu vào những vấn đề được xem là “tuyệt mật, nội bộ, nhạy cảm” liên quan đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an. Mũi nhọn chống là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng: chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

(2) Tổ chức chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, bôi đen, hạ thấp uy tín, vị thế của một số đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Quân dội và Công an; phá hoại nội bộ, làm xói mòn, suy giảm niềm tin; tạo sự nghi ngờ về phẩm chất, uy tín, năng lực của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

(3) Kích động quần chúng nhân dân biểu tình; khiếu kiện dài ngày, gây rối an ninh, trật tự, kêu gọi người dân biểu tình “đường phố” nhằm gây áp lực đối với chính quyền; tập dượt để thực hiện “cách mạng màu” ở nước ta.

(4) Sử dụng các chiêu bài “tự do dân chủ, nhân quyền”, “dân tộc, tôn giáo”; “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”… để vu cáo Việt Nam vi phạm, đàn áp dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; kêu gọi ủng hộ, can thiệp, đòi thả tự do cho các đối tượng chống đối bị cơ quan phát luật Việt Nam xử lý.

(5) Tuyên truyền, xuyên tạc phá hoại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, Quân đội và Công an.

Với những diễn biến phức tạp của những âm mưu thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó nhận biết, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, vững vàng về chính trị, tư tưởng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta và đấu tranh chống lại các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lại càng quan trọng và nặng nề.

XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỒNG MINH VỚI HOA KỲ TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC

Trước Cách mạng tháng Tám, Mặt trận Việt Minh đã thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ, quốc gia giữ vai trò chủ chốt trong phe Đồng Minh. Đó là lý do để Chủ tịch Hồ Chí Minh khảng khái tuyên bố trong Tuyên ngôn Độc lập: "Một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh mấy năm nay"…

Ngoài tiếp xúc và thiết lập quan hệ với Trung Hoa dân quốc, một trong những lực lượng Đồng Minh mà Việt Minh quan tâm là Hoa Kỳ.

Các hoạt động tình báo của Hoa Kỳ nhắm đến Đông Dương thực sự bắt đầu ở Trung Quốc vào tháng 5/1942 khi Đại úy Hải Quân Mỹ Milton Edward Miles đã đến Trung Quốc với nhiệm vụ thiết lập cơ sở tình báo, chuẩn bị những điều kiện cho các cuộc đổ bộ của Hải quân Hoa Kỳ những năm sau đó.

Về phía Việt Minh, sự quan tâm đến Hoa Kỳ được đẩy lên một bước mới từ cuối năm 1942, khi Chiến tranh thế giới thứ hai có những biến chuyển hết sức nhanh chóng, nhất là khi chiến tranh tại khu vực Thái Bình Dương đang ngày càng khốc liệt.

Việt Minh nhận thấy đây là cơ hội tốt cho việc tranh thủ sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với công cuộc giải phóng dân tộc. Đặc biệt, nắm bắt nhu cầu tin tức của Hoa Kỳ về tình hình trên bán đảo Đông Dương, Hồ Chí Minh và Việt Minh chủ trương chủ động bắt liên lạc và đứng hẳn về phía Hoa Kỳ và phe Đồng Minh, thể hiện quyết tâm chống quân phiệt Nhật.

Mùa Đông năm 1944, một chiếc phi cơ của không quân Mỹ bị quân Nhật bắn rơi trên địa phận xã Đề Thám (huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, Trung úy phi công William Shaw phải nhảy dù xuống một vùng núi gần đó.

Trong khi đang bị cả quân đội Nhật Bản và Pháp lùng bắt, phi công Shaw đã được một người dân địa phương giúp đỡ và dẫn đường thoát ra khỏi vùng nguy hiểm, đến ấn náu ở một hang núi.

Dưới sự sắp xếp của một cán bộ Việt Minh, Trung úy Shaw được đưa tới gặp Phạm Văn Đồng và ông lập tức cử người đưa Trung úy Shaw đi gặp Hồ Chí Minh (lúc này đang ở tại biên giới Việt Nam- Trung Quốc).

Đầu tháng 3/1945, Hồ Chí Minh thực hiện chuyến đi tới Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), giúp đưa phi công W. Shaw trở về Tập đoàn không quân số 14 của Hoa Kỳ (ở Côn Minh lúc đó có Bộ Tổng tham mưu lục quân của Tướng Hà Ứng Khâm, Bộ Tư lệnh Không Quân Hoa Kỳ, phái đoàn quân sự Anh và một phái đoàn quân sự Pháp).

Hoa Kỳ đã bày tỏ lòng biết ơn đối với Việt Minh và Hồ Chí Minh, ngỏ ý tặng thuốc men, tiền bạc giúp đỡ Việt Minh.

Sau khi Nhật tiến hành chiến dịch Meigo, đảo chính Pháp vào ngày 9/3/1945, kiểm soát hoàn toàn Đông Dương, Hoa Kỳ chủ trương ủng hộ việc duy trì mối quan hệ tốt đẹp với bất kỳ tổ chức nào tại Đông Dương thuộc Pháp giúp đỡ một cách hiệu quả việc giải thoát lính Mỹ. Theo đánh giá của OSS thì “Việt Minh như một bộ máy kháng chiến hiệu quả duy nhất ở Việt Nam”[1], là một lực lượng có thể tin cậy được trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít.

Tại Côn Minh, các tháng 3 và 4/1945, nhân danh Việt Minh, Hồ Chí Minh tích cực tiếp xúc với cơ quan cứu trợ không quân Hoa Kỳ (AGAS), Trung úy Charles Fenn, Tướng Chenault và Thiếu tá tình báo Hoa Kỳ A. Patti …, vận động công nhận tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát xít.

Tiếp xúc với những nhân vật này, Hồ Chí Minh chuyển cho họ những thông tin về những cuộc chuyển quân mới nhất của quân đội Nhật Bản ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, khẳng định những hoạt động quân sự dọc theo biên giới Việt - Trung là âm mưu mới của Nhật, nhằm phòng ngừa một cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh vào Đông Dương.

Hồ Chí Minh cam kết Việt Minh sẽ sẵn sàng làm việc và cộng tác chặt chẽ với lực lượng không quân, tình báo của tướng Claire Chennault, với OSS, Cơ quan thông tin chiến tranh Hoa Kỳ (OWI) để cung cấp tin tức về quân đội Nhật Bản và các mục tiêu hoạt động của họ.

Hồ Chí Minh cũng giải thích cho Hoa Kỳ hiểu rằng, Việt Minh là một tổ chức đa năng, vừa là tổ chức chính trị, vừa là lực lượng vũ trang. Lực lượng này đã tổ chức thành những đơn vị du kích và đã tích cực tiến hành một cuộc chiến đấu không cân sức chống lại quân phiệt Nhật.

Hồ Chí Minh khẳng định: Ở Đông Dương, không còn lực lượng nào khác chống lại quân phiệt Nhật ngoài Việt Minh; nêu rõ quan điểm nhất quán của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống quân phiệt Nhật.

Trước thiện chí của Việt Minh và nhu cầu nắm bắt thông tin về quân Nhật ở Đông Dương, OSS và OWI có nhu cầu thiết lập mối liên hệ với Việt Minh. Do tác động của những yếu tố nói trên, cuối tháng 4/1945, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Minh và OSS đã được thiết lập.

Sau khi quan hệ được thiết lập, Mặt trận Việt Minh và lực lượng Hoa Kỳ có mặt ở Đông Dương đã phối hợp hành động, cùng hợp tác khá chặt chẽ. Người Mỹ nhận cung cấp các phương tiện thông tin liên lạc, người sử dụng các phương tiện ấy và huấn luyện người của Việt Minh có thể sử dụng chúng thành thạo. Ban không trợ mặt đất của Mỹ đã lập một mạng lưới vô tuyến điện từ Hà Nội đến Sài Gòn. Trung úy C. Fenn, phụ trách nhóm tình báo Đồng Minh hoạt động ở Việt Nam được giao nhiệm vụ làm liên lạc giữa OSS và Việt Minh.

Về phía Việt Minh, một mặt, tăng cường lực lượng du kích, mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng này; mặt khác, cung cấp những tin tức tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường chống Nhật ở Đông Dương...

Nhờ sự giúp đỡ của Việt Minh, Hoa Kỳ dễ dàng thiết lập được một hệ thống tình báo và hệ thống này hoạt động khá hiệu quả, thu thập thông tin về Đông Dương và quân đội Nhật Bản chuyển về cho các cơ quan liên quan xử lý, ra quyết sách.

Các cán bộ Việt Minh ở Côn Minh đã in 8 vạn tờ truyền đơn tiếng Việt nhờ Không quân Mỹ đem rải ở miền Bắc Việt Nam nhằm khuếch trương thanh thế của Việt Minh, góp phần nhanh chóng nâng cao uy tín của Việt Minh như một lực lượng của phe Đồng Minh chống phát xít.

Ngày 9/5/1945, Hồ Chí Minh viết một lá thư gửi Charles Fern và Berna, cảm ơn sự giúp đỡ của Hoa Kỳ đối với Việt Minh.

Giữa tháng 5/1945, Hồ Chí Minh yêu cầu Trung uý John, báo vụ của OSS, điện về Côn Minh đề nghị thả dù một quyển Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ.

