Hiển thị các bài đăng có nhãn đa nguyên chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đa nguyên chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2023

KIÊN QUYẾT BÁC BỎ ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ

Gần đây các thế lực thù địch lại rộ lên chiêu trò “đấu tranh” đòi dân chủ hóa trong đời sống xã hội ở nước ta, chúng công khai đòi đa nguyên chính trị nghĩa là đa đảng đối lập. Vì cho rằng: Một mình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là độc tài, là chuyên chế nên mất dân chủ, cần phải loại bỏ chế độ đảng trị, thay vào đó là chế độ đa nguyên chính trị như  các nước văn minh phương tây hiện nay... Đây là vấn đề không mới, nhưng chưa bao giờ cũ, bởi vì nó nằm trong âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta.

Vấn đề là ở chỗ những chiêu trò này thường diễn ra vào những đợt sinh hoạt chính trị lớn của đất nước như:  Trước, trong, sau các kỳ đại hội Đảng và bây giờ là đợt bầu cử  Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021.... Mục đích của chúng là nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp và tiến tới phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Việc hình thành thiết chế, cơ chế chính trị đa nguyên, trên thực tế là tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể. Thực tế đó suy đến cùng là do đặc điểm, tính chất của cơ cấu xã hội- giai cấp, tư­ơng quan so sánh lực lư­ợng và kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp sinh ra. Ở các n­ước tư bản chủ nghĩa, việc hình thành hệ thống chính trị đa nguyên không phải do giai cấp tư­ sản tự nguyện tạo nên mà đó là kết quả phản ánh tính phức tạp, đối kháng của cơ cấu xã hội- giai cấp đa dạng trong lòng xã hội tư­ bản và tư­ơng quan so sánh lực l­ượng giữa các lực l­ượng chính trị; Đây là thành quả đấu tranh của giai cấp công nhân, các Đảng cộng sản, sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào xã hội trong xã hội tư­ bản, buộc giai cấp tư­ sản phải thừa nhận vai trò ảnh h­ưởng và sự hoạt động hợp pháp của lực lư­ợng chính trị đối lập.

Đối với nư­ớc ta hiện nay, không có cơ sở khách quan và sự cần thiết phải thiết lập nên hệ thống chính trị đa nguyên. Vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội đó là sứ mệnh lịch sử  mà dân tộc ta đã trao cho Đảng, là sự tin t­ưởng của toàn dân đối với Đảng, là uy tín chính trị của Đảng trư­ớc dân tộc, đồng thời là kết quả hy sinh phấn đấu không mệt mỏi của biết bao thế hệ đảng viên và quần chúng cách mạng vì lý tư­ởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ là hiện thân những thành quả đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở nư­ớc ta từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn là ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đại đa số nhân dân lao động nư­ớc ta. Thực tế lịch sử dân tộc ta từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam bư­ớc lên vũ đài chính trị đã chứng tỏ, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng, giành độc lập tự do cho dân tộc, đ­ưa dân tộc ta bư­ớc vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phù hợp với xu thế thời đại và có đủ trí tuệ, năng lực lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng một xã hội “dân giàu, n­ước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thực tế cách mạng nư­ớc ta từ khi có Đảng đến nay cũng chứng tỏ, đại đa số nhân dân ta, không phân biệt các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, các nhân sĩ... đã tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất của khối đại đoàn kết toàn dân tộc d­ưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc đứng lên chống đế quốc phong kiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ những thành quả cách mạng. Trái lại, các thế lực chính trị phản động, đại biểu cho lợi ích của giai cấp bóc lột, đã ôm chân đế quốc, thực dân, cam tâm làm tay sai cho chúng chống lại dân tộc, đã bị nhân dân ta phỉ nhổ và đánh đổ, loại bỏ khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, không vì lẽ gì mà Đảng ta, nhân dân ta lại chấp nhận cái gọi là đa nguyên chính trị, phục hồi và cho phép chúng trở lại chống phá cách mạng, nhân dân và dân tộc, đ­ưa vận mệnh và tư­ơng lai dân tộc vào tay các thế lực xấu xa đó. Cả lý trí và tình cảm, cả l­ương tâm và trách nhiệm, không cho phép một thế lực  nào xâm phạm đến lợi ích chính đáng của nhân dân, chà đạp lên sự hy sinh chồng chất của các thế hệ ng­ười Việt Nam yêu nư­ớc thư­ơng nòi vì sự trư­ờng tồn và phát triển của dân tộc. Chấp nhận đa nguyên chính trị, là ảo t­ưởng về chính trị, là sa vào m­ưu kế hiểm độc của kẻ thù, là sự từ bỏ sự nghiệp, lý tư­ởng và lợi ích của giai cấp và dân tộc.

Đảng ta và nhân dân ta không chấp nhận đa nguyên chính trị còn xuất phát từ bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, từ sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội là nhân tố quyết định đảm bảo cho đất nư­ớc đi lên chủ nghĩa xã hội; cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của Đảng cộng sản; bảo đảm cho bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho quyền làm chủ thật sự của nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà n­ước xã hội chủ nghĩa, xứng đáng là Nhà nư­ớc của dân, do dân và vì dân; bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn và triệt để của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó còn là bài học x­ương máu rút ra từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu. Chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đó là sự mở đầu của mất ổn định chính trị, làm suy yếu và xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa, đ­ưa đất nư­ớc trở lại quĩ đạo tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, đa nguyên chính trị - đa đảng đối lập không có cơ sở và không cho phép tồn tại trong đất nước, dân tộc ta.


Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

THỰC CHẤT CỦA ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP LÀ GÌ?


Vấn đề đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là vấn đề mới, nó xuất hiện và được bàn luận, đề cập nhiều từ thế kỷ XIX, khi giai cấp tư sản đang độc quyền thống trị xã hội. Lúc đầu, tư tưởng "đa nguyên luận" nhằm mục đích ngăn chặn tình trạng độc quyền, mất dân chủ của giới tài phiệt và một số chính trị gia tư sản, bảo vệ quyền lợi của các tầng lóp dân cư và lợi ích của một số nhóm nhỏ trong xã hội. Tuy nhiên, tư tưởng "đa nguyên luận" không đạt được mục đích của mình là dân chủ hoá xã hội mà chỉ hình thành nên một số đảng phái trong xã hội nhằm phân chia, tranh giành quyền lực lẫn nhau. Đặc biệt, sau Cách mạng tháng Mười Nga, nghĩa là sau khi chính quyền của giai cấp vô sản ra đời, Đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo xã hội ở một số nước, một số người, chủ yếu là các học giả, các chính trị gia tư sản, những người đại diện cho giai cấp tư sản - giai cấp bị mất đi sự độc quyền thống trị xã hội lại rùm beng mạnh mẽ vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Theo quan điểm của những người này, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập "sẽ tạo nên sự đa dạng, phong phú trong ý thức hệ tư tưởng" và "là nhân tố bảo đảm cho một nền dân chủ thực sự".
Phải chăng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập sẽ tạo nên "một nền dân chủ thực sự"?, về mặt hình thức, nhìn vào chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở một số nước thì có vẻ như "dân chủ thực sự", nhưng thực chất thì sao? Chúng ta không phủ nhận những yếu tố tích cực của đa nguyên, đa đảng nhưng thực chất đa nguyên, đa đảng không đồng nhất với dân chủ. Một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo, khône đồng nhất với mất dân chủ. Không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thực sự và không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ.
Đa nguyên, đa đảng không phải là "yếu tố duy nhất, nền tảng duy nhất" đảm bảo được dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân... Theo Hồ Chí Minh: "dân chủ là dân làm chủ, dân là chủ". Vì vậy, bất cứ một xã hội nào, nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay đa đảng nhưng nếu đảng cầm quyền và nhà nước quan tâm đến thể chế bảo đảm quyền lực thực tế của nhân dân, tôn trọng nhân dân, chăm lo cho nhân dân, coi nhân dân là gốc, là chủ thể của quyền lực... được thể hiện trong cương lĩnh, mục tiêu, chương trình hành động, thông qua hệ thống Hiến pháp và pháp luật... thì xã hội đó có dân chủ, người dân được làm chủ và là người chủ đất nước. Dân chủ là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân, là một bậc thang giá trị của nhân loại chứ dân chủ không phải là sản phẩm "của sự kêu gào" của một số phần tử trong xã hội. Đó cũng không phải là sản phẩm tự nhiên mà có và càng không thể hoàn thiện ngay một lúc. Nó phải trải qua quá trình đấu tranh, hoàn thiện và phát triển từng bước.
Thực tế cho thấy, hầu hết các nước tư bản đều thực hiện đa nguyên, đa đảng nhưng quyền dân chủ của nhân dân có được bảo đảm hay không, nhân dân có làm chủ thực sự vận mệnh của mình hay không lại là chuyện khác. Những cuộc lật đổ tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị ở một số nước Châu Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari, Rumani, Cộng hoà liên bang Đức,... của chế độ độc tài ở một số nước Châu Phi, Mỹ la tinh như Somali, Ethitopia, Bôlivia, Chilê..., ở một số nước khư vực Châu Á như Apghanistan, Pakistan, Miến Điện, Thái Lan... kéo dài gần suốt thế kỷ, làm cho hàng triệu người thiệt mạng, hàng chục triệu người bị nghèo đói... Phải chăng, đa nguyên, đa đảng đã mang lại lợi ích cho họ và mang lại "dân chủ thực sự" cho họ. Như vậy, có thể thấy, thực chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là sự phân chia, tranh giành quyền lực giữa các lực lượng chính trị xã hội; là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền, kiểm soát xã hội. 
Thực chất của cái gọi là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở một số nước không như một số người hiểu rằng đó là một chế độ thực sự dân chủ mà bản chất của nó vẫn là nhất nguyên chính trị.

