Hiển thị các bài đăng có nhãn bác bỏ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bác bỏ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2023

KIÊN QUYẾT BÁC BỎ ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ

Gần đây các thế lực thù địch lại rộ lên chiêu trò “đấu tranh” đòi dân chủ hóa trong đời sống xã hội ở nước ta, chúng công khai đòi đa nguyên chính trị nghĩa là đa đảng đối lập. Vì cho rằng: Một mình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là độc tài, là chuyên chế nên mất dân chủ, cần phải loại bỏ chế độ đảng trị, thay vào đó là chế độ đa nguyên chính trị như  các nước văn minh phương tây hiện nay... Đây là vấn đề không mới, nhưng chưa bao giờ cũ, bởi vì nó nằm trong âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta.

Vấn đề là ở chỗ những chiêu trò này thường diễn ra vào những đợt sinh hoạt chính trị lớn của đất nước như:  Trước, trong, sau các kỳ đại hội Đảng và bây giờ là đợt bầu cử  Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021.... Mục đích của chúng là nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp và tiến tới phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Việc hình thành thiết chế, cơ chế chính trị đa nguyên, trên thực tế là tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể. Thực tế đó suy đến cùng là do đặc điểm, tính chất của cơ cấu xã hội- giai cấp, tư­ơng quan so sánh lực lư­ợng và kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp sinh ra. Ở các n­ước tư bản chủ nghĩa, việc hình thành hệ thống chính trị đa nguyên không phải do giai cấp tư­ sản tự nguyện tạo nên mà đó là kết quả phản ánh tính phức tạp, đối kháng của cơ cấu xã hội- giai cấp đa dạng trong lòng xã hội tư­ bản và tư­ơng quan so sánh lực l­ượng giữa các lực l­ượng chính trị; Đây là thành quả đấu tranh của giai cấp công nhân, các Đảng cộng sản, sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào xã hội trong xã hội tư­ bản, buộc giai cấp tư­ sản phải thừa nhận vai trò ảnh h­ưởng và sự hoạt động hợp pháp của lực lư­ợng chính trị đối lập.

Đối với nư­ớc ta hiện nay, không có cơ sở khách quan và sự cần thiết phải thiết lập nên hệ thống chính trị đa nguyên. Vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội đó là sứ mệnh lịch sử  mà dân tộc ta đã trao cho Đảng, là sự tin t­ưởng của toàn dân đối với Đảng, là uy tín chính trị của Đảng trư­ớc dân tộc, đồng thời là kết quả hy sinh phấn đấu không mệt mỏi của biết bao thế hệ đảng viên và quần chúng cách mạng vì lý tư­ởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ là hiện thân những thành quả đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở nư­ớc ta từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn là ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đại đa số nhân dân lao động nư­ớc ta. Thực tế lịch sử dân tộc ta từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam bư­ớc lên vũ đài chính trị đã chứng tỏ, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng, giành độc lập tự do cho dân tộc, đ­ưa dân tộc ta bư­ớc vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phù hợp với xu thế thời đại và có đủ trí tuệ, năng lực lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng một xã hội “dân giàu, n­ước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thực tế cách mạng nư­ớc ta từ khi có Đảng đến nay cũng chứng tỏ, đại đa số nhân dân ta, không phân biệt các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, các nhân sĩ... đã tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất của khối đại đoàn kết toàn dân tộc d­ưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc đứng lên chống đế quốc phong kiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ những thành quả cách mạng. Trái lại, các thế lực chính trị phản động, đại biểu cho lợi ích của giai cấp bóc lột, đã ôm chân đế quốc, thực dân, cam tâm làm tay sai cho chúng chống lại dân tộc, đã bị nhân dân ta phỉ nhổ và đánh đổ, loại bỏ khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, không vì lẽ gì mà Đảng ta, nhân dân ta lại chấp nhận cái gọi là đa nguyên chính trị, phục hồi và cho phép chúng trở lại chống phá cách mạng, nhân dân và dân tộc, đ­ưa vận mệnh và tư­ơng lai dân tộc vào tay các thế lực xấu xa đó. Cả lý trí và tình cảm, cả l­ương tâm và trách nhiệm, không cho phép một thế lực  nào xâm phạm đến lợi ích chính đáng của nhân dân, chà đạp lên sự hy sinh chồng chất của các thế hệ ng­ười Việt Nam yêu nư­ớc thư­ơng nòi vì sự trư­ờng tồn và phát triển của dân tộc. Chấp nhận đa nguyên chính trị, là ảo t­ưởng về chính trị, là sa vào m­ưu kế hiểm độc của kẻ thù, là sự từ bỏ sự nghiệp, lý tư­ởng và lợi ích của giai cấp và dân tộc.

