Hiển thị các bài đăng có nhãn "tự chuyển hóa". Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn "tự chuyển hóa". Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2023

ĐẬP TAN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” ĐỂ XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ ĐẢNG

Để thực hiện những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đã không từ bất kỳ một thủ đoạn nào, chúng thường lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, phức tạp trong nội bộ tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên để khoét sâu, gây mâu thuẫn nội bộ, tạo tâm lý hoang mang dư luận. Hiện nay, chúng triệt để lợi dụng những biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, xuyên tạc, chống Đảng, Nhà nước. Những vấn đề chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc là sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên hay tệ tham ô, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên ở một số cơ quan công quyền. Từ đó, khoét sâu, thổi phồng, đổi trắng thay đen nhằm phủ nhận bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Đảng và sự hy sinh, cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, đấu tranh đập tan âm mưu, thủ đoạn của chúng; đồng thời, tuyên truyền, vận động nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của công cuộc đổi mới./.


Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

TỪ VINH QUANG TRỞ THÀNH TỘI ĐỒ


Viện cớ ông Chu Hảo bị kỷ luật, Nguyên Ngọc đã từ bỏ lý tưởng, từ bỏ hàng ngũ của Đảng, từ bỏ trách nhiệm với nhân dân…xin ra khỏi Đảng. Ông Chu Hảo là một đảng viên, từng là một cán bộ lãnh đạo cấp cao, nguyên Thứ trưởng, ông Chu Hảo hẳn phải gương mẫu trong thực hiện những điều đảng viên không được làm. Thế nhưng, suốt nhiều năm qua, ông Chu Hảo hết lần này đến lần khác vi phạm các điều cấm đó. Chỉ tính riêng từ năm 2011 đến nay, ông Chu Hảo đã tham gia ký tên, soạn thảo 7 kiến nghị, thư ngỏ với nhiều nội dung chưa đúng, không phù hợp, trái với đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta, để các phần tử xấu lợi dụng, xuyên tạc, ảnh hưởng đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Năm 2013, ông Chu Hảo tham gia nhóm nhân sĩ trí thức kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 với đề xuất bỏ Điều 4 về quyền lãnh đạo của Đảng. Năm 2015 ông tiếp tục tham gia ký thư ngỏ gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI cho rằng, sự phát triển của đất nước bị kìm hãm chủ yếu là do Đảng… Ông Hảo còn thường xuyên trả lời phỏng vấn các đài, báo nước ngoài trên những bài viết có nội dung chống cộng, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Do những hành động hại nước, hại dân của Chu Hảo nên ông bị kỷ luật là điều đã rất rõ ràng. Ấy vậy mà, thật lực cười, tỏ ra “thương vay khóc mướn”, Nguyên Ngọc đã công khai bỏ Đảng sau khi Trung ương tuyên bố sẽ kỷ luật Chu Hảo – một đảng viên đã suy thoái. Một người cách mạng chân chính sẽ không bao giờ có chuyện dùng cách mạng, dùng lý tưởng, dùng cả những tháng năm bất khuất, hào hùng của bản thân, cả danh tiếng của mình để đổi lấy một Chu Hảo đầy tội lỗi, đầy sự xấu xa như thế. Con người ta chỉ trừ khi trong lòng không còn có Đảng nữa, quay lưng lại với lịch sử, với nhân dân, tự đánh mất mình mới hành động điên rồ như thế.
Như vậy có thể thấy, việc đảng viên Nguyên Ngọc thoái hóa, biến chất, không giữ vững được lập trường tư tưởng và lời thề trung thành, tự xin ra khỏi Đảng là sự thất bại đáng xấu hổ của gia đình, dòng họ, bạn bè và của chính Nguyên Ngọc, chứ không phải “là thất bại của Đảng” như một số kẻ hàm hồ, quy chụp./.

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

TÁC HẠI CỦA SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG QUAN HỆ VỚI SUY THOÁI VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG – TRÊN PHƯƠNG DIỆN XÃ HỘI

  • - Một làxét chung nhất trên toàn xã hội thì những người suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là cán bộ, đảng viên cộng sản, quan chức Nhà nước, đều gây ra nhiều tiêu cực, không việc này thì việc khác, chẳng lĩnh vực này thì lĩnh vực khác, nơi này hoặc nơi khác… cản trở sự ổn định và phát triển đất nước và dân tộc ta theo mục tiêu - con đường “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”; thậm chí góp phần làm suy  thoái, biến chất - thay đổi bản chất, mục tiêu, các chủ thể…của chế độ ta.
    - Hai là, xét riêng đối với từng tổ chức, từng lĩnh vực thì:
    + Đối với  Đảng cộng sản Việt Nam: những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống  sẽ góp phần trực tiếp làm suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên, nhất là làm mất niềm tin ở Hệ tư tưởng Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chủ trường và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chế độ ta; làm biến chất chế độ xã hội… có thể dẫn đến việc mọi thế lực chống đối trong và ngoài nước đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” theo hình thức tác động để trong Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà phân tán về tư tưởng chính trị, tổ chức, hoạt động… giảm sút về phẩm chất, năng lực lãnh đạo và tổ chức của Đảng… kết hợp với kích động đa nguyên, đa đảng lập các tổ chức phản động, phối hợp với chủ nghĩa đế quốc… gây rối loạn, bạo loạn, lật đổ chế độ ta…
    + Đối với Nhà nước ta: những người suy thoái về 3 mặt trên sẽ trực tiếp làm cho đội ngũ công chức, quan chức - quản lý Nhà nước ta nảy sinh ngày càng nhiều tiêu cực như mất dân chủ, vi phạm các quyền công dân, quyền dân chủ, quyền con người của nhân dân; quan liêu - xa thực tiễn, xa dân; tham nhũng, lãng phí, sống sa đọa… làm biến chất Nhà nước ta, mất niềm tin của nhân dân, làm cho Nhà nước ta ngày càng yếu kém, không còn khả năng quản ký, hướng dẫn, huy động nhân dân bảo vệ và xây dựng đất nước theo mục tiêu đã định… đặc biệt là cản trở mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - một chủ trương lớn của chế độ ta.
    + Đối với các Đoàn thể của Nhân dân ta: đây là bộ phận đông đảo nhất trong cả Hệ thống chính trị nước ta, nhưng do đó cũng… là những tổ chức “linh hoạt, mềm dẻo và rộng rãi hơn”, kể cả về về tư tưởng chính trị (so với các tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Do vậy, những người suy thoái về 3 mặt nêu trên sẽ dễ lợi dụng và tác động hơn, nhất là lạm dụng về về “tự do tư tưởng” chung chung, về “phản biện xã hội”… để góp phần trực tiếp làm chệch hướng, phân tán, chia rẽ, suy yếu… Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể chính trị - xã hội căn bản của nhân dân ta, thậm chí làm rạn nứt cả Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nước ta… khiến cho nó không thể còn là lực lượng đông đảo nhất tập hợp nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam… chủ động, sáng tạo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo mục tiêu - con đường đi lên chủ nghĩa xã hội…

NHỮNG BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN


            1- Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.
              2- Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
            3- Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
           4- Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
          5- Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.
          6- Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.
           7- Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.
          8- Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.
           9- Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

CƯƠNG QUYẾT CHỐNG NHỮNG CĂN BỆNH ĐANG DẪN TỚI SUY VONG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ VAI TRÒ CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG

Nghị quyết TW4 Khóa XII đã xác định 3 nhóm biểu hiện về suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ Đảng ta. Với ngần ấy tật bệnh, dù cho là ở một bộ phận và không phải ai cũng mắc cả 27 biểu hiện ấy, nhưng cần thấy đây là cảnh báo nghiêm khắc của thực tiễn về nguy cơ cho vị thế cầm quyền của Đảng và sự tồn vong của chế độ chính trị nước ta.
Có những căn bệnh hết sức nghiêm trọng mà chỉ cần vướng mắc cũng đã không đủ tư cách đảng viên chứ chưa nói gì đến  việc giữ trọng trách. Theo Lênin, sức chiến đấu của Đảng phụ thuộc vào ba phương diện: chính trị - tư tưởng và tổ chức. Từ tinh thần của Nghị quyết TW4 khóa XII, chúng ta thấy có lý do để quan tâm, lo lắng và cấp bách xử lý ngay một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên đã suy thoái cả ba phương diện ấy.  Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin, xa rời tôn chỉ mục đích, không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội… thì không thể là đảng viên bình thường.
Quan điểm chung là rõ ràng: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”. Phải thừa nhận một thực tế là sự hư hỏng của đội ngũ cán bộ chiến lược của Đảng đã khá phổ biến hay đang nằm trong “một bộ phận không nhỏ”. Những vụ việc bị dư luận phơi bày và những Kết luận của Ban Kiểm tra Trung ương Đảng gần đây về nhiều trường hợp sai phạm nghiêm trọng của cán bộ cấp cao đã xác nhận điều đó. Quyền lực không được kiểm soát là một lý do nhưng chọn sai người cũng phải được thừa nhận là nguyên nhân chính. Vấn đề là ở chỗ những kẻ bản chất xấu như vậy có lẽ không hẳn là một ngày một khắc mà thành. Chỉ có thể nói là chọn sai người vì những con người như vậy đã sai từ lâu rồi. 
Chúng tôi cho rằng những trường hợp suy thoái, tự diễn biến trên có một phần rất lớn trách nhiệm của công tác nhân sự của Đảng. Tại sao một Ủy viên Trung ương Đảng kém phẩm chất như Vũ Huy Hoàng mà giữ chức Bộ trưởng gần 10 năm (2007 - 2016). Ông ta lại chịu trách nhiệm chính cho tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà “nhiều chỉ tiêu lớn không đạt”, thì trách nhiệm của Ban Tổ chức Trung ương, của người giới thiệu và bổ nhiệm hẳn phải được đặt ra nghiêm khắc. Tại sao những kẻ  bất tài và phản bội như Trịnh Xuân Thanh lại có thể leo cao luồn sâu đến như vậy. Tất yếu phải có bè cánh dung dưỡng, nâng đỡ chứ không chỉ một kẻ cơ hội có thể làm những việc động trời như vậy. 
Như vậy, sự suy thoái chính trị tư tưởng và đạo đức lối sống còn nảy sinh từ yếu kém của công tác cán bộ chứ không chỉ tự thân sự kém rèn luyện tu dưỡng của các đảng viên. Theo đó “Hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược” như biện pháp của Nghị quyết là rất cần thiết.

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

SỰ THOÁI HÓA BIẾN CHẤT CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CÓ PHẢI DO MỘT ĐẢNG LÃNH ĐẠO?


Một số học giả tư sản lớn tiếng cho rằng: chế độ một đảng lãnh đạo là độc tài, khép kín, mất dân chủ dẫn đến sự độc đoán, chuyên quyền, là nguyên nhân của sự thoái hóa ,biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị của nước ta hiện nay. Thực chất luận điểm trên là phản động, biểu hiện rõ mục tiêu chính trị và sự thù địch đối với chế độ xã hội chủ nghĩa. Luận điểm đó không xuất phát từ động cơ tích cực mà lợi dụng thực trạng xã hội để phủ định vai trò và bản chất của Đảng Cộng sản, cổ súy cho tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hướng nền chính trị Việt Nam phát triển theo nền chính trị tư sản.
Thực tiễn trong xã hội tư bản chủ nghĩa, các đảng phái chính trị với tên gọi khác nhau (trừ đảng cộng sản chân chính) nhưng bản chất đều là đảng của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Vì lợi ích của mình, các đảng tư sản cũng đã có sự điều chỉnh sách lược, chiến lược, song dù có cố gắng đến đâu thì cũng không thể xóa bỏ được những ung nhọt của xã hội nảy sinh từ cơ sở xã hội của nó, đó chính là quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
 Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành trên cơ sở tuân theo quy luật chung đồng thời có tính đặc thù do điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam quy định, là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử dân tộc. Kể từ khi ra đời, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong điều kiện cơ sở vật chất - xã hội nước ta tạo ra những thuận lợi nhất định nhưng cũng dễ làm nảy sinh những khó khăn rất lớn và lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đảng ta chỉ rõ: có một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất. Nhưng hiện tượng đó không phải do bản chất của Đảng hay do một đảng lãnh đạo mà phải xem xét từ nguồn gốc tồn tại xã hội. Đảng cũng thẳng thắn nhìn nhận trách nhiệm của mình với tư cách là tổ chức lãnh đạo, giáo dục, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ đảng viên; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện thoái hóa, biến chất, chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của nó; xác định những chủ trương, biện pháp, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị để đấu tranh ngăn chặn, khắc phục tình trạng suy thoái biến chất, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2018

“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG


Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa... mà nó còn diễn ra trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, với các biểu hiện chính như sau

Trước hết là sự thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay trong xã hội có một số người cho rằng: sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước có nhiều hạn chế, yếu kém, khó có khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhất là việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, hành động vi phạm chủ quyền quốc gia trên biển thì trong tư tưởng và hành vi của những người này thể hiện sự bi quan, thiếu tin tưởng càng rõ rệt, thậm chí còn hoang mang, lo sợ. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét, xử lý các vấn đề về quốc phòng, an ninh, làm ảnh hưởng tới sức chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.

Biểu hiện thứ hai là đòi đổi mới quốc phòng, an ninh theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này thể hiện bằng việc hướng mạnh ra nước ngoài, muốn học tập và đi theo các nước lớn, để mong chờ sự giúp đỡ từ nước ngoài về quốc phòng, an ninh. Họ mong muốn nước ngoài giúp đỡ về vũ khí trang bị, đổi mới quân đội theo hướng quân đội nhà nghề. Trong họ luôn tồn tại luồng tư tưởng “phải dựa vào một nước lớn nào đó thì mới giữ được độc lập chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này nghĩa là đã ngả sang thế lực thù địch, đến giai đoạn tiếp tay cho các thế lực thù địch phá hoại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh.
Thứ ba là xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước. Đây là biểu hiện phản ánh rõ ràng tính trầm trọng và nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Những người và tổ chức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ này thường ra mặt công kích, chống đối dưới chiêu bài “phản biện” mọi chủ trương, đường lối của Đảng nói chung và về quốc phòng, an ninh nói riêng. Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật, mọi hoạt động của LLVT... họ đều tìm cách để xuyên tạc, công kích. Mục đích cuối cùng của chiêu trò xuyên tạc là nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và LLVT, đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và LLVT. Biểu hiện ở mức độ này có nghĩa họ đã đứng hẳn về phía thế lực thù địch, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và nhân dân Việt Nam.
Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện một bộ phận người này, họ thường lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để ra sức công kích vào quan điểm, đường lối lãnh đạo, đối sách của Đảng về quốc phòng, an ninh. Thi thoảng họ lại tổ chức tụ tập, diễu hành, hòng kích động nhân dân, nhất là vào những dịp lễ Tết, các dịp đất nước có sự kiện lớn, hoặc mỗi khi trên Biển Đông có những biến động phức tạp. Vì vậy chúng ta cần phải nhận rõ các biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn của họ, để kiên quyết đấu tranh, phê phán./.

NHẬN DIỆN CÁC DẠNG DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH CƠ BẢN LÀM SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRÊN THẾ GIỚI


Trong từ vựng chính trị quốc tế của chủ nghĩa đế quốc hiện nay, xuất hiện các từ đồng nghĩa sau: Diễn biến hòa bình, chuyển hoá hoà bình, biến đổi hoà bình, cách mạng hoà bình, cạnh tranh hoà bình phương pháp hoà bình…. "Diễn biến hòa bình" là thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất.
"Diễn biến hòa bình" là chiến lược tiến công trên quy mô toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch do Mỹ khởi xướng nhằm chống phá tiêu diệt chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản quốc tế trong điều kiện không thể giành thắng lợi bằng biện pháp quân sự. Chiến lược này được thực hiện thông qua việc sử dụng tổng hợp các phương thức, thủ đoạn hành động, phá hoại thâm độc, tinh vi trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá… kết hợp với biện pháp răn đe quân sự.
Chiến lược "Diễn biến hòa bình" là quá trình hành động làm xuất hiện ngay trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa những nhân tố phản cách mạng; hỗ trợ và tiếp sức cho những nhân tố này trở thành lực lượng chính trị đối trọng và đối lập với Đảng cộng sản cầm quyền và Nhà nước xã hội chủ nghĩa; từng bước làm suy yếu, phân liệt, phân hoá lãnh đạo Đảng và Nhà nước; làm mất dần định hướng xã hội chủ nghĩa của chế độ xã hội…, để cuối cùng chuyển hoá một cách hòa bình các nước xã hội chủ nghĩa theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Chiến lược "Diễn biến hòa bình" triệt để lợi dụng những sơ hở, thiếu sót, sự chưa hoàn chỉnh và các sai lầm, lệch lạc trong đường lối, chính sách và trong quá trình quản lý xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra chiến lược này cũng chú trọng lợi dụng những đặc điểm mới của quan hệ quốc tế hiện đại: hợp tác, cạnh tranh, khu vực hoá, quốc tế hoá, toŕn cầu hóa…, cũng như các xung đột, mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo với các vấn đề dân chủ nhân quyền.
Về mặt hình thức, chiến lược "Diễn biến hòa bình" là một quá trình diễn biến tự phát về kinh tế- xã hội và hình thành các lực lượng đối lập đă tạo ra các těnh thế chính trị phản cách mạng. Tuy nhiên, việc giải quyết tình thế này không nhất thiết chỉ diễn ra dưới dạng chuyển hoá hoà bình. Tuỳ thuộc vào tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng, có thể xảy ra hỗn loạn chính trị- xã hội, thậm chí bạo loạn phản cách mạng và can thiệp vũ trang từ bên ngoài để lật đổ chế độ xă hội.
Đến nay đã xuất hiện năm dạng "Diễn biến hòa bình" cơ bản làm sụp đổ chế độ xă hội chủ nghĩa:
Một là, Chuyển hoá lãnh đạo Đảng và Nhà nước; phân hoá giai cấp công nhân rồi lật đổ chính quyền thông qua bầu cử tự do đa nguyên, đa đảng. Những nước Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc, Cộng hoà dân chủ Đức, Bungari, Anbani là những nơi mà dạng "Diễn biến hòa bình" này đạt kết quả hữu hiệu. Chế độ xã hội chủ nghĩa bị thủ tiêu bằng tổng tuyển cử sau khi lãnh đạo Chop bu của Đảng, Nhà nước bị chuyển hoá và công nhân bị phân hoá nặng nề về tư tưởng, chính trị và tổ chức.
Hai là, Sử dụng áp lực chính trị quần chúng thay đổi hẳn đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Dạng lật đổ chính quyền rất "hoà bình" như một sự "tự diễn biến" này đã xảy ra ở Mông Cổ. Các lực lượng đế quốc âm mưu tái bản nó ở Trung Quốc năm 1989 nhưng không thành công. Các thế lực thù địch gây ra tình trạng rối loạn xã hội, thường bắt đầu từ việc lợi dụng sơ hở, thiếu sót của chính quyền và kết hợp với hậu thuẫn từ bên ngoài để thay đổi bản chất của chế độ xă hội.
Ba là, Lật đổ chính quyền thông qua bạo loạn. Thông thường, các thế lực thù địch muốn lật đổ ngay chính quyền Trung ương. Dạng "Diễn biến hòa bình" này xảy ra ở Rummani và không thành công ở Trung Quốc. lực lượng đối lập trong nước được vũ trang hoặc được quân đội ủng hộ. Thời gian tiến hành lật đổ chính quyền rất bất ngờ, nhanh chóng. Các thế lực đế quốc quốc tế công khai can thiệp.
Bốn là, Giành chính quyền một cách hoà bình bằng "đảo chính cung đình". Các lực lượng chống chủ nghĩa xã hội lợi dụng khủng hoảng, mâu thuẫn, phản bội, phân liệt trong lãnh đạo cấp trung ương để tiến hành "đảo chính cung đình" giành chính quyền liên bang ở các nước cộng hoà, như đã diễn ra ở Liên Xô. Đặc điểm của dạng thức này là bộ máy chính quyền hầu như còn nguyên vẹn từ trung ương đến cơ sở, kể cả bộ máy của Đảng, nhưng quyền lực thì bị vô hiệu hoá do lãnh đạo chóp bu bị mất phương hướng chính trị hoặc phản bội. Những người đứng ra giành chính quyền là những phần tử đã từng hoặc đang nắm giữ cương vị cao trong chính quyền có khả năng chi phối toàn bộ bộ máy. Quần chúng cách mạng trở nên thụ động, mất phương hướng chính trị hoặc thờ ở bỏ mặc thời cuộc.
Để có thể thực hiện được dạng "Diễn biến hòa bình" này, các lực lượng thù địch phải có quá trình chuẩn bị lâu dài, công phu làm rối loạn, mục ruỗng lãnh đạo Đảng và Nhà nước từ bên trong, dẩy đất nước đến khủng hoảng trầm trọng, cô lập các lực lượng cách mạng trung kięn, vô hiệu hoá các lực lượng vũ trang… Đến tình thế này, có thể nói chính quyền cách mạng hoàn toàn bất lực và chế độ xã hội chủ nghĩa đứng trước cái chết được chuẩn bị sẵn. Sự can thiệp, giúp đỡ của phương Tây cho các lực lượng phản động ở bên trong là hết sức tích cực, ráo riết nhưng kín đáo và thận trọng.
Năm là, Liên Hợp Quốc can thiệp, dùng sức ép quốc tế để lập chính phủ mới thay thế chính quyền cách mạng. Các nước đế quốc, dưới danh nghĩa quốc tế, trực tiếp can thiệp vào một số nước xã hội chủ nghĩa có chủ quyền để lập ra một chính quyền của giai cấp tư sản. Dạng "Diễn biến hòa bình" này xảy ra ở Nam Tư. Mâu thuẫn và xung đột chính trị, kinh tế, xã hội ở đây được quốc tế hoá, tạo ra lý do để Liên hợp Quốc can thiệp. Thông thường, các xung đột này được đẩy đến nội chiến từng vùng hoặc trên toàn lãnh thổ quốc gia. Lực lượng chống chủ nghĩa xã hội có khả năng gây ra xung đột vũ trang với chính quyền đương nhiệm, rồi sau đó yêu cầu Liên Hợp Quốc đưa quân vào ổn định trật tự.
Với 5 dạng "Diễn biến hòa bình" cơ bản trên nhằm giành chính quyền, chiến lược "Diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc thể hiện tính đa dạng trong các phương án lật đổ chủ nghĩa xã hội. Lựa chọn thực hiện phương án nào là do tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng, do tình hình từng nước và bối cảnh quốc tế quyết định.