Trong tháng 5/1945, một mặt, Hồ Chí Minh gửi A Patti một bức thư cùng hai tài liệu đề nghị chuyển cho phái đoàn Hoa Kỳ ở Hội nghị Liên Hợp Quốc, kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam; mặt khác, từ Tân Trào, Hồ Chí Minh phái giao liên trao cho A. Patti (lúc này đang ở tại Côn Minh) một thông báo về việc quân đội Nhật Bản xây dựng công sự ở Cao Bằng và trên đường về Hà Nội.

Đầu tháng 6/1945, Hồ Chí Minh điện báo cho A. Patti rằng Việt Minh đã chuẩn bị sẵn sàng hơn 1.000 quân du kích được huấn luyện tốt, tập trung ở Chợ Chu, Định Hóa.

Tháng 6/1945, khi OSS đề nghị Việt Minh bố trí cho một sân bay để máy bay cỡ nhỏ có thể lên xuống, Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ này cho Võ Nguyên Giáp thực hiện và chuẩn bị địa điểm cho sân bay tại xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi sân bay được hoàn tất, chiều 16/7/1945, biệt đội “Con Nai” (The Deer Team)[2] của Cục tình báo chiến lược Hoa Kỳ do Thiếu tá Thomas chỉ huy đã nhảy dù xuống làng Kim Lũng (chiến khu Tân Trào), mang theo một số vũ khí, đạn dược cùng, thuốc men, khí tài thông tin liên lạc...ủng hộ Việt Minh.

Ngày 29/7/1945, biệt đội Con Mèo (Cat Team)[3] do Đại úy Holland chỉ huy nhảy dù xuống Kim Lũng và đến ngày 31/7/1945, Đội này lên đường đến khu vực khác lập căn cứ; tuy nhiên, thành viên đội Con Mèo đã bị người Nhật bắt vào giữa tháng 8/1945. Một thành viên đã trốn thoát và được người của Việt Minh đưa đến Biệt đội Con Nai. Hai thành viên khác là Đại úy Holland và Trung sĩ John Burrowes sau đó được người Nhật phóng thích tại Hà Nội và trơ thành những người Mỹ chứng kiến nền độc lập của Vệt Nam.

Để tiện cho việc tiếp tế vũ khí, đạn dược, biệt đội “Con Nai” đã cố vấn cho Việt Minh xây dựng một sân bay dã chiến ở Lũng Cò (cách Tân Trào khoảng 8 km về hướng Tây Bắc).

Qua một số lần trao đổi với A. Patti, Hồ Chí Minh đã tự mình đến xóm Lũng Cò (xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương) khảo sát địa hình và và tìm hiểu tình hình mọi mặt, chọn địa điểm làm sân bay để đón quân Đồng Minh.

Sau khi được xây dựng, sân bay Lũng Cò đã tiếp nhận thành công một số chuyến bay của không quân Hoa Kỳ cùng vũ khí, đạn dược... tiếp tế cho Việt Minh chống quân phiệt Nhật. Trong lúc Việt Minh còn hết sức khó khăn cùng với Việt Nam giải phóng quân vừa mới thành lập đang thiếu thốn vũ khí trầm trọng thì số lượng vật chất được Hoa Kỳ tiếp tế tuy không lớn nhưng có ý nghĩa thiết thực. Về phía Việt Minh, thời gian này, Việt Minh nỗ lực giúp Hoa Kỳ tìm những người Mỹ đang lẩn trốn khỏi sự bắt bớ của Nhật ở khu tam giác Tuyên Quang- Thái Nguyên-Bắc Cạn.

Đầu tháng 8/1945, Việt Minh tuyển lựa 200 du kích để Đội “Con Nai” huấn luyện sử dụng súng cácbin, M.A.S, tiểu liên Thomson, bazoka, cối và lựu đạn...

Từ ngày 1 đến ngày 6/8/1945, lực lượng Đồng Minh phối hợp với Việt Minh dựng trại huấn luyện và đã huấn luyện khoảng 40 du kích, đồng thời, cùng lực lượng của Việt Minh thành lập “Đại đội Việt - Mỹ” do ông Đàm Quang Trung chỉ huy, Thiếu tá A.K.Thomas làm cố vấn (Hồ Chí Minh đã gọi đội quân này là “bộ đội Việt - Mỹ”).

Đội “Con Nai” tiếp tục huấn luyện du kích Việt Minh cho đến ngày 15/8/1945, khi Tokyo tuyên bố chính thức chấp nhận đầu hàng Đồng Minh.

Sau khi Quân lệnh số 1 về Tổng khởi nghĩa được phát đi, đơn vị này đã tham dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào, cùng Việt Nam giải phóng quân tiến về giải phóng Thái Nguyên.

Sau khi Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương (ngày 14 và 15/8/1945) bế mạc, thay mặt Việt Minh, Hồ Chí Minh nhờ Trung úy John gửi về Bộ Tổng hành dinh của Mỹ bức điện với nội dung khẳng định Việt Minh đã đứng về phía Đồng Minh chống phát xít và mong muốn Đông Dương có được nền độc lập như mong đợi.

Tranh thủ thời cơ do thắng lợi của phe Đồng Minh mang lại, Việt Minh quyết định phát động nhân dân vùng dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Sau khi Việt Minh giành được chính quyền vào tháng 8/1945, quan hệ hợp tác giữa Hoa Kỳ với Việt Minh thay đổi theo chiều hướng đi xuống do Hoa Kỳ muốn để ngỏ cửa cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam.

Mặc dù vậy, ngày 18/8/1945, Hồ Chí Minh một lần nữa viết thư cho Charles Fern, bày tỏ tình cảm với những người bạn Hoa Kỳ và ẩn sâu trong đó là những hy vọng về một mối bang giao Việt- Mỹ. Bức thư có đoạn: “Chiến tranh đã kết thúc. Đấy là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ phải rời chúng tôi quá nhanh. Việc ra đi của họ khỏi đất nước này có nghĩa là mối quan hệ giữa ông và chúng tôi sẽ khó khăn hơn. Chiến tranh đã kết thúc thắng lợi. Nhưng chúng tôi, những nước nhỏ và phụ thuộc, không có phần đóng góp hoặc đóng góp rất ít vào thắng lợi của tự do, của dân chủ. Nếu muốn đóng góp một phần xứng đáng chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu. Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi”[4].

Tuy nhiên, trước những yêu cầu của Chính phủ Việt Minh, Hoa Kỳ đã im lặng.

Cuối tháng 8/1945, Tổng thống H.S.Truman chính thức tuyên bố với Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đang thăm Washington rằng, Hoa Kỳ ủng hộ sự trở lại Đông Dương của Pháp.

Không lâu sau ngày giành được độc lập, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đương đầu với cuộc tái xâm lược của thực dân Pháp.

CHỐNG XA HOA, LÃNG PHÍ – ĐỪNG NÓI SUÔNG

Hiện nay, tình trạng lãng phí với nhiều biểu hiện phức tạp và quy mô khác nhau làm thất thoát nguồn lực quốc gia, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Lãng phí thậm chí còn được nhìn nhận là nguy hại hơn cả tham ô, tham nhũng, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân. Lãng phí mà kết hợp với xa hoa thì rất gần với hủ bại nhân cách, “tự chuyển hóa”.

Dư luận đang rất bức xúc trước những thông tin về “tiệc nghỉ hưu” liên quan đến nguyên Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Ninh. Những hình ảnh xuất hiện trên báo chí và lan truyền trên mạng xã hội cho thấy độ hoành tráng, xa hoa của “lễ chia tay”, “tiệc tri ân” được tổ chức tại khách sạn rồi sau đó là trên hai du thuyền 5 sao cập mạn vào nhau trên vịnh Hạ Long, với sự tham gia của đông đảo quan khách CDC các tỉnh, thành miền Bắc… Cho dù chưa có kết luận cuối cùng về vụ việc, nhưng những hình ảnh đó là hết sức phản cảm, gây nhiều điều tiếng trong dư luận xã hội.

Điều đáng nói, vụ việc xảy ra vào thời điểm ngành y tế đang kiệt quệ vì cuộc chiến phòng, chống đại dịch COVID-19. Thời gian qua, hàng nghìn nhân viên y tế trên cả nước đã xin thôi việc, bỏ việc vì mức thu nhập thấp trong khi công việc vất vả, nhiều áp lực và nguy hiểm đến sức khỏe… Nhằm giữ chân nhân lực ngành y tế, Thủ tướng Chính phủ mới đây đã phải “bật đèn xanh” để xem xét lại chế độ phụ cấp ưu đãi, đồng thời tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, nhân viên y tế bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.

Đặc biệt, nhiều CDC trên cả nước đang vướng vào “đại án” Việt Á. Nhiều lãnh đạo, cán bộ CDC các địa phương đã bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về hành vi tiếp tay cho Việt Á lũng đoạn thị trường kit xét nghiệm vào thời điểm dịch COVID-19 căng thẳng nhất. Đây cũng là vụ án được đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trong bối cảnh “lò lửa” chống “giặc nội xâm” của Đảng ta đang nóng hơn bao giờ hết.