Đảng ta và nhân dân ta không chấp nhận đa nguyên chính trị còn xuất phát từ bản chất của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, từ sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội là nhân tố quyết định đảm bảo cho đất nư­ớc đi lên chủ nghĩa xã hội; cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của Đảng cộng sản; bảo đảm cho bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho quyền làm chủ thật sự của nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà n­ước xã hội chủ nghĩa, xứng đáng là Nhà nư­ớc của dân, do dân và vì dân; bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn và triệt để của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó còn là bài học x­ương máu rút ra từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu. Chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đó là sự mở đầu của mất ổn định chính trị, làm suy yếu và xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa, đ­ưa đất nư­ớc trở lại quĩ đạo tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, đa nguyên chính trị - đa đảng đối lập không có cơ sở và không cho phép tồn tại trong đất nước, dân tộc ta.


Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2023

CẦN PHẢI PHÊ PHÁN, BÁC BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, KIÊN QUYẾT KHÔNG ĐỂ CÁC PHẦN TỬ PHẢN ĐỘNG, CHỐNG ĐỐI PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG MÀ ĐẢNG VÀ BÁC HỒ ĐÃ LỰA CHỌN

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải thường xuyên tu dưng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, chống sa vào chủ nghĩa cá nhân, góp phần làm cho Đảng ta thật sự "là đạo đức, là văn minh". Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân là "địch nội xâm", một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng. "Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra" . (Hồ Chí Minh. Tập 5.tr.287). Người khẳng định, người cán bộ có bản lĩnh là người rất trung thành, kiên định với sự nghiệp cách mạng, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi. Đó cũng là người biết tuỳ cơ ứng biến, hết sức sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Sự gương mẫu đi đầu, lời nói đi đôi với việc làm mẫu mực là sự thuyết phục, cảm hóa để lôi cuốn nhân dân vào các phong trào cách mạng. Theo Bác, cán bộ, đảng viên phải làm gương cho nhân dân cả về lời nói và việc làm, để cho dân tin, dân phục, dân yêu, từ đó làm cho dân tin Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và Chính phủ- Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền thì người lãnh đạo cấp cao, người có chức vụ càng cao phải thể hiện là tấm gương càng sáng, để cấp dưới và quần chúng noi theo. Người yêu cầu, mọi cán bộ, đảng viên đều phải tự phê bình và phê bình, sửa chữa khuyết điểm của mình, chứ không phải chỉ đứng ngoài mà phê bình, hoặc "chờ xem", coi như mình không có khuyết điểm gì. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng; Đảng là một bộ phận của xã hội, cũng không tránh khỏi những tập tục, tính nết, khuyết điểm, thói xấu của xã hội lây ngấm vào.

Thực tế cho thấy, trong Đảng không phải người người đều tốt, việc việc đều hay. Người chỉ rõ: Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như ta cần không khí; cũng như người có bệnh, nếu giấu giếm bệnh tật trong mình không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mạng; "Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khoẻ vô cùng”.

Nhân dân Việt Nam đã đi qua hai cuộc chiến tranh thần thánh để tự bảo vệ mình, tự giải phóng mình nên càng thấu hiểu thế nào là tự do độc lp, thế nào là chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Vì vậy, đương nhiên, nhân dân Việt Nam sẽ biết nhìn nhận ai là bạn, ai là thù. Sự thật vẫn là sự thật và bản thân nó chứa đựng chân lý, không ai có thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo gần 30 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, đời sống của hơn 90 triệu người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện. Khách quốc tế, bạn bè khắp năm châu đến Việt Nam đều thấy một sự thật: Đất nước Việt Nam đã thay da đổi thịt; dù còn nhiều việc phải làm, đời sống chưa thật sự khá giả, song chính trị - xã hội của đất nước luôn ổn định, cuộc sống thật sự có hòa bình, tự do, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, nhân dân thực sự là chủ nhân của đất nước.

Ngày nay, các thế lực thù địch tiếp tục không từ một thủ đoạn nào để chống phá sự nghiệp cách mạng của chúng ta, chống phá Đảng, chống phá chế độ ta. Còn đối với những cán bộ, đảng viên có ý kiến khác với đường lối, quan điểm của Đảng, đây là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, chúng ta cũng phải đấu tranh, phê phán, làm rõ đúng - sai thông qua đối thoại, trao đổi, tọa đàm, thuyết phục trên tinh thần đồng chí, tăng cường đoàn kết, đồng thuận, không đẩy họ về phía các thế lực thù địch mà cố gắng lôi kéo họ về phía chúng ta; chúng ta phê phán quan điểm sai chứ không phê phán con người, xúc phạm, đả kích cá nhân.

 


Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT

Trên trang mạng gần đây xuất hiện bài viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam có thật sự đoàn kết?” của một phần tử khiêu khích. Bài viết cho rằng: “Lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam đang trong tình trạng chia rẽ, phân tán lớn nhất từ trước tới nay”. “Đoàn kết là vấn đề sống chết của một tổ chức. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập là một tổ chức bí mật có sự đoàn kết nội bộ đảng không? Câu trả lời là không. Không những là không mà lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam còn đang trong tình trạng chia rẽ, phân tán lớn nhất từ trước đến nay. Sự tranh chấp, kèn cựa mất đoàn kết và dẫn đến thanh toán lẫn nhau trong Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn diễn ra trong bí mật, hoặc che đậy bằng nhiều hình thức khác. Nhiều vụ chưa được phanh phui, nhiều vụ người ngoài chỉ suy đoán, tuy vậy có những vụ bị phơi bày công khai”. “Những cán bộ trong cả ba tổ chức cộng sản này (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) tranh nhau mở rộng mạng lưới cơ sở, phát triển đảng viên và “lãnh địa” ảnh hưởng của mình. Hai đảng An Nam cộng sản Đảng và Tân Việt có số đảng viên và phương thức hoạt động mà giới lãnh đạo đều là trí thức vượt trội những người trong Đông Dương cộng sản đảng. Cả 3 đảng này chia rẽ, tranh giành quần chúng”. “Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhìn ra sự đoàn kết trong đảng chỉ là sự đoàn kết xuôi chiều, có nghĩa nôm na “ai sao tôi vậy”, “thứ nhất đồng ý thứ hai ngồi lỳ”, ủng hộ tuyệt đối tất cả những gì đảng ủy đưa ra. Điều này phản ánh rõ sự nhát sợ của đảng viên, họ sợ mất lòng cấp trên, mất an toàn cho bản thân, phụ họa theo ý kiến của người đứng đầu, sợ va chạm, sợ bị đánh giá, chụp mũ là tự chuyển hóa, tự diễn biến; hai lưỡi đao lơ lửng trên đầu rơi xuống bất cứ lúc nào trên cổ họ”…

Rõ ràng, đây là giọng điệu của kẻ thù địch, chống phá Đảng, xuyên tạc lịch sử, đổi trắng thay đen.

Phải nói rằng, từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đoàn kết thống nhất. Từ thời kỳ thành lập Đảng và Đảng hoạt động bí mật, vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng đã được đặt ra. Đến khi Đảng tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng càng được đặt ra và giải quyết một cách nghiêm túc, mang lại sự thống nhất trong Đảng.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam chưa thành lập, trong nước có ba tổ chức cộng sản, được gọi là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là Đông Dương Cộng sản Đảng (thành lập ngày 17-6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (thành lập ngày 7-8-1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (thành lập ngày 1-1-1030).

Ba tổ chức cộng sản này có mối bất hòa, không thống nhất được với nhau, nên các đảng viên cộng sản ở trong nước muốn có một đảng cộng sản thống nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người có đủ tư cách và uy tín để lập một đảng cộng sản thống nhất ở Việt Nam chỉ có thể là Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản, một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng. Đó là lý do dẫn đến việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra tại một địa điểm ở đảo Cửu Long thuộc quần đảo Hương Cảng (Hồng Kông) từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930. Đây là Hội nghị hợp nhất giữa ba tổ chức cộng sản trong nước thành lập trước đó là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Đại biểu chính thức dự Hội nghị: Nguyễn Ái Quốc, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Chủ trì; Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh, thay mặt Đông Dương Cộng sản Đảng; Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu, thay mặt An Nam Cộng sản Đảng. Đại biểu hoạt động ở nước ngoài là Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu. Đông Dương Cộng sản Liên đoàn mới thành lập (ngày 1-1-1930), lại nhận được giấy mời chậm, nên không kịp cử đại biểu đi dự. Tuy nhiên, sau khi Đảng được thành lập, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã làm đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam và đã được Đảng chấp nhận.

Hôm khai mạc Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc nói lý do về Hội nghị này. Sau đó, các đại biểu thảo luận ý kiến của Nguyễn Ái Quốc về “việc hợp nhất tất cả các nhóm cộng sản thành một tổ chức chung, tổ chức này sẽ là một Đảng Cộng sản chân chính”.

Các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đều tán thành ý kiến có tính chất đề xuất của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.

Hội nghị nhất trí: “Đặt tên Đảng mới là Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đến Hội nghị Trung ương tháng 10-1930, Đảng đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Hội nghị thảo luận chỉ ra những sai lầm của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và kêu gọi sự thống nhất trong Đảng.

Hội nghị thành lập Đảng thông qua các văn kiện quan trọng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị thảo luận và nhất trí thông qua:

“Năm điểm lớn”.

“Chánh cương vắn tắt của Đảng”.

“Sách lược vắn tắt của Đảng”.

“Chương trình tóm tắt của Đảng”.

“Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

“Báo cáo tóm tắt Hội nghị”.

“Lời kêu gọi”.

Các văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng nêu rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng thổ địa để đi tới xã hội cộng sản. Sau này, phát triển lý luận thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Từ ngày Đảng thống nhất giữa ba tổ chức cộng sản, tình hình trong Đảng tốt đẹp hơn nhiều. Đảng thống nhất, các tổ chức đảng trong cả nước đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, không có tình trạng chia rẽ, cát cứ, phân tán, chia cắt, bè phái, như các phần tử khiêu khích đã viết. Điều này làm cho công tác phát triển Đảng được nhanh chóng, các tổ chức cơ sở đảng cũng phát triển mạnh. Mặc dù sống trong hoàn cảnh bị thực dân khủng bố, Đảng vẫn lớn mạnh không ngừng.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, nội bộ Đảng không có mâu thuẫn trên toàn cục, mà chỉ có mâu thuẫn nội bộ giữa cá nhân đảng viên này với cá nhân đảng viên khác (không phải là mâu thuẫn đối kháng) và giải quyết mâu thuẫn đó bằng phê bình và tự phê bình. Phê bình và tự phê bình là phương pháp hoạt động cải tạo mang tính chất cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam; còn trong xã hội, nó cũng là phương pháp hoạt động của toàn dân; là một trong những động lực của sự phát triển của xã hội; là nguyên tắc giáo dục và tự giáo dục của con người về mặt đạo đức. Phê bình và tự phê bình là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ, cuộc đấu tranh vốn có trong sự phát triển của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

C.Mác coi phê bình là một trong những phương tiện đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân. V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh ý nghĩa thiết thực của phê bình và tự phê bình đối với việc thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, đối với hoạt động của Đảng Cộng sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phê bình và tự phê bình. Người viết:

“Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân mạnh về đoàn kết trong Đảng. Trong Di chúc, Người viết:

“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước VIệt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Trên đây là tôi đã phân tích những vấn đề cơ bản về đoàn kết thống nhất trong Đảng. Những người cố tình cho rằng, “Đảng đang bị chia rẽ, phân tán lớn nhất từ trước tới nay” là không phản ánh đúng thực tế khách quan của lịch sử, cần phải phê phán và bác bỏ.

GS,TS Đàm Đức Vượng

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

NHIỀU LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CẦN PHÊ PHÁN, BÁC BỎ

Trong quá trình thực hiện âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn tập trung xuyên tạc những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, nhất là xuyên tạc về lòng trung thành của quân đội với Đảng, với Nhà nước và nhân dân; xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế của quân đội với những lời lẽ hết sức phản động, phản khoa học nhằm thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, hòng làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của quân đội, làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế.

Sự xuyên tạc đó được thể hiện ở một số luận điệu như: “Lực lượng vũ trang (LLVT) chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức, lực lượng nào”; “xóa bỏ quy định LLVT phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”; “quân đội là chỉ của quốc gia dân tộc” và có nhiệm vụ “bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân chứ không phải bảo vệ chế độ nào”(!). Khi Quân đội ta thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân công tác, tiến hành công tác dân vận, giúp đỡ nhân dân giải quyết các “điểm nóng” về xã hội, đấu tranh chống việc lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo thì các thế lực lại xuyên tạc, vu cáo “quân đội cứu Đảng, đàn áp nhân dân”... Lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một số cán bộ, chiến sĩ trong quan hệ với nhân dân, các thế lực thù địch ra sức kích động nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân: “Tuy gọi là QĐND song thực chất chỉ là công cụ bạo lực của một tập đoàn cầm quyền, không phải là quân đội mang lại lợi ích cho dân”(!)... Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn xuyên tạc nghĩa vụ quốc tế vô sản cao cả của QĐND Việt Nam đối với cách mạng Lào và Campuchia trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước đây. Chúng xuyên tạc việc QĐND Việt Nam cử lực lượng tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng lại là “hành động xâm lược”.

Những luận điệu trên được các thế lực thù địch “nhai đi nhai lại” nhiều lần, do vậy, nếu không tỉnh táo, sáng suốt, một bộ phận người dân, nhất là giới trẻ, có thể bị tiêm nhiễm những luận điệu phản động đó. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết phê phán, đấu tranh.

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH VĂN HÓA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Nhân Hội nghị Văn hóa toàn quốc do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức ngày 24/11/2021, trên các trang mạng xã hội, một số đối tượng phản động, thù địch đã ra sức xuyên tạc, bóp méo quan điểm, chính sách văn hóa và phát triển văn hóa của Đảng, Nhà nước ta. Chúng cố tình sử dụng những tồn tại, hạn chế trong xây dựng, phát triển văn hóa ở nước ta thời gian qua để phê phán chính sách văn hóa, phủ nhận thành tựu phát triển văn hóa ở Việt Nam. Có kẻ còn hồ đồ cho rằng, chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước ta đã kìm hãm sự phát triển của văn hóa. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, thực chất nhằm phủ nhận vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp cách mạng nói chung, phát triển đất nước nói riêng; phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

Thực thế là, suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhận thức của Đảng về văn hóa ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của văn hóa và hết sức quan tâm đến công tác xây dựng văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Đảng ta luôn xác định, xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.  Trên cơ sở nhất quán với quan điểm về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam từ các Đại hội trước, đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, dân chủ, khoa học và nhân văn. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, tài trí, cần cù, nhân ái, nghĩa tình, hòa hiếu, khoan dung. Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế. Xây dựng văn hóa trong Đảng, cơ quan Nhà nước và cả hệ thống chính trị để tạo động lực, niềm tin và lan tỏa mạnh mẽ trong nhân dân. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

Thực hiện quan điểm, chính sách văn hóa của Đảng, công tác văn hóa đã đạt được những thành tựu quan trọng, trực tiếp góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam thấm nhuần tinh thần dân tộc, dân chủ, khoa học và nhân văn, hướng con người Việt Nam đến chân - thiện - mỹ. Tất nhiên, bên cạnh những thành tựu, công tác này cũng không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận, kiên quyết khắc phục, tạo chuyển biến tiến bộ trong công tác này. Mà việc tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc là một hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động, thể hiện rõ sự quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành trong chấn hưng nền văn hóa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Vì vậy, mọi luận điệu phủ nhận vai trò của văn hóa, cố tình xuyên tạc quan điểm, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta đối với xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam là hoàn toàn sai trái, cần kiên quyết bác bỏ.

PHÊ PHÁN, BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM”

Công cuộc đổi mới 35 năm qua đã thực sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người chúng ta và được bạn bè quốc tế quan tâm đến như một lẽ đương nhiên. Chính vì thế, mọi biểu hiện của đổi mới luôn được nhiều người chăm chú theo dõi, phân tích, đánh giá, nhận định. Trong nhiều nhiệm kỳ đại hội Đảng vừa qua, công cuộc đổi mới luôn được Đảng ta xác định rõ ngay trong chủ đề của đại hội. Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có một số đối tượng ác ý tung ra những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn.

Những luận điệu đen tối đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị để tạo thêm động lực, nếu không, trước sau cũng sẽ đưa đến tàn lụi đất nước. Tựu trung, chủ ý thâm độc nhất cho rằng đổi mới đã cạn kiệt nguồn lực, từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa, hoặc nếu có đổi mới thì đổi mới về chính trị mà thôi. Các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

Qua 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước". Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm.

Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường.

Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững.

Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2021

BÁC BỎ THÔNG TIN SAI LỆCH VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN CỦA VIỆT NAM

Ngày 11-3, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước báo cáo của tổ chức Freedom House cho rằng Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm quốc gia “không có quyền tự do”, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết: Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là thúc đẩy quyền con người, trong đó có các quyền tự do cơ bản được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật liên quan. Trong những năm qua, Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật để triển khai nhiều biện pháp cụ thể, đảm bảo tốt hơn quyền con người, quyền công dân, tích cực tham gia hợp tác quốc tế về quyền con người.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu một ví dụ điển hình là trong khuôn khổ Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ lần thứ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc vào năm 2019, các nước quan tâm đã tham gia đông đảo tại phiên họp. Đại đa số ý kiến các nước đã đánh giá cao nỗ lực và thành tựu, ủng hộ cách tiếp cận của Việt Nam, cũng như là đưa ra các kiến nghị có tính chất xây dựng.

DẪN CHỨNG SINH ĐỘNG BÁC BỎ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO KINH TẾ VÀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Theo bảng xếp hạng về Chỉ số tự do kinh tế năm 2021 (Index of Economic Freedom 2021) mới công bố của Quỹ Di sản (Heritage Foundation) đưa ra, Việt Nam lần đầu tiên lọt nhóm các nền kinh tế có chỉ số tự do kinh tế ở mức trung bình (Moderately Free) với 61,7 điểm. Như vậy, Việt Nam tăng 2,9 điểm và tăng 15 bậc so với thứ hạng năm 2020. Nếu xét trong nhóm 40 nền kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương về chỉ số này, Việt Nam cũng đứng thứ 17 với tổng điểm cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới.

Với điểm số này, Việt Nam cũng đứng thứ 90 trong bảng xếp hạng các nền kinh tế tự do. Đây là thành tựu quan trọng, là dẫn chứng sinh động bác bỏ quan điểm sai trái Việt Nam không có tự do kinh tế và nền kinh tế thị trường.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

Vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam chỉ có thể được giữ vững và tăng cường khi uy tín của Đảng tiếp tục được khẳng định, niềm tin vào Đảng của nhân dân luôn vững chắc, hiệu quả lãnh đạo của Đảng không ngừng được tăng lên. Trong thực tiễn, cũng có thời kỳ Đảng phạm sai lầm, khuyết điểm do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Song, Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, tiếp tục lãnh đạo để đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Hiện nay, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đã làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nhận rõ thực trạng đó, toàn Đảng đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), cùng Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn hệ thống chính trị với một hệ thống giải pháp rất quyết liệt; đã kỷ luật và đưa ra tòa án xét xử công khai những cán bộ, đảng viên dính đến tham nhũng, tiêu cực. Kết quả bước đầu của việc thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị nói trên đã có tác dụng cảnh báo, răn đe và phòng ngừa các hành vi tham nhũng, tiêu cực, góp phần ngăn chặn tình trạng trên, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng trong bối cảnh mới đòi hỏi Đảng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà vấn đề cấp bách trong quá trình tiến tới Đại hội XIII hiện nay là: nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; tăng cường quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, v.v. Cùng với đó, phải tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng được một Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của dân, do dân, vì dân.
Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, luôn ngang tầm nhiệm vụ cách mạng là vấn đề then chốt để Đảng ta giữ vững vai trò lãnh đạo đối với xã hội. Đó là cách làm hiệu quả nhất để bác bỏ những mưu toan và hành động phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

TIẾNG NÓI KHÁCH QUAN CỦA CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ

Đánh giá những thành tựu trong công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, nhân kỷ niệm 20 năm hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ (tháng 10-2013), bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam cho rằng: “Hai mươi năm qua đã chứng kiến những tiến bộ phát triển vượt bậc của Việt Nam. Ngày nay, Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn khoảng 10% năm 2012, với hơn 30 triệu người thoát nghèo. Các chỉ số phúc lợi xã hội hiện nay cao hơn phần lớn các nước có mức thu nhập cao hơn. Phần lớn người dân Việt Nam được hưởng nền giáo dục tốt hơn. Tỷ lệ tử vong ở bà mẹ khi sinh ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. 95% số dân nông thôn Việt Nam có điện lưới, so với 83% ở Phi-lip-pin và 74% ở In-đô-nê-xi-a... Có thể nói, những thành tựu của Việt Nam trong hơn 20 năm qua là rất nổi bật; mà thành công có được đầu tiên là nhờ vào tầm nhìn và quyết tâm của lãnh đạo Chính phủ, cũng như tinh thần chịu khó và khởi nghiệp của người dân Việt Nam”. Trong Báo cáo Phát triển con người toàn cầu (HDR), Trưởng đại diện Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam, cho biết: “Việt Nam là một trong những nước rất năng động và đạt được tiến bộ HDR rất nhanh. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam (HDI) liên tục tăng qua các năm. Còn trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, lĩnh vực mà các thế lực thù địch thường chỉ trích, đổ lỗi cho chế độ một đảng lãnh đạo, mà họ gọi là chế độ “toàn trị”, thì Việt Nam cũng có nhiều thành tựu nổi bật. Việt Nam được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Hội đồng Nhân quyền thế giới với số phiếu gần như tuyệt đối, không đơn thuần chỉ là sự công nhận của cộng đồng quốc tế về vấn đề quyền con người được bảo đảm, mà còn là sự ghi nhận thành quả đổi mới toàn diện của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCS đã đưa đất nước này trở thành một quốc gia có vị trí quan trọng, được quốc tế tin cậy. Chính ông Lê Vũ - Chủ nhiệm tuần báo Viet WEEKLY ở nam Ca-li-fooc-ni-a (Hoa Kỳ), một tờ báo hay chỉ trích Chính phủ Việt Nam, trong chuyến về thăm Việt Nam gần đây cho biết: “Tôi không có cảm nhận rằng, Việt Nam là một đất nước đang có đàn áp tôn giáo và nhân quyền như nhiều nguồn tin hải ngoại. Trái lại, tôi thấy ở đất nước đang phát triển, đổi thay từng ngày, từng giờ. Đất nước có thật nhiều điều mới mẻ, hấp dẫn”. Còn Tổng Thư ký tòa soạn tuần báo trên thì cho rằng: “Những hình ảnh về đất nước, con người và xã hội Việt Nam sống động, tươi mát và phát triển như ngày nay, chúng tôi chuyển tải qua trang báo của chúng tôi về nước. Tự nó sẽ là bằng chứng sống bác bỏ những suy nghĩ và hành động chưa đúng, chưa xác thực về Việt Nam”...
Những phát biểu nói trên cũng chính là sự thừa nhận khách quan của cộng đồng quốc tế về vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay; bởi, những thành tựu đó luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng. Chính vì vậy, ở Việt Nam, trong 90 năm qua, các tầng lớp nhân dân đều thừa nhận sự lãnh đạo độc tôn của ĐCS Việt Nam; đại đa số nhân dân thực sự coi Đảng là lực lượng lãnh đạo, là người đại biểu trung thành cho lợi ích của mình. Thực tế đó đã được các nhà nghiên cứu của Viện Phát triển quốc tế thuộc Trường Đại học Ha-vớt (Hoa Kỳ) nhận xét trong một công trình nghiên cứu cùng Cơ quan Phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA): “Ở Việt Nam, trong tương lai, khó có thể hình dung cơ sở xã hội cho việc xây dựng một đảng có khả năng cạnh tranh với ĐCS Việt Nam. Hơn nữa, Đảng phải tăng cường hệ thống một đảng không chỉ vì lý do tư tưởng mà còn hầu hết đảng viên đều tin rằng đường lối chính trị cạnh tranh sẽ làm trầm trọng thêm những chia rẽ giữa các vùng và làm mất ổn định chính trị”.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2020

KHI GIÁO SƯ TOÁN HỌC BÀN CHUYỆN CHỐNG DỊCH

Nếu facebook Ngô Bảo Châu là có thật và “nó” đã bị nhiều bạn phê phán từ những năm trước về một quan điểm rằng: không nên bắt ai phải “sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Đến nay khá nhiều bạn trên mạng lại nêu tiếp: “Châu lại húc” và không quên kèm theo sự nguyền rủa nặng nề, khi “Châu” châm chọc, bác bỏ việc một số nơi ở Việt Nam tạm đóng của các quán vỉa hè do Covid -19 bùng phát lại. Chúng ta hãy cùng đi sâu để nói về điều này xem quan điểm của Châu như thế nào. Không phải vì phán xét một cách chủ quan, mà chỉ là sự nhìn nhận có tính khoa học về quan điểm của một con người học toán nhưng thích làm chính trị:

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2020

KHÔNG THỂ BÁC BỎ NHỮNG GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC CỦA NỀN DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM


Trong thời đại ngày nay, các giá trị dân chủ và quyền con người được chia sẻ giữa các quốc gia, dân tộc thông qua cơ chế gia nhập, ký kết các công ước của Liên hợp quốc. Thế nhưng một số kẻ kỳ thị với chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo vẫn cố tình lợi dụng internet, mạng xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam. Nền dân chủ XHCN của Việt Nam bắt nguồn từ lịch sử, bản chất chính trị và từ những quy định về pháp lý. Thực tiễn cách mạng Việt Nam minh chứng: Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam ra đời sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 - cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chế độ xã hội và nền dân chủ XHCN ở Việt Nam đã phải chống chọi với các thế lực xâm lược hùng hậu trong các cuộc kháng chiến anh dũng bảo vệ Tổ quốc kéo dài hơn 30 năm (1945 - 1975) với không biết bao nhiêu hy sinh xương máu của đồng bào và chiến sĩ. Đó là thành quả đấu tranh của cả dân tộc, là nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với thực tiễn nêu trên, khẳng định không thể có một nền dân chủ “hòa tan” ở Việt Nam./.

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH, BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

1. Tiếp tục làm rõ những giá trị to lớn, ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc của Di chúc. Di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá, thể hiện tầm cao trí tuệ, tấm lòng vì dân vì nước, tầm nhìn sâu rộng về những vấn đề chiến lược của cách mạng, về sự chỉ đạo chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, nhất là ở những thời điểm bước ngoặt của cách mạng. 

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH, BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng, dân tộc ta trên con đường đấu tranh, xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi hành động xuyên tạc nội dung, giá trị của Di chúc cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ. Đây là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

KHÔNG THỂ BÁC BỎ VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung cơ bản để giữ vững sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế quốc gia. Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới ở nước ta đã minh chứng điều đó và bác bỏ mọi phủ nhận vai trò của thành phần kinh tế này.