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

VIỆT NAM HIỆN NAY CÓ NHẤT THIẾT PHẢI THỰC HIỆN ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP?

Hiện nay trước việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng, đặc biệt là cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân của Đảng và nhân dân ta, các thế lực phản động, thù địch cho rằng chế độ một đảng là độc đoán, chuyên quyền nên dẫn đến tham nhũng, lãng phí… Vì vậy, Việt Nam nhất thiết phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có dân chủ, thì đất nước mới phát triển.
Đây là quan điểm hoàn toàn sai trái phản động vì: Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của toàn thể nhân dân. Đảng Cộng sản Việt nam ra đời vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc thù của Việt Nam, giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc. Vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu XX, cả nước ta chìm trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã xuất hiện tuy thể hiện được ý chí quật cưường xả thân vì độc lập dân tộc, nhưng đều rơi vào bế tắc về đường lối. Trong bối cảnh đó dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đảng ta được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh tổ chức rèn luyện và lãnh đạo đã lãnh đạo cách mạng việt Nam tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong điều kiện vô cùng khó khăn gian khổ và đã giành được độc lập dân tộc bằng cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếp theo đó là lãnh đạo cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược thu giang sơn về một mối. Trong những năm tháng gian khổ đó của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, tuyệt nhiên không có một đảng phái chính trị nào chia sẻ những khó khăn gian khổ với Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó cũng khẳng định rằng chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới đủ sức đảng đương và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.
Bước vào thời kỳ hòa bình hàn gắn vết thương chiến tranh ổn định và khôi phục đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn sau chiến tranh, hăng say lao động sản xuất hàn gắn lại những vết thương do chiến tranh để lại để từng bước phát triển đi lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Trong những giai đoạn khó khăn đó cũng tuyệt nhiên không có một đảng phái chính trị nào gánh vác trách nhiệm cùng Đảng Cộng sản việt Nam trên con đường khôi phục đất nước.
Trong điều kiện hiện nay trước xu thế hội nhập, mở cửa để phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời thực hiện đường lối đổi mới trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đường lối đó đã phát huy tốt hiệu quả, dưới sự lãnh đạo của Đảng đất nước ta đã dần thoát khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển vươn lên một cách ngoạn mục. Đời sống nhân dân từ chỗ đói ăn nay đã vươn lên có cuộc sống khá giả, tình hình chính trị – xã hội luôn ổn định, vị thế đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường thì mặt trái của nó cũng tác động không nhỏ đến nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó tác động tiêu cực đến cả một bộ phân cán bộ đảng viên dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về mặt chính trị, tư tưởng, một số cán bộ đảng viên đã tự diến biến, tự chuyển hóa. Đây chính là cơ hội để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chống phá, là lý do để chúng đưa ra quan điểm Việt Nam phải thực hiện đan nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nhận thức rõ những thách thức đó, Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm và đưa ra các biện pháp đấu tranh rất quyết liệt để đẩy lùi nghững nguy cơ đó. Thực tế qua việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và các nghị quyết khác của Đảng kết quả thu được là rất to lớn, tình trạng suy thoái tự diến biến, tự chuyển hóa cùng tình trạng tham nhũng lãng phí đã dần được khắc phục. Dưới sự lãnh đạo cương quyết đúng đắn của Đảng đất nước tiếp tục có bước phát triển nhanh và bền vững trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, nòng tin của nhân dân đối với Đảng được nâng cao.
Những kết quả đạt được đó cho thấy chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay mới đủ sức, đủ điều kiện để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi lên trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tất cả mọi quan điểm cho rằng Việt Nam cần thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập đều là sai lầm và đều dẫn dắt dân tộc ta đi vào con đường rối rắm, tan rã như một số nước trong khu vực và trên thế giới hiện nay./.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP KHÔNG THỂ ĐEM LẠI DÂN CHỦ CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Trong suốt quá trình phát triển của cách mạng việt nam, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt đêm trường nô lệ của dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam lập nên những kỳ tích mà không phải dân tộc nào trên thế giới cũng có thể làm được.
Từ chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954 cho tới đại thắng mùa xuân năm 1975, trong giai đoạn đổi mới hiện nay dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực.
Dù trong giai đoạn nào, chiến tranh bảo vệ tổ quốc hay xây dựng đất nước nhân dân ta luôn được thực hiện quyền làm chủ một cách đầy đủ nhất, đây cũng chính là nhân tố quyết định dẫn đến sự thành công trong suốt quá trình lãnh đạo của đảng từ khi thành lập đến nay.
Chúng ta có thể tự hào khẳng định sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam được xây dựng nhằm thực hiện quyền làm chủ của con người một cách đầy đủ, toàn diện và triệt để. Tuy nhiên, lâu nay những luận điệu giả dối, phản khoa học cho rằng “đa nguyên, đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” vẫn tiếp tục chống phá cách mạng, thực chất là  họ đang tiếp tục thực hiện những âm mưu, ý đồ đen tối mà thôi.
Nghiên cứu toàn bộ chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại và thực tế  chúng ta đã biết dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong những giai đoạn lịch sử tương ứng. Mỗi nước có những đặc thù và trình độ phát triển về kinh tế, chính trị, lịch sử,… khác nhau, do đó có nền dân chủ khác nhau. C.Mác viết “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quy định”. Chính những yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử, … quy định dân chủ chứ không phải cơ chế đa nguyên, đa đảng hay một đảng. Quan điểm cho rằng, đa đảng thì có dân chủ, một đảng thì mất dân chủ thực chất là là một trò bịp nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam.
Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, nghiên cứu và vận dụng một cách sáng tạo, bằng thực tiễn chỉ đạo cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ”; “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đầy tớ của dân”. Như vậy, theo Hồ Chí Minh chế độ dân chủ thực chất là chế độ ủy quyền của nhân dân vào Nhà nước và Nhà nước là cơ quan quyền lực của dân, thực thi sự ủy quyền của dân.
Ngược lại nói đến đa nguyên chính trị , đa đảng đối lập là nói đến hệ thống chính trị có nhiều cực, có nhiều đảng phái đại biểu cho những lợi ích đối lập nhau được tự do hoạt động, đó là một chế độ đa đảng. Chế độ đa đảng không đồng nghĩa với việc sẽ có dân chủ, phát triển, chế độ một đảng không phải là nguyên nhân của mất dân chủ. Thực tiễn cho thấy, có những nước đa đảng nhưng vẫn thuộc nhóm nước nghèo nhất thế giới. Tuy nhiên, có những những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng là một nước rất phát triển với đời sống nhân dân sung túc. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho phát triển.
Nền tảng cơ bản vững chắc để bảo đảm dân chủ hay không dân chủ là tư liệu sản xuất nằm trong tay ai. Dưới sự lãnh đạo của đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa tư liệu sản xuất nằm trong tay nhân dân lao động  Việt Nam và họ là người làm chủ xã hội. Dưới chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất nằm trong tay một thiểu số nhà tư bản, nền dân chủ đó là quyền làm chủ của một nhóm tư bản độc quyền. Còn quần chúng nhân dân chỉ là những người bị thống trị. Chính V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư bản dùng trăm phương nghìn kế, - chế độ dân chủ “thuần túy” càng phát triển, thì những mưu kế đó càng tinh xảo và có hiệu quả, - để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước”.
Thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong hệ thống chính trị tư sản ở phương Tây chỉ là sự phân chia quyền lực giữa các phe cánh. Thực chất, chế độ đa đảng đó dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị, đều là đảng của giai cấp tư sản. Còn một số nước tư bản phương Tây khác, mặc dù Đảng cộng sản có thể được cho tồn tại nhưng nếu giai cấp tư sản cảm nhận thấy sự tồn tại đó có khả năng uy hiếp, đe dọa đến sự lãnh đạo, thống trị xã hội của họ thì ngay lập tức, Đảng cộng sản đó sẽ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Cho nên, thứ dân chủ mà họ thường khoe khoang đó chỉ là thứ dân chủ giả hiệu.
Từ lý luận và thực tiễn kết quả lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam trải qua gần 90 năm chúng ta khẳng định sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại và nguyện vọng của nhân dân, đó là sự lựa chọn bảo đảm cho dân chủ được thực hiện thực sự trong đời sống xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là, mọi sự tìm kiếm nào khác nhằm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam sẽ là mơ hồ mất, phương hướng chính trị - giai cấp và ảo tưởng, phản động.

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TƯ TƯỞNG CƠ HỘI HIỆN NAY


Trong quá trình đấu tranh cách mạng phức tạp, lâu dài, ở vào những bước ngoặt lịch sử thường xuất hiện tư tưởng cơ hội về chính trị dưới nhiều màu sắc, hữu khuynh hoặc tả khuynh ở những mức độ khác nhau. Điều đó thể hiện trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi cuộc chiến đấu ở vào thời kỳ quyết liệt, đã có một số người trước sức mạnh tàn bạo của kẻ thù xâm lược, trước những hy sinh gian khổ của cuộc kháng chiến đã dao động về chính trị, không kiên định đường lối chiến tranh giải phóng miền Nam, sợ tiến hành đấu tranh vũ trang, có ảo tưởng về con đường thoả hiệp, chung sống hoà bình.
Đầu những năm 80 (thế kỷ XX), đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc, Đảng tự phê bình nghiêm túc và từ tổng kết thực tiễn khởi xướng công cuộc đổi mới, đưa đất nước dần thoát khỏi khủng hoảng, phát triển đi lên. Nhưng chính lúc đất nước chuyển vào thời kỳ mới với muôn vàn khó khăn phức tạp, có một số người miệng hô hào đổi mới nhưng xa rời nguyên tắc, từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, tán dương phát triển kinh tế nhiều thành phần nhưng phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đề cao vai trò của kinh tế thị trường nhưng coi nhẹ chức năng quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, cổ vũ cho tư nhân hoá, tự do hoá tư sản, kêu gọi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Đồng thời như một sự phản ứng lại, ở phía kia có một số người bám giữ những quan niệm giáo điều về mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, luyến tiếc cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, có định kiến với nền kinh tế nhiều thành phần, dị ứng với cơ chế thị trường, coi nó đồng nghĩa với đi theo con đường tư bản chủ nghĩa...
Trước thoái trào của phong trào cộng sản quốc tế, trước sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, họ hoang mang, mất niềm tin vào con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn. Họ bị choáng ngợp trước những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật của các nước tư bản phát triển, dễ tin theo những luận điệu tuyên truyền dân chủ tư sản.
Tư tưởng cơ hội gây nguy hại tới sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng, kể cả bản thân vận mệnh của Đảng. Nếu không được ngăn chặn, nó là nguy cơ làm thoái hoá biến chất Đảng về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống, nhất là trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cần đấu tranh phòng ngừa và chống tư tưởng cơ hội dưới mọi màu sắc, mọi biểu hiện.
Trước hết cần tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng một cách chủ động, kịp thời, sắc bén, có tính thuyết phục cao hơn nữa. Coi trọng giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, về con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn và dẫn dắt nhân dân ta phấn đấu giành những thành tựu lịch sử to lớn. Phê phán vạch trần các luận điệu thù địch xảo trá mưu xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng, cổ vũ cho "dân chủ, nhân quyền" tư sản. Không lúc nào buông lỏng cuộc đấu tranh vạch trần bản chất sai trái, nguy hại của chủ nghĩa cơ hội xét lại, chủ nghĩa giáo điều cũ và mới, của mọi biểu hiện mơ hồ, dao động về chính trị cũng như lối sống cơ hội, cá nhân chủ nghĩa. Cán bộ, đảng viên được trang bị đầy đủ về nhận thức quan điểm đúng đắn sẽ có lập trường chính trị kiên định, vững vàng, giàu sức đề kháng trước những quan điểm tư tưởng sai trái.

Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017

Đằng sau những bức tâm thư, thư ngỏ đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng


Trên một số trang mạng xã hội đăng tải các bài viết dưới danh nghĩa “thư ngỏ”, “kiến nghị”, “tâm thư”… với nội dung chỉ trích, “kiến nghị” đòi hỏi vô lý, phi thực tế. Một số trích đoạn phơi bày cái gọi là “tâm huyết” của các tác giả, vẫn là những điệp khúc muôn thuở, nào là “sai lầm đường lối” của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường xây dựng CNXH; nào là “thể chế độc đảng toàn trị” nên “xã hội không có tự do, dân chủ”…
Về phương diện lý luận, nghiên cứu lịch sử đương đại, Mác và Ăngghen chỉ ra rằng, trong các xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, giai cấp nào giành được quyền lực nhà nước sẽ trở thành giai cấp thống trị và thực hiện vai trò lãnh đạo đối với xã hội. Kế thừa những di sản tư tưởng, quan điểm cơ bản đó trong điều kiện mới, V.I.Lênin đã phát triển và có những luận điểm sâu sắc về vấn đề cầm quyền của Đảng Cộng sản, trong đó khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.
Về phương diện thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam với truyền thống đoàn kết, thống nhất, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ theo tư tưởng, nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đã lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong 30 năm qua đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Về phương diện lịch sử, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ở Việt Nam cũng có thời kỳ tồn tại đa đảng, nhưng sau đó các đảng khác đều tự giải tán do hoàn thành vai trò lịch sử và không còn cơ sở xã hội để tồn tại. Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam-đó là sản phẩm của sự lựa chọn mang tính khách quan của lịch sử dân tộc.
Bài học rút ra từ sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu vẫn còn nguyên giá trị. Các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ rằng, không cần thiết phải thực hiện “đa nguyên chính trị”. Và khẩu hiệu “đa đảng chính trị” chỉ là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị muốn loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm chuyển đổi chế độ XHCN ở Việt Nam sang mô hình xã hội kiểu phương Tây, phá hoại sự ổn định của đất nước, xóa bỏ những thành quả mà giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc ta đã phải mất bao nhiêu xương máu mới giành được. Phủ nhận Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là phủ nhận một thực tế lịch sử, phủ nhận một trong những trang hào hùng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam; là sự xúc phạm đến tình cảm và điều thiêng liêng nhất của mỗi người Việt Nam yêu nước.