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

Một số giải pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay


Một trong những vấn đề bức xúc trong công tác xây dựng đảng hiện nay là tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và đáng lo ngại nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng trên phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, với tinh thần quyết liệt, kịp thời.
Đại hội XI của Đảng nhận định: “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”. Đại hội XII chỉ rõ: “... phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn bị động, hiệu quả chưa cao”, “trong khi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có xu hướng diễn biến phức tạp trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong xã hội”. Nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng nêu trên có thể khái quát: do hạn chế về trình độ hiểu biết, năng lực trí tuệ, năng lực thực tiễn. Do sự thoái hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống của từng đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền trong hệ thống chính trị. Do chủ nghĩa cá nhân gây nên mất đoàn kết nội bộ, làm xuất hiện những cá nhân, những nhóm người mâu thuẫn nhau về địa vị, quyền lợi. Nhiệm vụ ngăn chặn và đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong Đảng là nhiệm vụ trọng tâm bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Đại hội XII đã xác định rõ quan điểm: “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng trên phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, với tinh thần quyết liệt, kịp thời, đem lại kết quả cụ thể. Sau đây là một số giải pháp cơ bản:
- Thực hiện tốt các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng
Đảng ta được tổ chức và xây dựng theo những nguyên tắc mang tính khoa học và cách mạng của chính đảng kiểu mới theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong tình hình mới.
- Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ
Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã đề cập việc đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, góp phần thiết thực phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, quản lý.
- Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
Nghiên cứu, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận; tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tuyên truyền về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, gắn với thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm và Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07-06-2012, của Ban Bí thư khóa XI về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.
- Nâng cao chất lượng quản lý đảng viên và thực hiện nghiêm minh công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
- Đẩy mạnh việc tự tu dưỡng rèn luyện của cán bộ, đảng viên thiết thực, hiệu quả
Trong cuộc sống thường ngày, mỗi cán bộ, đảng viên phải giải quyết nhiều mối quan hệ xã hội, trong đó mối quan hệ giữa lợi ích của tập thể - lợi ích cá nhân là yếu tố cơ bản tác động chi phối đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức lối sống, nếu mỗi cá nhân thiếu bản lĩnh chính trị, không tự giải quyết hài hòa mối quan hệ này sẽ dễ dàng bị lôi cuốn vào vòng xoáy của tham vọng quyền lực, vun vén lợi ích cá nhân, tham nhũng, lãng phí, bị kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, mua chuộc làm phai nhạt mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng.
- Quan tâm đến đời sống và lợi ích chính đáng của cán bộ, đảng viên
Hiện nay, trong điều kiện Đảng cầm quyền, đảng viên là cán bộ, công chức nhà nước có điều kiện chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho bản thân và gia đình. Do đó, khi đời sống được bảo đảm, quyền lợi vật chất chính đáng được bảo vệ, chính là điều kiện để mỗi người gắn bó với công việc; yên tâm thực hiện nhiệm vụ được giao; giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống. Bảo đảm thu nhập, tiền lương tương xứng với sự đóng góp, phù hợp với công sức, trí tuệ của mỗi người đã cống hiến; thực hiện “đẩy mạnh cải cách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, đảng viên, công chức để góp phần phòng, chống tham nhũng”; công bằng giữa các khu vực, nhất là khu vực hành chính sự nghiệp, với khu vực doanh nghiệp nhà nước là nguyện vọng chính đáng của đảng viên, công chức, viên chức.
Với truyền thống 78 năm của Đảng, chúng ta có quyền tin tưởng rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lãnh đạo xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh sánh vai các cường quốc 5 châu và thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2017

NÂNG CAO CẢNH GIÁC “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” HIỆN NAY


Những năm qua, việc phủ nhận, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành “đột phá khẩu” để các thế lực thù địch, các thế lực phản động, thù địch, một số kẻ cơ hội chính trị, phần tử bất mãn, suy thoái về tư tưởng,... phối hợp chống phá sự nghiệp cách mạng, chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cho chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ bên trong. Vì vậy, cần nhận thức đúng, nâng cao cảnh giác với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Tự diễn biến là sự thay đổi ngay từ nội bộ, sự thay đổi theo chiều hướng xấu, chiều hướng tiêu cực. Tự diễn biến xảy ra ở hai phạm vi: đối với tổ chức và cá nhân. Đối với tổ chức, là những thay đổi ở tầm quản lý vĩ mô về đường lối, chủ trương, pháp luật, làm thay đổi bản chất chính trị, thậm chí suy yếu và tan ra tổ chức đó. Còn đối với cá nhân, là sự thay đổi về nhân thực chính trị - xã hội, thay đổi về quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, xấu đi; tự bản thân cán bộ, đảng viên nhận thức chính trị và hành động xa rời, thậm chí đi ngược lại chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, tư tưởng của Đảng. “Tự diễn biến” của cá nhân có thể dẫn đến sự thay đổi của tập thể, tổ chức và ngược lại “tự diễn biến” của tổ chức chi phối, áp đặt, điều khiển đối với cá nhân trong tổ chức đó.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, song chủ yếu là nguyên nhân chủ quan của cán bộ, đảng viên, như: lập trường tư tưởng không vững vàng, thiếu bản lĩnh chính trị, hoang mang, dao động trước tác động của các yếu tố bên ngoài; thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân thường xuyên; không chủ động học tập, nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, quán triệt quan điểm, tư tưởng của Đảng...
Tự chuyển hóa là hậu quả tất yếu của quá trình “tự diễn biến” nếu không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Đó là thời điểm đã có sự chuyển hóa, thay đổi về bản chất. Biểu hiện chuyển hóa chính trị ở Việt Nam xuất hiện từ hai hướng: một mặt, đó là âm mưu và hoạt động tác động chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch; mặt khác, đó là sự “tự chuyển hóa” chính trị của nội bộ ta. Tuy nhiên, hai hướng này có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau. Yếu tố bên ngoài thúc đẩy, tạo điều kiện cho yếu tố bên trong; yếu tố bên trong tạo sự chú ý và điều kiện thuận lợi cho yếu tố bên ngoài. Trong đó, “tự chuyển hóa” bên trong sẽ quyết định sự thay đổi về chính trị nên hết sức nguy hiểm. Do vậy, phương châm, nguyên tắc bảo đảm an ninh nội bộ, phòng, chống chuyển hóa chính trị là phải chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính.
Yếu tố “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ được thể hiện cụ thể là: xuất hiện các quan điểm, tư tưởng lệch lạc, trái chiều trong nội bộ; sự mất lòng tin đối với lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; sự xuống cấp về đạo đức, thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên; xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, mơ hồ, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, muốn theo hướng phát triển tư bản chủ nghĩa; công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn nhiều thiếu  sơ hở, thiếu sót; tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ các cơ quan, tổ chức; một bộ phận trong đội ngũ trí thức, luật sư, báo chí, văn nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng muốn thoát lu khỏi sự lãnh đạo của Đảng.
Đại hội XII: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xã hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà nước”.
Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, Đại hội XII của Đảng xác định: “Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lốn sống cho cán bộ, đảng viên. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diện biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thát bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”


Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

NGẠI HỌC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG - BIỂU HIỆN CỦA "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA"


Một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nhắc đến nhiều là việc một số cán bộ lơ là, ngán ngại học tập nghị quyết, học tập lý luận chính trị, có tư tưởng học lý luận chính trị để “hợp thức hóa” nhằm đảm bảo tiêu chuẩn chức danh cán bộ. Hiện tượng này có hai vế, đó là “lơ là, ngán ngại học tập nghị quyết” và “lơ là, ngán ngại học tập lý luận chính trị”. Trong việc học nghị quyết, có một số biểu hiện cụ thể:
- Không có hứng thú, nhu cầu với việc học nghị quyết, chỉ xem đó là việc buộc phải làm nên dự lớp với thái độ miễn cưỡng.
- Có tham dự lớp nhưng không nắm được kế hoạch của lớp, không đọc trước tài liệu...
- Trên lớp nghe trình bày nhưng không ghi chép, làm việc riêng trong lúc học, kể cả đọc báo, sử dụng điện thoại, máy tính bảng...
- Không tìm hiểu thêm những thông tin liên quan đến nội dung được truyền đạt, để hiểu rõ hơn vấn đề hoặc phản biện ý kiến chưa xác đáng của báo cáo viên.
- Bỏ học nửa chừng, nhất là sau khi đã thực hiện việc “điểm danh”.
- Ít lắng nghe nhưng hay phê phán nội dung nghị quyết, chương trình hành động hoặc cách trình bày của báo cáo viên.
- Không có ý kiến phát biểu trong buổi thảo luận hoặc phát biểu cho có (nếu chương trình học có tổ chức thảo luận).
- Không viết hoặc viết chiếu lệ, sao chép bài thu hoạch sau lớp học (nếu chương trình học có tổ chức viết thu hoạch).
- Không thể trình bày lại một cách khái quát những nội dung quan trọng, cốt lõi, tâm đắc của nghị quyết...