Khi dịch COVID-19 đang có dấu hiệu phức tạp trở lại trong thời gian gần đây kèm theo nguy cơ dịch chồng dịch từ bệnh đậu mùa khỉ, vậy mà cán bộ CDC nhiều địa phương vẫn có thời gian để “tiệc tùng” ở Hạ Long, tổ chức “tiệc nghỉ hưu” cho Chủ tịch Câu lạc bộ CDC miền Bắc? Điều này thực sự tạo ra hình ảnh khó coi, phản cảm, thậm chí như thách thức dư luận.

Không phải tự nhiên dư luận lại đặt ra những câu hỏi như: Phải chăng họ đã sử dụng tiền thuế của dân để tiệc tùng? Nếu không tham ô, tham nhũng thì lấy đâu ra tiền để tổ chức những bữa tiệc xa hoa như vậy? Liệu đằng sau bữa tiệc này có hình bóng của nhóm lợi ích?…

Các thế lực thù địch cũng không bỏ qua cơ hội này để tiếp tục công kích hệ thống chính trị của Việt Nam, “vơ đũa cả nắm” quy kết và bôi nhọ cán bộ, đảng viên, hòng làm lung lay niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Hiện tại, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Quảng Ninh đã vào cuộc xác minh, làm rõ về những dấu hiệu vi phạm đối với Đảng ủy bộ phận CDC Quảng Ninh và nguyên Bí thư Đảng ủy bộ phận CDC Quảng Ninh, nguyên Giám đốc CDC Quảng Ninh. Trong khi đó, nguyên Giám đốc CDC tỉnh Quảng Ninh cũng đã bị tạm dừng xét tặng danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân.

Ở đây, từ góc nhìn xã hội đơn thuần, có thể thấy việc được mọi người quý mến, chia sẻ lúc chia tay trong bất cứ trường hợp nào cũng là điều đáng ghi nhận. Thế nhưng, cái cách thể hiện tình cảm đó sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lại là điều cần được nhìn nhận thấu đáo và chấn chỉnh. Trong vụ việc này, nếu phát hiện vi phạm của tổ chức, cá nhân, thì dư luận cũng rất mong chờ những biện pháp xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có “hạ cánh” an toàn, không để “con sâu làm rầu nồi canh” ảnh hưởng đến uy tín của Đảng.

Trước đây, từng có nhiều bài học liên quan đến việc cán bộ, đảng viên tổ chức tiệc tùng, đám cưới, đám ma… rình rang, linh đình, với sự góp mặt của nhiều “xe biển xanh” và bị nhân dân lên án về thói xa hoa, lãng phí. Trong nhiều vụ án, vụ việc liên quan đến tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng gần đây, những khối tài sản “kếch xù” của một số cán bộ, đảng viên cũng khiến dư luận bức xúc, bất bình, mà nguyên nhân là “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thậm chí suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”.

Tại Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm, Điều 18 nêu rõ: Tổ chức việc cưới, việc tang và các sự kiện khác của cá nhân, gia đình xa hoa, lãng phí hoặc nhằm mục đích vụ lợi. Mới đây nhất, Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng nhận diện “Tổ chức việc cưới, việc tang và các sự kiện khác của cá nhân, gia đình (ngày lễ, tết, sinh nhật, lên chức, mừng nhà mới, mừng thọ, luân chuyển, chuyển công tác,…) một cách phô trương hình thức, lãng phí, gây phản cảm, bức xúc trong xã hội. Lợi dụng việc cưới, việc tang và các sự kiện khác để vụ lợi hoặc đem lại lợi ích riêng cho bản thân, gia đình hoặc cho người khác” là 1 trong 19 hành vi tiêu cực cần tập trung chỉ đạo phòng, chống.

Sinh thời, Bác Hồ từng nhắc nhở rằng lãng phí là một căn bệnh, là tội lỗi với Đảng, với Nhà nước và nhân dân. Sự lãng phí gây ra rất nhiều tác hại trước mắt và hậu quả lâu dài. Từ đó, Người nhấn mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, xa xỉ: “Có tiết kiệm, không hoang phí, xa xỉ, thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí, xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả dối”.

Do vậy, học và làm theo Bác, cần lắm trước hết ở cán bộ, đảng viên những hành động thiết thực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và lối sống xa hoa, thay vì những lời nói suông, đánh trống bỏ dùi; cần lắm những cán bộ, đảng viên “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và nhận thức đúng đắn hành động của mình như dân gian ví von “Vui thôi, đừng vui quá!”.

HỌC BÁC HỒ TRONG VIỆC PHÁT HIỆN, SỬ DỤNG NHÂN TÀI

Lịch sử nhân loại đã chứng minh nhân tài luôn là yếu tố quyết định sự hưng thịnh của quốc gia. Nhiều nước trrên thế giới coi phát triển nhân tài là quốc sách của mọi quốc sách, là bí quyết để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, đánh giá cao tầm quan trọng của nhân tài.

1. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người luôn chú trọng đến việc phát hiện nhân tài, sử dụng nhân tài, trọng dụng nhân tài.

Đối với Hồ Chí Minh, việc tìm nhân tài để kiến thiết đất nước là rất quan trọng. Chính vì điều đó, mà ngay sau khi đất nước giành độc lập, Người đã hết sức chú ý đến việc tìm người có tài, có đức để giúp dân, giúp nước. Cuối năm 1946, Người đăng thông cáo “Tìm người tài đức” trên báo Cứu quốc, kêu gọi đồng bào cả nước ở đâu thấy có người tài giỏi thì xin mách bảo với Chính phủ để Chính phủ sử dụng. Người viết: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Người kêu gọi các địa phương phải tìm và giới thiệu người tài đức, những người “có thể làm được những việc ích nước, lợi dân”, “những người hiền năng” để Chính phủ tuyển lựa và trọng dụng. Nhờ có tấm lòng trọng dụng nhân tài như vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được một lực lượng lớn nhân tài để giúp dân, giúp nước.

Đi đôi với việc phát hiện nhân tài, một vấn đề rất quan trọng mà Bác Hồ yêu cầu đó là người lãnh đạo, quản lý phải biết sử dụng, trọng dụng nhân tài một cách hợp lý, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Theo Bác việc sử dụng, trọng dụng nhân tài là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Người cho rằng, trọng dụng nhân tài phải biết tuỳ tài mà dùng người, “tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”. Phải làm cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến, có gan phụ trách, có gan làm… người lãnh đạo phải biết cách trọng dụng họ, tạo cho họ điều kiện là việc thuận lợi, bố trí công việc hợp lý và có chế độ đãi nghộ thỏa đáng, đồng thời xã hội phải tôn vinh họ.

Trong thực tiễn, Bác Hồ là một tấm gương mẫu mực về trọng dụng nhân tài. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức khác nhau về xuất thân, địa vị xã hội nhưng họ đều là những trí thức có tâm huyết xây dựng nước Việt Nam mới. Thành phần trong Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rất đa dạng, thuộc các tầng lớp khác nhau, trí thức Nho học có các nhân sĩ như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe...; trí thức Tây học, trí thức cách mạng có Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai... Họ đều chung một ý chí, đoàn kết, chung tay góp sức xây dựng chế độ mới, bảo vệ độc lập dân tộc. Trong các giai đoạn cách mạng sau này, Người đã thu phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tài năng tham gia vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc và đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.

2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định đột phá chiến lược trong phát triển nhân tài: “Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả trong và ngoài nước”. Để hiện thực điều đó, trên tinh thần những chỉ dẫn của Bác Hồ, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số vấn đề sau đây.

Một là, trong công tác phát hiện và tuyển chọn nhân tài. Đảng và Nhà nước cần ban hành các tiêu chí, quy định, quy chế cụ thể để đánh giá nhân tài; thành lập các hội đồng đánh giá và tuyển chọn học sinh năng khiếu, sinh viên tài năng. Thường xuyên tổ chức các đợt tuyển chọn nghiêm ngặt, dân chủ, công khai những người giỏi trong tất cả các lĩnh vực thông qua các hình thức khác nhau. Thành viên hội đồng đánh giá, tuyển chọn nhân tài phải là những người thực sự có tài, gương mẫu, có uy tín, am hiểu sâu về lĩnh vực cần tuyển chọn nhân tài; làm việc công tâm, khách quan, dân chủ. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tài năng có thể tự tiến cử, hoặc tiến cử những người tài năng với Đảng và Nhà nước. Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quần chúng bình chọn và phát hiện tài năng thông qua các hình thức thi cử.

Hai là, trong công tác sử dụng và đãi ngộ nhân tài. Cần thực hiện đẩy đủ, nghiêm ngặt trong tuyển dụng nhân tài, thực hiện đồng bộ các khâu từ tiêu chuẩn hóa, dân chủ hóa, trách nhiệm hóa, cấp độ hóa, kiểm nghiệm hóa. Cần sử dụng những hình thức khác nhau, như: thi tuyển, bầu tuyển, tiến tuyển, ứng tuyển, bổ tuyển, tranh tuyển, cử tuyển. Tùy thuộc và từng đối tượng, từng chức danh công việc, từng thời điểm, điều kiện mà cơ quan tuyển dụng sử dụng linh động phù hợp các hình thức đó. Cần tạo môi trường thuận lợi, chú ý đến sở trường, khả năng của nhân tài để bố trí công việc phù hợp, từ đó nhân tài phát huy, cống hiến hết năng lực của mình. Lựa chọn một số người có năng lực, trí tuệ nổi trội để bồi dưỡng họ trở thành những nhân tài trên một số lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn, đồng thời phát triển đội ngũ này trở thành cán bộ lãnh đạo, lãnh đạo cấp cao trong tương lai. Cần xây cơ chế, chính sách ưu tiên, đãi ngộ cho nhân tài qua hệ thống lương, thưởng xứng đáng với sự cống hiến của họ.

Ba là, trong công tác thu hút nhân tài. Cần xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể để thu hút nhân tài từ bên ngoài, đặc biệt là những trí thức người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Cần tuyên truyền vận động toàn xã hội thực sự coi trọng đội ngũ trí thức, nhân tài này, coi họ là tài sản quý giá của đất nước. Đề ra chính sách thông thoáng và hấp dẫn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân tài là kiều bào, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những nhân tài kiều bào có nguyện vọng, có điều kiện về thăm quê hương, kinh doanh sản xuất, nghiên cứu khoa học… nhằm cống hiến cho đất nước. Đối với những nhân tài xuất chúng ở các lĩnh vực mà Việt Nam đang cần thì có thể trả lương tương đương hoặc cao hơn mức lương họ đang hưởng để thu hút họ về nước chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao trí tuệ, công nghệ.

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU BÔI NHỌ CÔNG CUỘC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

Thời gian qua, với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được Đảng, Nhà nước ta tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện Trung ương và địa phương quản lý đều đã bị xử lý về các hành vi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Chỉ trong chưa đầy một năm trở lại đây, có 3 ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII bị cách chức hoặc bị khởi tố và 2 ủy viên Trung ương Đảng khác đang bị đề nghị xem xét, kỷ luật vì có những vi phạm nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn về tiền, tài sản của Nhà nước. Dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được nhân dân hết sức đồng tình, tin tưởng, ủng hộ; uy tín của chế độ ngày càng được củng cố.

Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái, biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị! Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên” của chế độ độc đảng cầm quyền.

Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, không thành công, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Điển hình như trên trang RFA (Đài Á châu tự do) ngày 24/6/2022 đã đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế”. Bài viết đánh lận vấn đề rằng, “Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”.

Tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, nó tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo.

Do đó, việc RFA cũng như các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin.

Thực tế, từ khi ra đời đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã luôn nhận thức rõ tính nguy hiểm của tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Đảng, Nhà nước đã luôn có quyết tâm chính trị cao và kiên quyết phòng, chống, khắc phục tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đảng viên và cán bộ Nhà nước. Đảng, Nhà nước ta luôn coi tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”, một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta cũng xác định phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam.

Minh chứng rõ cho điều đó là các văn kiện của Đại hội Đảng, các chỉ thị, nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, việc xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực, không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” đã được thể hiện rõ kết quả trong báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 được Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 30/6/2022 vừa qua.

Trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Vậy nên, những luận điệu cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái của cán bộ trong Đảng, Nhà nước ta là phổ biến, là “căn bệnh kinh niên, nan y không thể chữa trị của chế độ độc đảng cầm quyền” hay đó là cuộc “đấu tranh, thanh trừng nội bộ giữa các phe phái”… là hoàn toàn sai trái. Đó là những quan điểm cố tình bôi đen, xuyên tạc nhằm làm sai lệch bản chất, ý nghĩa công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta, cố tình lấy cớ để chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.

LOẠI BỎ THÓI PHÔ TRƯƠNG LÃNG PHÍ

Đối với cán bộ, đảng viên, thói phô trương, lãng phí chính là biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm, gây phản cảm, tạo dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của tổ chức Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân. Vì thế, nhất thiết phải loại bỏ thói xấu này ngay từ trong suy nghĩ cũng như hành động.

Dư luận xã hội những ngày gần đây xôn xao khi biết thông tin về “tiệc chia tay”, “tiệc nghỉ hưu” xa hoa, diễn ra vào cuối tháng 6-2022 liên quan đến ông Ninh Văn Chủ, khi đó vẫn là Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Quảng Ninh (nhận quyết định nghỉ hưu ngày 29-7-2022). Được tổ chức trên 2 du thuyền sang trọng cập mạn trên vịnh Hạ Long, bữa tiệc được mô tả là “vô tiền khoáng hậu” về độ hoành tráng với sự tham gia của khoảng 140 người.

Ngay sau khi rà soát thông tin, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Quảng Ninh đã tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với Đảng ủy bộ phận CDC Quảng Ninh và ông Ninh Văn Chủ. Sở Y tế Quảng Ninh cũng đề xuất tạm dừng việc xét tặng danh hiệu Thầy thuốc nhân dân với ông Ninh Văn Chủ cho đến khi có kết luận của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

Thông tin về bữa tiệc khiến dư luận không khỏi bức xúc bởi sự phô trương, lãng phí đến mức phản cảm. Càng phản cảm hơn khi bữa tiệc diễn ra giữa lúc cả nước vẫn đang tập trung cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 và ngành Y tế còn nhiều khó khăn, hàng nghìn nhân viên y tế xin thôi việc, nghỉ việc vì thu nhập chưa đủ sống.

Xét trên nhiều góc độ, soi chiếu với các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, bữa tiệc nói trên dù được chi trả bằng nguồn tiền của cá nhân cũng rất đáng lên án.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã xác định, phải khắc phục ngay tình trạng ăn uống, “liên hoan”, “gặp mặt” không lành mạnh... Điều 18 trong Quy định số 37-QĐ/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Những điều đảng viên không được làm” cũng nêu rõ: Không được tổ chức các sự kiện cá nhân, gia đình xa hoa, lãng phí. Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTƯ ngày 29-11-2021 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thực hiện Điều 18 Quy định số 37-QĐ/TƯ còn nêu cụ thể: Đảng viên không được “Tổ chức việc cưới, việc tang và các sự kiện khác của cá nhân, gia đình (ngày lễ, Tết, sinh nhật, lên chức, mừng nhà mới, mừng thọ, chuyển công tác,...) một cách phô trương, hình thức, lãng phí, gây phản cảm, bức xúc trong xã hội”. Xét theo văn bản mới nhất là Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTƯ ngày 1-8-2022 của Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, việc tổ chức sự kiện “vô tiền khoáng hậu” trên 2 du thuyền nói trên còn thuộc nhóm các hành vi tiêu cực, cần tập trung chỉ đạo phòng, chống.

Có thể khẳng định, vụ việc liên quan đến nguyên Giám đốc CDC Quảng Ninh kể trên là bài học cảnh tỉnh chung cho cán bộ, đảng viên - những người mang trọng trách làm gương cho quần chúng nhân dân về lời nói, hành động và giữ gìn thanh danh của Đảng.

Để không phát sinh thêm những vụ việc tương tự, trước hết cần phải hiểu rằng, thói phô trương, lãng phí chính là làm những việc không đáng làm, không nên làm; lẽ ra chỉ cần làm bé nhưng lại làm to. Đây là thói hư tật xấu rất dễ mắc phải bởi đặc tính khoe khoang, thể hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đối với cán bộ, đảng viên, thói phô trương, lãng phí vừa vi phạm đạo đức cách mạng, vừa không phù hợp với đạo đức xã hội, đi ngược với văn hóa dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Trời có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông/Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính/Thiếu một phương, thì không thành đất/Thiếu một đức, thì không thành người”. Trong đó, hiểu về “Kiệm” theo tư tưởng của Bác, chính là tiết kiệm, không xa hoa, lãng phí, ngay cả khi đó là tiền của mình.

Trị “bệnh” trên, điều quan trọng là phải tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức Đảng trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời, cấp ủy, tổ chức Đảng cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục; có giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên... Trong đó, cần vận dụng các mô hình hay, cách làm mới, đưa việc thực hành nêu gương trở thành ý thức tự giác, việc làm hằng ngày cả khi làm việc và sinh hoạt, cả khi công tác đến lúc đã nghỉ hưu. Cần phải coi trách nhiệm nêu gương là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên; gắn cam kết với sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân.

Một giải pháp khác không thể thiếu là cấp ủy, tổ chức Đảng theo thẩm quyền phải nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý cán bộ, đảng viên; trước hết là nâng cao chất lượng công tác nắm bắt tình hình; chủ động, kịp thời ngăn chặn trước những hành vi có biểu hiện của thói phô trương, lãng phí...

Xét cho cùng, để không xảy ra những sự việc phô trương, lãng phí, phản cảm như trên, ý thức của bản thân cán bộ, đảng viên vẫn là quan trọng nhất. Mỗi người cần thường trực ý thức nêu gương và sâu xa là phải thực sự thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi học tập, tu dưỡng, rèn luyện theo Bác là nhu cầu, lẽ sống tự nhiên, mong muốn vươn lên, hoàn thiện chính bản thân mình.

Hãy ngăn chặn ngay thói phô trương, lãng phí, bắt đầu từ việc thay đổi tư duy, lối sống để góp phần tạo nên những chuẩn mực đạo đức và văn hóa ứng xử mới, phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước!