Hiển thị các bài đăng có nhãn đa đảng đối lập. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đa đảng đối lập. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

THỰC CHẤT CỦA ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP LÀ GÌ?


Vấn đề đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là vấn đề mới, nó xuất hiện và được bàn luận, đề cập nhiều từ thế kỷ XIX, khi giai cấp tư sản đang độc quyền thống trị xã hội. Lúc đầu, tư tưởng "đa nguyên luận" nhằm mục đích ngăn chặn tình trạng độc quyền, mất dân chủ của giới tài phiệt và một số chính trị gia tư sản, bảo vệ quyền lợi của các tầng lóp dân cư và lợi ích của một số nhóm nhỏ trong xã hội. Tuy nhiên, tư tưởng "đa nguyên luận" không đạt được mục đích của mình là dân chủ hoá xã hội mà chỉ hình thành nên một số đảng phái trong xã hội nhằm phân chia, tranh giành quyền lực lẫn nhau. Đặc biệt, sau Cách mạng tháng Mười Nga, nghĩa là sau khi chính quyền của giai cấp vô sản ra đời, Đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo xã hội ở một số nước, một số người, chủ yếu là các học giả, các chính trị gia tư sản, những người đại diện cho giai cấp tư sản - giai cấp bị mất đi sự độc quyền thống trị xã hội lại rùm beng mạnh mẽ vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Theo quan điểm của những người này, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập "sẽ tạo nên sự đa dạng, phong phú trong ý thức hệ tư tưởng" và "là nhân tố bảo đảm cho một nền dân chủ thực sự".
Phải chăng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập sẽ tạo nên "một nền dân chủ thực sự"?, về mặt hình thức, nhìn vào chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở một số nước thì có vẻ như "dân chủ thực sự", nhưng thực chất thì sao? Chúng ta không phủ nhận những yếu tố tích cực của đa nguyên, đa đảng nhưng thực chất đa nguyên, đa đảng không đồng nhất với dân chủ. Một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo, khône đồng nhất với mất dân chủ. Không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thực sự và không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ.
Đa nguyên, đa đảng không phải là "yếu tố duy nhất, nền tảng duy nhất" đảm bảo được dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân... Theo Hồ Chí Minh: "dân chủ là dân làm chủ, dân là chủ". Vì vậy, bất cứ một xã hội nào, nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay đa đảng nhưng nếu đảng cầm quyền và nhà nước quan tâm đến thể chế bảo đảm quyền lực thực tế của nhân dân, tôn trọng nhân dân, chăm lo cho nhân dân, coi nhân dân là gốc, là chủ thể của quyền lực... được thể hiện trong cương lĩnh, mục tiêu, chương trình hành động, thông qua hệ thống Hiến pháp và pháp luật... thì xã hội đó có dân chủ, người dân được làm chủ và là người chủ đất nước. Dân chủ là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân, là một bậc thang giá trị của nhân loại chứ dân chủ không phải là sản phẩm "của sự kêu gào" của một số phần tử trong xã hội. Đó cũng không phải là sản phẩm tự nhiên mà có và càng không thể hoàn thiện ngay một lúc. Nó phải trải qua quá trình đấu tranh, hoàn thiện và phát triển từng bước.
Thực tế cho thấy, hầu hết các nước tư bản đều thực hiện đa nguyên, đa đảng nhưng quyền dân chủ của nhân dân có được bảo đảm hay không, nhân dân có làm chủ thực sự vận mệnh của mình hay không lại là chuyện khác. Những cuộc lật đổ tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị ở một số nước Châu Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari, Rumani, Cộng hoà liên bang Đức,... của chế độ độc tài ở một số nước Châu Phi, Mỹ la tinh như Somali, Ethitopia, Bôlivia, Chilê..., ở một số nước khư vực Châu Á như Apghanistan, Pakistan, Miến Điện, Thái Lan... kéo dài gần suốt thế kỷ, làm cho hàng triệu người thiệt mạng, hàng chục triệu người bị nghèo đói... Phải chăng, đa nguyên, đa đảng đã mang lại lợi ích cho họ và mang lại "dân chủ thực sự" cho họ. Như vậy, có thể thấy, thực chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là sự phân chia, tranh giành quyền lực giữa các lực lượng chính trị xã hội; là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền, kiểm soát xã hội. 
Thực chất của cái gọi là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở một số nước không như một số người hiểu rằng đó là một chế độ thực sự dân chủ mà bản chất của nó vẫn là nhất nguyên chính trị.

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

VIỆT NAM HIỆN NAY CÓ NHẤT THIẾT PHẢI THỰC HIỆN ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP?

Hiện nay trước việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng, đặc biệt là cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân của Đảng và nhân dân ta, các thế lực phản động, thù địch cho rằng chế độ một đảng là độc đoán, chuyên quyền nên dẫn đến tham nhũng, lãng phí… Vì vậy, Việt Nam nhất thiết phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có dân chủ, thì đất nước mới phát triển.
Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái phản động vì: Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của toàn thể nhân dân. Đảng Cộng sản Việt nam ra đời vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc thù của Việt Nam, giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc. Vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu XX, cả nước ta chìm trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã xuất hiện tuy thể hiện được ý chí quật cưường xả thân vì độc lập dân tộc, nhưng đều rơi vào bế tắc về đường lối. Trong bối cảnh đó dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đảng ta được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh tổ chức rèn luyện và lãnh đạo đã lãnh đạo cách mạng việt Nam tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong điều kiện vô cùng khó khăn gian khổ và đã giành được độc lập dân tộc bằng cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếp theo đó là lãnh đạo cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thu giang sơn về một mối. Trong những năm tháng gian khổ đó của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tuyệt nhiên không có một đảng phái chính trị nào chia sẻ những khó khăn gian khổ với Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó cũng khẳng định rằng chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới đủ sức đảng đương và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.
Bước vào thời kỳ hòa bình hàn gắn vết thương chiến tranh ổn định và khôi phục đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn sau chiến tranh, hăng say lao động sản xuất hàn gắn lại những vết thương do chiến tranh để lại để từng bước phát triển đi lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Trong những giai đoạn khó khăn đó cũng tuyệt nhiên không có một đảng phái chính trị nào gánh vác trách nhiệm cùng Đảng Cộng sản việt Nam trên con đường khôi phục đất nước.
Trong điều kiện hiện nay trước xu thế hội nhập, mở cửa để phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời thực hiện đường lối đổi mới trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đường lối đó đã phát huy tốt hiệu quả, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta đã dần thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển vươn lên một cách ngoạn mục. Đời sống nhân dân từ chỗ đói ăn nay đã vươn lên có cuộc sống khá giả, tình hình chính trị – xã hội luôn ổn định, vị thế đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường thì mặt trái của nó cũng tác động không nhỏ đến nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó tác động tiêu cực đến cả một bộ phân cán bộ đảng viên dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về mặt chính trị, tư tưởng, một số cán bộ đảng viên đã tự diến biến, tự chuyển hóa. Đây chính là cơ hội để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chống phá, là lý do để chúng đưa ra quan điểm Việt Nam phải thực hiện đan nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nhận thức rõ những thách thức đó, Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm và đưa ra các biện pháp đấu tranh rất quyết liệt để đẩy lùi nghững nguy cơ đó. Thực tế qua việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và các nghị quyết khác của Đảng kết quả thu được là rất to lớn, tình trạng suy thoái tự diến biến, tự chuyển hóa cùng tình trạng tham nhũng lãng phí đã dần được khắc phục. Dưới sự lãnh đạo cương quyết đúng đắn của Đảng đất nước tiếp tục có bước phát triển nhanh và bền vững trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, nòng tin của nhân dân đối với Đảng được nâng cao.
Những kết quả đạt được đó cho thấy chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay mới đủ sức, đủ điều kiện để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tất cả mọi quan điểm cho rằng Việt Nam cần thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập đều là sai lầm và đều dẫn dắt dân tộc ta đi vào con đường rối rắm, tan rã như một số nước trong khu vực và trên thế giới hiện nay./.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP KHÔNG THỂ ĐEM LẠI DÂN CHỦ CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Trong suốt quá trình phát triển của cách mạng việt nam, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt đêm trường nô lệ của dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam lập nên những kỳ tích mà không phải dân tộc nào trên thế giới cũng có thể làm được.
Từ chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954 cho tới đại thắng mùa xuân năm 1975, trong giai đoạn đổi mới hiện nay dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực.
Dù trong giai đoạn nào, chiến tranh bảo vệ tổ quốc hay xây dựng đất nước nhân dân ta luôn được thực hiện quyền làm chủ một cách đầy đủ nhất, đây cũng chính là nhân tố quyết định dẫn đến sự thành công trong suốt quá trình lãnh đạo của đảng từ khi thành lập đến nay.
Chúng ta có thể tự hào khẳng định sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam được xây dựng nhằm thực hiện quyền làm chủ của con người một cách đầy đủ, toàn diện và triệt để. Tuy nhiên, lâu nay những luận điệu giả dối, phản khoa học cho rằng “đa nguyên, đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” vẫn tiếp tục chống phá cách mạng, thực chất là  họ đang tiếp tục thực hiện những âm mưu, ý đồ đen tối mà thôi.
Nghiên cứu toàn bộ chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại và thực tế  chúng ta đã biết dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong những giai đoạn lịch sử tương ứng. Mỗi nước có những đặc thù và trình độ phát triển về kinh tế, chính trị, lịch sử,… khác nhau, do đó có nền dân chủ khác nhau. C.Mác viết “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quy định”. Chính những yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử, … quy định dân chủ chứ không phải cơ chế đa nguyên, đa đảng hay một đảng. Quan điểm cho rằng, đa đảng thì có dân chủ, một đảng thì mất dân chủ thực chất là là một trò bịp nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam.
Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, nghiên cứu và vận dụng một cách sáng tạo, bằng thực tiễn chỉ đạo cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ”; “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ của dân”. Như vậy, theo Hồ Chí Minh chế độ dân chủ thực chất là chế độ ủy quyền của nhân dân vào Nhà nước và Nhà nước là cơ quan quyền lực của dân, thực thi sự ủy quyền của dân.
Ngược lại nói đến đa nguyên chính trị , đa đảng đối lập là nói đến hệ thống chính trị có nhiều cực, có nhiều đảng phái đại biểu cho những lợi ích đối lập nhau được tự do hoạt động, đó là một chế độ đa đảng. Chế độ đa đảng không đồng nghĩa với việc sẽ có dân chủ, phát triển, chế độ một đảng không phải là nguyên nhân của mất dân chủ. Thực tiễn cho thấy, có những nước đa đảng nhưng vẫn thuộc nhóm nước nghèo nhất thế giới. Tuy nhiên, có những những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng là một nước rất phát triển với đời sống nhân dân sung túc. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho phát triển.
Nền tảng cơ bản vững chắc để bảo đảm dân chủ hay không dân chủ là tư liệu sản xuất nằm trong tay ai. Dưới sự lãnh đạo của đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa tư liệu sản xuất nằm trong tay nhân dân lao động  Việt Nam và họ là người làm chủ xã hội. Dưới chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất nằm trong tay một thiểu số nhà tư bản, nền dân chủ đó là quyền làm chủ của một nhóm tư bản độc quyền. Còn quần chúng nhân dân chỉ là những người bị thống trị. Chính V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư bản dùng trăm phương nghìn kế, - chế độ dân chủ “thuần túy” càng phát triển, thì những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu quả, - để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước”.
Thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong hệ thống chính trị tư sản ở phương Tây chỉ là sự phân chia quyền lực giữa các phe cánh. Thực chất, chế độ đa đảng đó dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị, đều là đảng của giai cấp tư sản. Còn một số nước tư bản phương Tây khác, mặc dù Đảng cộng sản có thể được cho tồn tại nhưng nếu giai cấp tư sản cảm nhận thấy sự tồn tại đó có khả năng uy hiếp, đe dọa đến sự lãnh đạo, thống trị xã hội của họ thì ngay lập tức, Đảng cộng sản đó sẽ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Cho nên, thứ dân chủ mà họ thường khoe khoang đó chỉ là thứ dân chủ giả hiệu.
Từ lý luận và thực tiễn kết quả lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam trải qua gần 90 năm chúng ta khẳng định sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại và nguyện vọng của nhân dân, đó là sự lựa chọn bảo đảm cho dân chủ được thực hiện thực sự trong đời sống xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là, mọi sự tìm kiếm nào khác nhằm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam sẽ là mơ hồ mất, phương hướng chính trị - giai cấp và ảo tưởng, phản động.

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TƯ TƯỞNG CƠ HỘI HIỆN NAY


Trong quá trình đấu tranh cách mạng phức tạp, lâu dài, ở vào những bước ngoặt lịch sử thường xuất hiện tư tưởng cơ hội về chính trị dưới nhiều màu sắc, hữu khuynh hoặc tả khuynh ở những mức độ khác nhau. Điều đó thể hiện trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi cuộc chiến đấu ở vào thời kỳ quyết liệt, đã có một số người trước sức mạnh tàn bạo của kẻ thù xâm lược, trước những hy sinh gian khổ của cuộc kháng chiến đã dao động về chính trị, không kiên định đường lối chiến tranh giải phóng miền Nam, sợ tiến hành đấu tranh vũ trang, có ảo tưởng về con đường thoả hiệp, chung sống hoà bình.
Đầu những năm 80 (thế kỷ XX), đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc, Đảng tự phê bình nghiêm túc và từ tổng kết thực tiễn khởi xướng công cuộc đổi mới, đưa đất nước dần thoát khỏi khủng hoảng, phát triển đi lên. Nhưng chính lúc đất nước chuyển vào thời kỳ mới với muôn vàn khó khăn phức tạp, có một số người miệng hô hào đổi mới nhưng xa rời nguyên tắc, từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, tán dương phát triển kinh tế nhiều thành phần nhưng phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đề cao vai trò của kinh tế thị trường nhưng coi nhẹ chức năng quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cổ vũ cho tư nhân hoá, tự do hoá tư sản, kêu gọi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Đồng thời như một sự phản ứng lại, ở phía kia có một số người bám giữ những quan niệm giáo điều về mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, luyến tiếc cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, có định kiến với nền kinh tế nhiều thành phần, dị ứng với cơ chế thị trường, coi nó đồng nghĩa với đi theo con đường tư bản chủ nghĩa...
Trước thoái trào của phong trào cộng sản quốc tế, trước sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, họ hoang mang, mất niềm tin vào con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn. Họ bị choáng ngợp trước những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật của các nước tư bản phát triển, dễ tin theo những luận điệu tuyên truyền dân chủ tư sản.
Tư tưởng cơ hội gây nguy hại tới sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng, kể cả bản thân vận mệnh của Đảng. Nếu không được ngăn chặn, nó là nguy cơ làm thoái hoá biến chất Đảng về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống, nhất là trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cần đấu tranh phòng ngừa và chống tư tưởng cơ hội dưới mọi màu sắc, mọi biểu hiện.
Trước hết cần tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng một cách chủ động, kịp thời, sắc bén, có tính thuyết phục cao hơn nữa. Coi trọng giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, về con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn và dẫn dắt nhân dân ta phấn đấu giành những thành tựu lịch sử to lớn. Phê phán vạch trần các luận điệu thù địch xảo trá mưu xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng, cổ vũ cho "dân chủ, nhân quyền" tư sản. Không lúc nào buông lỏng cuộc đấu tranh vạch trần bản chất sai trái, nguy hại của chủ nghĩa cơ hội xét lại, chủ nghĩa giáo điều cũ và mới, của mọi biểu hiện mơ hồ, dao động về chính trị cũng như lối sống cơ hội, cá nhân chủ nghĩa. Cán bộ, đảng viên được trang bị đầy đủ về nhận thức quan điểm đúng đắn sẽ có lập trường chính trị kiên định, vững vàng, giàu sức đề kháng trước những quan điểm tư tưởng sai trái.

Thứ Tư, 15 tháng 11, 2017

XUYÊN TẠC VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM - MỘT LUẬN ĐIỆU NGU XUẨN, VIỂN VÔNG


Gần đây, tuy không phải là mới nhưng lại nổi lên nhiều ý kiến cho rằng “chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nhất là trong bối cảnh các Đảng cộng sản, các nước XHCN đang tiến tới kỷ niệm 100 năm cách mạng Tháng Mười vĩ đại và Đảng ta đang đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII).
Để không bị lôi kéo bởi những luận điệu ngu xuẩn cứ nhai đi nhai lại về sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu và Liên Xô và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà đám ngu muội rêu rao. Cần phải thấy rõ rằng:
Thứ nhất, sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không phải sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung, với tư cách là một nấc thang phát triển của xã hội loài người, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin.
Thứ hai, Chế độ Xôviết ngay từ lúc mới ra đời ở Nga đã tỏ rõ được tính ưu việt so với các chế độ chính trị-xã hội trước đó. Nhờ tính ưu việt đó, nó đã đánh thắng cuộc chiến tranh can thiệp của các nước đế quốc sau Cách mạng Tháng Mười, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức-Nhật, dẫn tới sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đạt được những thành công lớn. Nếu vì sự sụp đổ sau này mà phủ nhận sạch trơn những gì chế độ Xôviết đã giành được là một sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ ba, Sai lầm của Liên Xô và các nước Đông Âu lúc đó là đã sa vào chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoang mang, dao động trong đông đảo quần chúng, dẫn đến hỗn loạn xã hội, khiến cho ở Đông Âu, chính quyền bị các thế lực thù địch cướp lấy, còn Liên Xô thì chia rẽ sâu sắc trong nội bộ lãnh đạo, cuối cùng, chính quyền cũng lọt vào tay nhóm chống đối trong Bộ Chính trị, những kẻ chống chính quyền Xôviết từ rất sớm. Không thấy nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ là ở đây mà coi sự sụp đổ là tất yếu của chính quyền Xô-viết cũng là sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ tư, thực tiễn cách mạng nước ta hơn 87 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối này, cớ sao vì sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu mà phải từ bỏ nó? Việc đánh đồng đổi mới của Việt Nam với cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu là một sai lầm có dụng ý.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung, phát triển năm 2011 chỉ rõ: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Cương lĩnh nêu lên 8 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng, trong đó 3 đặc trưng đầu tiên là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp…
Thử hỏi con đường độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội xán lạn như vậy tại sao ta phải từ bỏ chỉ vì mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ?