Hiển thị các bài đăng có nhãn điện biên phủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn điện biên phủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

ĐIỆN BIÊN PHỦ - 56 NGÀY ĐÊM CHẤN ĐỘNG ĐỊA CẦU

Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ 20 và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc.

Theo đánh giá của tướng H.Navarre và các nhà quân sự Pháp-Mỹ thì “Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả miền Đông Nam Á, nằm trên trục giao thông nối liền các miền biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar) và Trung Quốc. Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1952-1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của Việt Nam”. Đánh giá Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở Đông Dương, nên sau khi đánh chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20/11/1953, quân Pháp không ngừng tăng thêm binh lực, vũ khí, trang thiết bị quân sự, xây thêm nhiều công sự, đồn lũy và các loại vật tư khác. Được sự giúp đỡ của Mỹ về cố vấn, trang bị kỹ thuật, kinh tế, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương.

Tính đến tháng 3/1954, tại Điện Biên Phủ đã có 12 tiểu đoàn và bảy đại đội bộ binh, ba tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng, một phi đội máy bay thường trực (14 chiếc). Sau này trong quá trình chiến dịch, quân Pháp tăng viện thêm bốn tiểu đoàn, hai đại đội lính dù, tổng cộng có 17 tiểu đoàn, phần lớn đều là lính tinh nhuệ. Ngoài ra còn có các quân chủng pháo binh, công binh, thiết giáp, phân đội hỏa pháo. Tổng số quân tăng lên hơn 16.000 người và 300 máy bay vận tải tiếp tế, có sự chi viện của không quân Mỹ.

Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 diễn ra cùng thời điểm quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, “địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta. Vô luận rồi đây, địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta."

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh Trần Đình, nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị, Đặng Kim Giang - Chủ nhiệm Cung cấp.

Với những nỗ lực cao nhất, Việt Nam đã dồn hết sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiều tầng lớp nhân dân hăng hái lên đường tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ như công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sỹ… Và đã có biết bao tấm gương hy sinh trên đường ra trận, nhiều anh hùng quên mình xả thân cho cuộc kháng chiến. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Đầu tháng 3/1954, thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với phương châm “đánh chắc, tiến chắc” đã hoàn thành. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm ba phân khu. Trên chiến trường, ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ.

Đợt một của chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13/3/1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt hai diễn ra ngày 30/3/1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt ba chiến dịch diễn ra ngày 1/5 và kết thúc ngày 7/5/1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu, hy sinh, gian khổ, quân và dân Việt Nam đã tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị cùng ký Hiệp định Geneva chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược (1945-1954) ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Hiệp định Geneva đã tạo được cục diện mới, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý rất quan trọng để dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

Những cột mốc đáng nhớ trong chiến dịch Điện Biên Phủ

20/11/1953, Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, manh nha ý định xây dựng căn cứ quân sự ở đây và ngăn chặn quân chủ lực Việt Nam chiếm đóng Tây Bắc.

03/12/1953, Navarre chính thức quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau khi nghiên cứu, xem xét và cân nhắc những điều kiện thuận lợi tại thung lũng lòng chảo phía Tây Bắc Việt Nam. Quyết định này đưa tới sự ra đời của tập đoàn cứ điểm “chưa từng thấy” ở Đông Dương với 49 cứ điểm mạnh mẽ, được đầu tư viện trợ tối đa và binh lực và hỏa lực và sự dẫn dắt, chỉ huy của Đại tá De Castries.

06/12/1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông - Xuân 1953 - 1954 của ta với Thực dân Pháp, đồng thời cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư kiêm Tổng tư lệnh mặt trận.

26/01/1954, Tổng tư lệnh mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”.

31/01/1954, Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ chuyển vị trí đóng quân đến khu rừng Mường Phăng trên đại điểm xã Mường Phăng, huyện Điện Biên cách Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khoảng 40km đường bộ và khoảng hơn 15km đường chim bay.

13/3/1954, Sau khi chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt, ta chính thức mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ tại Trung tâm đề kháng Him Lam, một trong những cụm cứ điểm mạnh nhất của Pháp nằm phía Đông Bắc Tập đoàn cứ điểm.

31/3/1954, Đợt tấn công thứ hai vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhiệm vụ tập trung vào dãy cao điểm phía Đông, khu sân bay Mường Thanh, thừa cơ tiến vào khu trung tâm, nơi có Sở chỉ huy của De Castries.

01/5/1954, Đợt tấn công cuối cùng nhằm kết thúc số phận của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được tiến hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất là tiêu diệt nốt A1 và C2, thừa cơ tiến hành tổng công kích.

06/5/1954, vào lúc 20 giờ 30 phút, khối bộc phá 960kg nổ trên Đồi A1 báo hiệu ngày tàn của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

07/5/1954, sau khi mở được chiếc chìa khóa cuối cùng A1, quân ta từ các hướng tiến thẳng vào hầm chỉ huy của De Castries. Không có sự kháng cự, De Castries cùng Bộ chỉ huy quân Pháp và sau đó là toàn bộ quân đồn trú từ các hầm trú ẩn và các cứ điểm ra hàng.

21/7/1954, Hiệp định Gionever được ký kết, Pháp và các nước tham gia công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, rút quân khỏi Đông Dương./.

Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021

ĐIỆN BIÊN PHỦ - THẮNG LỢI CỦA TÌNH ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trước hết thuộc về dân tộc Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, nhưng không thể không nói đến sự giúp đỡ to lớn của bè bạn khắp năm châu mà trước hết là Trung Quốc, Liên Xô, Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp, nhân loại tiến bộ trên thế giới. Không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh viết, chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ “là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”

Phá thế bao vây, tìm kiếm sự ủng hộ của bạn bè quốc tế

Hoạt động đối ngoại mở ra bước ngoặt trong quá trình tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Pháp là chuyến thăm Trung Quốc và liên Xô của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ ngày 2-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Trung Quốc. Tại Bắc Kinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố: "Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà bình và xây đắp dân chủ thế giới".

Ngày 15-1-1950, Chính phủ Việt Nam công nhận nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Ngày 18-1-1950, Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa - nước đầu tiên - công nhận Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 30-1-1950, Chính phủ Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết và các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày 3-2-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Bắc Kinh lên đường sang thăm Liên Xô. Chuyến thăm này đã đem lại sự giúp đỡ vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Từ đó, Việt Nam đã có một "hậu phương" to lớn, liền kề giúp đỡ về tinh thần và vật chất của bè bạn năm châu, nhất là của Chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa.

Sự hiểu biết của nhân dân Pháp đối với Việt Nam còn nhiều hạn chế do thông tin không đầy đủ lại bị chính phủ cầm quyền bóp méo. Phải đến năm 1950, Đảng Cộng sản Pháp và Liên đoàn Thanh niên Cộng sản, Tổng Công hội, Phong trào Hoà Bình, Liên hiệp phụ nữ Pháp... mới chống lại cuộc chiến tranh Đông Dương một cách tích cực và liên tục. Sự chuyển biến này là kết quả chuyến thăm bí mật của Lêô Phighe, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp tới Việt Bắc. L.Phighe đã đến thăm các đơn vị chiến đấu, đến tận nơi quan sát những trận càn quét, ném bom của quân đội Pháp, gặp gỡ trò chuyện với nhân dân, sống chung một số ngày với Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua đó thấy rõ hơn tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam. Về Pháp, Lêô Phighe viết một cuốn sách về Việt Nam, đánh thức sự hiểu biết và lương tâm của nhân dân Pháp.

Những nỗ lực ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dẫn đến sự giúp đỡ ngày càng tăng, ngày càng hiệu quả về nhiều mặt, chính trị, ngoại giao, tinh thần, vật chất, vũ khí của thế giới dành cho Việt Nam.

Sự giúp đỡ quốc tế với cuộc kháng chiến chống Pháp và chiến dịch Điện Biên Phủ

Sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế diễn ra dưới nhiều hình thức (bãi công, biểu tình, hội thảo, ngăn cản các chuyến tàu chở vũ khí sang Việt Nam, quyên góp, viết báo, sách ca ngợi cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam...).

Do bị ràng buộc bởi Hiệp ước Xô-Pháp ký ngày 22/12/1944 tại Mátxcơva, trong đó có điều khoản quy định hai bên ký kết không được can thiệp vào công việc chính trị, quân sự, ngoại giao của mỗi bên, nên Liên Xô khó có thể công khai giúp đỡ Việt Nam. Tuy vậy Liên xô vẫn giúp đỡ Việt Nam về tinh thần và vật chất.

Thực hiện chủ trương “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của một số nước. Ở Thái Lan, chúng ta được đặt một tổ điện tài để khai thác thông tin các mặt và phát về Việt Bắc. Nhờ tổ điện tài này Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ kịp thời nắm bắt diễn biến tình hình quốc tế. Thái Lan còn cho “mượn đất”, “cấp vũ khí đủ trang bị cho một số đơn vị nhỏ” đưa về Việt Nam tham gia kháng chiến.

Sự giúp đỡ nhiều mặt của nhân dân châu Phi (tiêu biểu là Angiêri và Marốc), châu Á (Lào, Campuchia, Inđônêxia) đóng góp đáng kể cho kháng chiến (phản chiến, chia lửa...). Đáng kể nhất là sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản, nhân dân Pháp và Chính phủ, nhân dân Trung Quốc.

Nhân dân Pháp kịch liệt lên án “cuộc chiến tranh bẩn thỉu, phi chính nghĩa, phản động, chống lại tự do của nhân dân Việt Nam”. Đảng Cộng sản Pháp tuyên truyền mạnh mẽ về những chi phí phi lý trong chiến tranh Đông Dương. Một cuộc chiến tranh mà ngay cả Nava cũng phải thốt lên rằng: “Đó là một cuộc chiến tranh mà quốc gia Pháp, chưa hề hiểu được lợi ích dân tộc, là một cuộc chiến tranh mà đất nước đã mệt mỏi và người ta (Pháp) đã để lại cho đất nước nghĩ rằng, cuộc chiến tranh đó không còn một ý nghĩa nào nữa”. Oán ghét chiến tranh là tâm lý phổ biến của nhân dân Pháp. Đấu tranh đòi thả anh thủy thủ H.Mactin lan rộng. Đến tháng 8-1953, 82% người Pháp đồng tình chấm dứt cuộc chiến tranh “bẩn thỉu” của Pháp ở Đông Dương.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp, phong trào phản chiến ngày càng sôi động. Đáng chú ý là hành động dũng cảm của nữ công nhân Raymông Điêng (Raymond Diene) nằm chắn ngang đoàn tàu chở vũ khí xuống tàu sang Việt Nam. Trên các diễn đàn quốc tế của học sinh, sinh viên, thanh niên, phụ nữ... các đại biểu Pháp chủ động gặp đại biểu Việt Nam gửi tiền bạc, quà tặng, thư từ... về Việt Nam. Các bà mẹ có con chết ở Việt Nam đeo băng tang kéo đến Bộ Quốc phòng đòi "trả con cho chúng tôi". Nhiều linh mục viết kiến nghị đòi chấm dứt chiến tranh.

Chính phủ Pháp đàn áp dã man phong trào phản chiến, truy tố những người rải truyền đơn chống chiến tranh, bắt và xử tù chị Raymông Điêng, anh H.Mactin, bà E.Côtton, anh L.Figuères, bắt các lãnh tụ Đảng Cộng sản và Tổng Công đoàn J.Duclos, E.Fajon, F.Billoux... cấm một số tờ báo tiến bộ... nhưng phong trào phản chiến của nhân dân Pháp vẫn phát triển sôi động.

Đây là sức ép quan trọng để sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương theo lời hứa Tổng thống lúc đó.

Đặc biệt, sự giúp đỡ của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là hết sức to lớn. Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời (1-10-1949), mặc dù nước Trung Hoa mới còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn nhưng Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đã dành cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam sự viện trợ quý báu về vật chất: vũ khí, đạn dược, quân nhu, lương thực, tài chính... cử đoàn cố vấn sang Việt Nam, nhận đào tạo cán bộ Việt Nam tại Trung Quốc...

Theo thoả thuận giữa Chính phủ ba nước Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô, Trung Quốc sẽ nhận của Liên Xô trang bị cho một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly, 30 xe vận tải Môlôtôva và một số thuốc quân dụng để chuyển về Việt Nam.

Tháng 4 năm 1950, hai trung đoàn của Đại đoàn 308 được lệnh sang Vân Nam nhận vũ khí. Sau đó một trung đoàn đại đoàn 312 cũng được lệnh sang Quảng Tây nhận vũ khí. Phía Trung Quốc cũng đã chuyển giúp vũ khí sang Cao Bằng để trang bị cho hai trung đoàn đang đối phó với địch.

Đến năm 1950, Việt Nam đã nhận viện trợ của Trung Quốc 1.020 tấn vũ khí đạn dược, 180 tấn quân trang quân dụng, 2.634 tấn hàng quân giới, 30 ô tô, 120 tấn xăng dầu và phụ tùng ô tô.

Trong Đông Xuân 1953 - 1954, Trung Quốc tiếp tục giúp Việt Nam lương thực, xe đạp thồ, ô tô vận tải, đạn pháo... (3.600 viên đạn 105 ly kèm theo 24 khẩu pháo) và bạn đã dốc 7.400 viên đạn giúp ta (nhưng số này đến khi ta đã kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ). Đặc biệt, Trung Quốc đã chuyển cho Việt Nam 12 dàn hỏa tiễn 6 nòng (H.6) càng làm cho quân Pháp hoang mang trong những ngày cuối cùng của chiến dịch... Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 1.700 tấn gạo, chiếm 6,8% tổng số gạo dùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ....Trung Quốc còn giúp đỡ Việt Nam về chính trị, ngoại giao, về tham mưu và huấn luyện quân sự...

Sự giúp đỡ của quốc tế là to lớn nhưng Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng tác chiến và nhân dân Việt Nam lo việc hậu cần như đóng góp gạo nước đúng như Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ đã nói “sự giúp đỡ bên ngoài chỉ là sự giúp đỡ chung”. Quyết tâm chến đấu, chiến thắng của dân tộc Việt Nam trước kẻ thù xâm lược mới là yếu tố quyết định đưa tới chiến thắng. Trong sách Trận Điện Biên Phủ, Giuyn Roa cũng đã nhận định rằng: “Tướng Nava ở Điện Biên Phủ bị đánh bại không phải do viện trợ Trung Quốc mà do trí thông minh và quyết tâm chiến thắng của người Việt Nam... Chính những chiếc xe đạp Pơgiô thồ 200-300kg đã đánh bại ông ta".

VAI TRÒ ĐẶC BIỆT CỦA HỒ CHỦ TỊCH TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” (7-5-1954) là sự hội tụ của nhiều yếu tố. Trong đó phải kể đến vai trò lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là tầm nhìn, nhãn quan chiến lược tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuối tháng 9-1953, tại Tỉn Keo, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Bộ Chính trị họp thông qua phương án tác chiến Đông Xuân 1953-1954 của Tổng Quân ủy do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày. Nghe xong phương án tác chiến, Bác nhắc lại tinh thần nghị quyết đầu năm của Trung ương Đảng. Bác nhấn mạnh, phương châm chung của ta là trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, vì vậy, không chủ quan khinh địch, không nóng vội, không mạo hiểm. Phải thực hiện đánh ăn chắc, tiến ăn chắc, chắc thắng thì đánh cho kỳ thắng, không chắc thắng thì kiên quyết không đánh; chỉ được đánh thắng, không được đánh không thắng. Sau đó, Người giơ bàn tay phải lên, nắm lại, xòe ra nhiều lần, rồi phân tích: Bàn tay nắm lại thì thành quả đấm mạnh. Nếu duỗi ra thì dễ bẻ gãy từng ngón. Ta phải có cách buộc khối quân cơ động của địch phải chia ra làm 5, làm 7 mảng mà tiêu diệt dần, đặng làm cho chúng thất bại hoàn toàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc hội nghị bằng một ý kiến, đại ý: Tổng Quân ủy phải có một kế hoạch lâu dài về mọi mặt để đối phó với kẻ địch trên chiến trường toàn quốc, sau đó phải có kế hoạch đẩy mạnh những hoạt động du kích tại Đồng bằng Bắc Bộ. Cần đề phòng địch đánh ra vùng tự do ở những nơi đang tiến hành cải cách ruộng đất. Về hướng hoạt động, lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là hướng phối hợp. Hướng chính hiện không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi, "phép dùng binh là phải thiên biến vạn hóa".

Ngày 6-12-1953, trong cuộc họp của Bộ Chính trị, sau khi nghe nhận định tình hình chiến sự Đông Xuân 1953-1954 và thống nhất cách đánh giá, đi đến quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược, coi đây là đòn quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ đạo: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng. Không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải hoàn thành cho kỳ được". Trong cuộc họp, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những phân tích, đánh giá sắc sảo, thống nhất nhận định: Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng có cái yếu cơ bản là bị cô lập, rất xa hậu phương của địch, mọi tiếp tế, vận chuyển đều phải dựa vào đường không. Đối với ta, Điện Biên Phủ cũng xa hậu phương lớn, vì vậy, khó khăn lớn nhất cũng là vấn đề cung cấp. Mặc dù vậy, chúng ta có thể khắc phục dễ hơn kẻ địch, vì hậu phương của ta đang chuyển mình trong cuộc cải cách ruộng đất, Quân đội ta cũng đã trưởng thành sau các chiến dịch lớn…

Ngày 1-1-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Bộ Chính trị để phân công, giao nhiệm vụ cho cơ quan lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch, triển khai kế hoạch điều động lực lượng lên Tây Bắc. Lúc giao nhiệm vụ cho Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Người dặn: “Tổng tư lệnh ra mặt trận, tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định rồi báo cáo sau. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Đây vừa là lời dặn dò nhưng cũng là tư tưởng chỉ đạo giúp Đại tướng Võ Nguyên Giáp có căn cứ để xử trí trong quá trình chỉ huy trận đánh. Từ tư tưởng chỉ đạo này, quá trình chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo các binh chủng chuyển phương châm từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đồng thời yêu cầu các đơn vị tùy điều kiện cụ thể mà sử dụng binh lực tiêu diệt, tự giải quyết hậu cần.

Ngoài việc phán đoán, nhận định tình hình, linh hoạt trong giao nhiệm vụ, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện khả năng tuyệt vời về công tác động viên, cổ vũ bộ đội. Tháng 3-1954, trong "Thư gửi cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Các chú sắp ra mặt trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang… Nhiều đơn vị đã đánh thắng trên các mặt trận. Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới”.

Đúng 17 giờ ngày 13-3-1954, pháo binh của ta đã bắn dồn dập vào khu sân bay Mường Thanh và cụm cứ điểm Him Lam, mở đầu cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngay sau khi tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam và đập tan đợt phản kích của địch, ngày 15-3, Bác Hồ lại gửi điện khen ngợi, cổ vũ chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ. Trước sự chỉ đạo sát sao cùng sự động viên, cổ vũ kịp thời của Trung ương Đảng và Bác Hồ, các lực lượng tham gia chiến dịch đã nỗ lực khắc phục khó khăn, liên tục giành những thắng lợi quan trọng và kết thúc chiến dịch vào ngày 7-5-1954.

CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ - NHỮNG TRANG SỬ VÀNG HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Điện Biên Phủ là một thung lung lòng chảo rộng lớn ở phía Tây vùng núi Tây Bắc, có chiều dài khoảng 20km, rộng từ 6-8km; cách Hà Nội khoảng 200km, cách Luang Prabang (Lào) khoảng 190km theo đường chim bay.

Theo đánh giá của tướng H.Navarre và các nhà quân sự Pháp-Mỹ thì “Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả miền Đông Nam Á, nằm trên trục giao thông nối liền các miền biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar) và Trung Quốc." "Điện Biên Phủ là một cánh đồng rộng lớn nhất, đông dân và giàu có nhất vùng Tây Bắc." Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1952-1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của Việt Nam.

Đánh giá Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất ở Đông Dương, nên sau khi đánh chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20.11.1953, quân Pháp không ngừng tăng thêm binh lực, vũ khí, trang thiết bị quân sự, xây thêm nhiều công sự, đồn lũy và các loại vật tư khác. Được sự giúp đỡ của Mỹ về cố vấn, trang bị kỹ thuật, kinh tế, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương.

Tính đến tháng 3.1954, tại Điện Biên Phủ đã có 12 tiểu đoàn và bảy đại đội bộ binh, ba tiểu đoàn pháo binh, một đại đội xe tăng, một phi đội máy bay thường trực (14 chiếc). Sau này trong quá trình chiến dịch, quân Pháp tăng viện thêm bốn tiểu đoàn, hai đại đội lính dù, tổng cộng có 17 tiểu đoàn, phần lớn đều là lính tinh nhuệ. Ngoài ra còn có các quân chủng pháo binh, công binh, thiết giáp, phân đội hỏa pháo. Tổng số quân tăng lên hơn 16.000 người và 300 máy bay vận tải tiếp tế, có sự chi viện của không quân Mỹ.

Về phía Việt Nam, việc quân Pháp nhảy dù tái chiếm Điện Biên Phủ không làm đảo lộn kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ngay cả trên hướng Tây Bắc. Trên các hướng đã được xác định, khối chủ lực vẫn mở các cuộc tiến công đúng như kế hoạch gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại và bị động đối phó.

Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 diễn ra cùng thời điểm quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, “địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta. Vô luận rồi đây, địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta."

Các đòn tiến công chiến lược quan trọng của Việt Nam trong Đông Xuân 1953-1954 đã buộc khối cơ động của địch phải phân tán đối phó trên nhiều hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam thực hiện trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.

Ngày 6.12.1953, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ với bí danh Trần Đình, nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân ủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng, Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị, Đặng Kim Giang - Chủ nhiệm Cung cấp.

Với những nỗ lực cao nhất, Việt Nam đã dồn hết sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiều tầng lớp nhân dân hăng hái lên đường tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ như công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sỹ… Và đã có biết bao tấm gương hy sinh trên đường ra trận, nhiều anh hùng quên mình xả thân cho cuộc kháng chiến.

Đầu tháng 3.1954, thời gian chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với phương châm “đánh chắc, tiến chắc” đã hoàn thành. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm ba phân khu. Trên chiến trường, ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ.

Đợt một của chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13.3.1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt hai diễn ra ngày 30/3/1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt ba chiến dịch diễn ra ngày 1.5 và kết thúc ngày 7.5.1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu, hy sinh, gian khổ, quân và dân Việt Nam đã tiêu diệt toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử của dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ 20, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc.

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định sức mạnh to lớn của nhân dân Việt Nam. Có thể nói, thực dân pháp và can thiệp Mỹ đã hoàn toàn bất ngờ trước sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, trước việc “Việt Minh” có đủ lương thực và vũ khí để chiến đấu liên tục trong suốt gần hai tháng trên địa bàn hiểm trở, xa hậu cứ trước việc xuất hiện của trọng pháo trên trận địa đỉnh núi…

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị cùng ký Hiệp định Geneva chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược (1945-1954) ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Hiệp định Geneva đã tạo được cục diện mới, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý rất quan trọng để dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

ĐIỆN BIÊN PHỦ - NHỮNG ĐIỀU CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ CHIẾN TRANH

Chiến dịch Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên) giữa Quân đội Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong chiến dịch này: “xe đạp thồ”, “địch tiếp tế” và “dân nhiều hơn quân” là những điểm mấu chốt quan trọng nhất góp phần làm nên chiến thắng vang dội trong lịch sử.

1- Xe đạp lên ngôi vua vận tải

Thời ấy các gia đình khá giả mới có được một chiếc xe đạp, đó cũng là tài sản quý nhất của mỗi nhà. Thế mà dân đem xe ra trận, sáng kiến, cải tiến, gia cố chiếc xe đạp của mình thành xe thồ, phương tiện vô cùng lợi hại vận chuyển tiếp tế cho mặt trận mà không có bất cứ phương tiện nào sánh kịp; trên địa hình hiểm trở, đường hẹp, dốc trơn, vừa phát cây san đường, chỉ cần 1 mét chiều ngang là đi được."Xe đạp thồ" là một danh từ ra đời từ mặt trận Điện Biên Phủ. Nó đã góp phần quan trọng vào chiến thắng, trở thành ngôi vua vận tải cho trận đánh lớn này. Có lẽ vì thế mà chiếc tay cầm nối dài được gọi là "tay ngai" (chỉ có vua mới có ngai).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: "Mỗi xe thồ lúc đầu chở được 100 kg sau đó nâng lên 200 kg, 300 kg. Có một dân công ở Phú Thọ, anh Ma Văn Thắng chở được 352 kg. Năng suất xe thồ gấp 10 lần dân công gánh bộ. Gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở cũng giảm đi 10 lần". Như vậy 1 dân công với chiếc xe đạp thồ bằng 100 dân công gánh bộ.

Đội quân xe đạp thồ xuất hiện ở Điện Biên là một sự kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử chiến tranh, không chỉ ở Việt Nam mà cả lịch sử chiến tranh thế giới.

2- Giặc liên tục tiếp tế cho ta, biết mà vẫn phải làm

Đây là chuyện rất hy hữu chưa từng có trong chiến tranh, kể cả trên thế giới.

Khi trận Điện Biên Phủ diễn ra được 3 tuần lễ, vòng vây khép chặt, ta và địch kề cận nhau, có nơi xen kẽ, có điểm lúc này thuộc bên này, lúc khác lại thuộc bên kia, đêm quân ta đào giao thông hào, ban ngày địch cho xe ra san lại.

Hàng vạn quân địch chỉ trông chờ vào phương tiện tiếp tế duy nhất là đường hàng không cách xa trên 360 km. Sân bay Mường Thanh liên tục bị ta pháo kích. Chỉ còn lại một biện pháp duy nhất là thả dù. Máy bay Pháp, phi công Pháp huy động 100% vẫn không đủ. Phải nhờ đến cả máy bay vận tải Mỹ, phi công của Mỹ mặc thường phục để thả dù tiếp tế cho Điện Biên Phủ.

Về nguyên lý máy bay thả dù, muốn thả cho chính xác cần phải xuống thấp và tính được gió. Lòng chảo Điện Biên hướng Đông - Tây hẹp, chung quanh núi cao, chỉ có chiều dài theo hướng Bắc - Nam. Mà ở cả hai đầu hướng Bắc Nam, cao xạ pháo và súng phòng không của ta sẵn sàng nghênh đón. Vậy là chỉ còn hai cách bay trên cao và thả ban đêm. Với hai cách này mà ở vùng lòng chảo lại thường có gió quẩn, rơi không chính xác và không theo chiều nhất định. Hàng thả dù rất khó trúng đích, rơi rất nhiều sang phía quân ta. Địch biết rõ nhưng không có cách nào khắc phục được.

Cố Đại tướng Hoàng Văn Thái kể lại rằng: "Có đến trên một phần ba đồ tiếp tế của chúng rơi vào trận địa quân ta, có những thứ ta đang rất cần, đã hết hoặc không có như: huyết thanh khô, đạn súng cối, đạn đại bác... Có lần anh em nhặt được những bao tải, tưởng là bao cát định đem làm công sự. Tiểu đoàn trưởng thấy ngoài bao có chữ "Sucre" liền thọc lưỡi lê vào rút ra toàn là đường trắng, một thứ rất quý, cần tăng sức cho bộ đội ta. Có những thứ không ai nghĩ tới như nước đá cây, xà lách, hành tây. Các chiến binh 312 còn nhặt được cả một thùng hàng trong đó có rượu sâm-banh và quân hàm cấp tướng của DeCastries mới được phong. Anh em quẳng quân hàm đi và mở rượu ra liên hoan. Trong vòng một tuần lễ có trung đoàn thu được 776 dù hàng của địch đủ các loại: gạo, sữa, đường, sô-cô-la, đạn pháo... (địch đã thả dù sang trận địa ta, tổng cộng 5.000 viên đạn đại bác 105 ly).

Tất cả hàng tiếp tế rơi vào quân ta. Bộ Chỉ huy Pháp biết rất rõ, biết từng ngày, biết cả số liệu cụ thể nhưng không có cách nào khác là từng ngày vẫn cứ phải tiếp tế nhiều hơn, càng tiếp tế thì tập đoàn cứ điểm càng thêm nguy cơ "tắt thở".

3- Dân ra trận nhiều hơn quân

Lần đầu tiên và cũng là sự kiện có một không hai trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm của dân tộc ta, dân ra mặt trận nhiều hơn quân đội. Chỉ tính riêng đội quân xe đạp thồ (hơn 2 vạn) đã đông hơn số quân chủ lực. Chưa tính và không thể nào tính hết được biết bao nhiêu dân công tiếp lương, tải đạn, làm đường suốt biên giới trở về, từ đồng bằng khu 3, khu 4, trung du ngược lên, trên mọi nẻo đường. Dân nuôi quân, che chở, chăm lo từng bước quân đi.

Trung ương Đảng và Chính phủ động viên toàn dân dốc sức chi viện cho trận Điện Biên Phủ. Một tổ chức đặc biệt được thành lập là Hội đồng cung cấp trung ương do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Thời gian này ở lại hậu phương phần lớn chỉ là người già yếu và trẻ em. Chưa bao giờ khát vọng vì độc lập tự do, ý chí, tinh thần của dân tộc Việt Nam "quyết tâm đánh thắng giặc, tất cả cho tiền tuyến" lại trở thành sức mạnh vật chất một cách cụ thể, hùng hậu đến như vậy. Trên mọi mặt trận từ đồng bằng, khu 3, khu 4, Bình Trị Thiên, miền Trung, khu 5, Tây Nguyên cho đến Nam Bộ - ở đâu đâu, bất cứ trận đánh lớn nhỏ, đánh sân bay, kho tàng, đánh thật hoặc đánh nghi binh... tất cả đều đặt lên hàng đầu một mục tiêu là: phối hợp với mặt trận Điện Biên.

Trong lịch sử chiến tranh đánh giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay chưa hề có trận đánh nào dài ngày như trận đánh Điện Biên Phủ. Chỉ tính từ lúc nổ súng cho đến khi quân giặc đầu hàng, tướng giặc bị bắt, trọn 56 ngày đêm giao tranh không ngừng tiếng súng.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là sự kết tinh của nhiều nhân tố, trong đó quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của ý chí quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh của Quân đội nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ đồng thời là chiến thắng của tình đoàn kết chiến đấu bền chặt, thủy chung, son sắt giữa quân đội, nhân dân 3 nước Đông Dương và sự đoàn kết, giúp đỡ, ủng hộ của các nước anh em và bạn bè quốc tế. Chiến thắng Điện Biên phủ đã làm nên một thiên sử vàng cho dân tộc ta. Muôn đời sau các thế hệ người Việt Nam sẽ còn nhắc đến chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, không chỉ là niềm tự hào về ông cha mình mà còn như là của chính mình vậy./.

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ

+ Một là, phải dựa vào sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc, của cả nước; động viên, phát huy, tập hợp sức mạnh và trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trước hết là sức mạnh của ý chí “quyết chiến, quyết thắng” vì mục tiêu cao cả: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

+ Hai là, thường xuyên chăm lo, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của các tổ chức đảng và vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên; thực hiện tốt công tác đảng, công tác chính trị trong từng trận đánh và toàn bộ chiến dịch.

+ Ba là, kiên định mục tiêu, nguyên tắc và chiến lược cách mạng; luôn luôn chủ động, nắm chắc tình hình, kịp thời đề ra chiến lược, sách lược và phương án tác chiến phù hợp, buộc địch đánh theo cách đánh của ta.

+ Bốn là, nêu cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường và những đức tính, phẩm chất cao quý nhất của con người Việt Nam (tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc... ).

+ Năm là, phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước, giết giặc lập công; hoàn thành các mục tiêu đề ra của từng trận đánh, từng đợt và toàn bộ chiến dịch./.

Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

a) Đối với Việt Nam:

- Chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, là một kỳ tích vẻ vang của thời đại Hồ Chí Minh. Điện Biên Phủ không chỉ đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa, mà còn đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vang dội đột phá vào thành trì của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Kỷ niệm 10 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định tạo bước ngoặt lịch sử trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch; trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng Tám; một nửa nước được giải phóng, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm tăng thêm niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

 b) Đối với thế giới:

- Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành luỹ của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới, qua đó chấm dứt thời đại hơn 400 năm của chủ nghĩa thực dân kiểu cổ điển trên thế giới; báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ của dân tộc ta đã chứng minh một chân lý của thời đại: Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nhưng luôn có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, biết phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định sẽ đánh bại bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một dân tộc vốn là thuộc địa nửa phong kiến, đất không rộng, người không đông, kinh tế còn lạc hậu, vũ khí kém cỏi, đã đánh thắng quân đội xâm lược của một cường quốc phương Tây có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn, trang bị vũ khí hiện đại. Trong lần đến thăm Việt Nam, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô đã nói: “Từ trước đến nay chưa từng có một cuộc chiến tranh nào mà một nước nhỏ, kinh tế lạc hậu như Việt Nam mà vẫn đánh thắng Pháp và Mỹ. Đó là vô song. Trên thế giới chưa từng có. Trong lịch sử chưa từng thấy”. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ la-tinh đứng lên đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

“TÔI HÂN HẠNH ĐƯỢC LÀM KẺ CHIẾN BẠI CỦA TƯỚNG GIÁP”, “TÔI NGƯỠNG MỘ VÀ KÍNH PHỤC ÔNG”- TƯỚNG DE CASTRIES CỦA PHÁP

Khác với các chính khách, tướng lĩnh khác từng thất trận ở Việt Nam, De Castries không viết hồi kí. Tuy nhiên, trước khi được trao trả, ông ta đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương”.

Tổng chỉ huy quân đội Pháp thừa nhận: “Đối phương cao hơn chúng ta”!

Với cái tên dài dằng dặc Christian Marie Ferdinand de la Croix de Castries, Tướng De Castries (1902-1991) sinh ra trong một gia đình quý tộc, vì vậy còn được gọi là “Bá tước Đờ Cát” (Le Comte de Castries). Dòng họ de Castries từng sinh ra một nguyên soái là Bộ trưởng Hải quân Pháp vào thế kỷ 18, một trung tướng, bảy thiếu tướng và bốn thống đốc.

Tốt nghiệp Trường kỵ binh Saumur và Trường võ bị Saint Cyr nổi tiếng, de Castries đã tham gia chiến đấu chống phát xít Đức ở Bắc Phi, Ý, Nam Pháp và Nam Đức. Năm 1946, De Castries được phái đến Đông Dương, đã chỉ huy nhiều cuộc hành quân bình định vùng Hưng Yên, Ninh Bình và nhanh chóng nổi tiếng vì xông xáo trận mạc, từng bị thương nặng gãy hai chân. Khi ra trận, thường de Castries có dáng điệu rất oai phong với chiếc mũ ca lô đỏ trên đầu, cổ thắt chiếc khăn đỏ sặc sỡ, tay cầm cây gậy bằng hợp kim nhôm nhẵn bóng.

Ngoài binh nghiệp, De Castries còn là vận động viên có hạng, từng vô địch thế giới về nhảy cao năm 1933, về nhảy xa năm 1935. Ông cũng là kỵ sĩ đua ngựa giỏi.

Ngày 7/12/1953, đại tá Christian De Castries được Cogny và Navarre chỉ định chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trả lời câu hỏi vì sao lại trao quyền chỉ huy Điện Biên Phủ đáng lẽ phải là một viên tướng, cho một đại tá, Navarre trả lời: "Tôi không trông lon mà xét người nên cũng chẳng sùng bái gì lắm mấy ngôi sao cấp tướng. Tôi khẳng định: Trong số các chỉ huy được lựa chọn, không ai có thể làm giỏi hơn Castries". Bản thân de Castries rất hãnh diện về điều này. Ông ta đã cố xây dựng Điện Biên Phủ thành một pháo đài “bất khả xâm phạm”, một “pháo đài mạnh nhất chưa từng có ở Đông Dương”. Chính Navarre đã nhận định: không một quan chức dân sự, quân sự nào kể cả Pháp lẫn Mỹ đến thăm Điện Biên Phủ mà không ngạc nhiên về sức mạnh phòng thủ của nó và không tỏ cảm tình với de Castries.

Rất chủ quan về tính “bất khả xâm phạm” của Điện Biên Phủ, De Castries cho máy bay rải truyền đơn khiêu khích, thách thức quân ta tấn công. Một tuần trước khi quân ta nổ súng mở màn chiến dịch, Navarre định bổ sung cho Điện Biên Phủ 3 tiểu đoàn để tăng cường phòng thủ, song De Castries đã khước từ.

Đến giữa tháng 4/1954, khi đã mất sân bay Mường Thanh và vòng vây ngày một bị quân ta siết chặt, thì thái độ của De Castries chuyển từ chủ quan, hung hăng sang hoảng hốt. Chiếc mũ ca lô đỏ và cây gậy bị “bỏ quên”. Thay vì đi kiểm tra, đốc chiến, suốt ngày ông ta ngồi lì trong hầm Sở chỉ huy chất đầy các bao cát dầy tới 3m, gào thét vào điện thoại về tình cảnh bi đát của “Con Nhím” và yêu cầu tăng viện cứu nguy.

Ngày 16/4/1954, trong một nỗ lực nằm khích lệ tinh thần của một vạn rưởi quân đang ngụp lặn trong các chiến hào Điện Biên Phủ, De Castries được thăng hàm thiếu tướng (General de brigade). Oái ăm thay, lon và quà mừng như rượu hảo hạng, thuốc lá thơm, xúc xích, bít tết… gửi bằng dù lại bay vào trận địa quân ta. Cực chẳng đã, ngài bá tước phải cho quân lính cắt vỏ đồ hộp làm cho ông ta bộ lon cấp tướng để đeo tạm. Hai tuần sau (ngày 7/5), tập đoàn cứ điểm thất thủ, Castries bị bắt làm tù binh, kết thúc số phận hẩm hiu của một viên tướng thực dân.

Khác với các chính khách, tướng lĩnh khác từng thất trận ở Việt Nam, De Castries không viết hồi kí. Tuy nhiên, trước khi được trao trả, ông ta đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

"Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương”.

De Castries không thể tin rằng Đại tướng Võ Nguyên Giáp chưa hề qua một trường lớp quân sự bài bản nào. Ông ta khăng khăng cho rằng: "Nhất định Tướng Giáp đã tốt nghiệp tại học viện quân sự cấp cao ở Nga Xô hoặc ở Mỹ…". Và viên bại tướng đã phải thốt lên rất thành thực: "Tôi thừa nhận Tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn, tài giỏi hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cogny và tướng Navarre. Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2019

Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954

Đối với cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới và mở ra con đường giải phóng dân tộc cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Khẳng định vị thế, giá trị thời đại của chiến thắng đó, trong bài viết “Nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ” đăng trên Báo Nhân dân, số 3690, ngày 7-5-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Geneva, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; đồng thời phải công nhận độc lập của Lào, Campuchia, rút quân khỏi 3 nước Đông Dương.
 Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chứng minh một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó nhất định thắng lợi; đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh đứng lên đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Chính vì vậy, trong Báo cáo tại Hội nghị chính trị đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ và anh dũng của nhân dân cả nước ta, chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay: Chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công”.
 Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại; giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành lũy của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Tinh thần của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới nhất là các nước ở Châu Mỹ La-tinh, Châu Phi. Từ chiến thắng vang dội 5 châu, chấn động địa cầu ấy là cảm hứng bất tận để các nước Mỹ La-tinh (được gọi là “lục địa bùng cháy” hay “lục địa núi lửa”) vùng lên đấu tranh giành lại độc lập dân tộc nổ ra mạnh mẽ mà mở đầu là thắng lợi của cách mạng Cu-ba năm 1959 và sau đó là một cao trào đấu tranh đã phát triển mạnh mẽ, đấu tranh vũ trang nổ ra và giành thắng lợi ở nhiều nơi như Bô-li-vi-a, Vê-nê-xu-ê-la, Cô-lôm-bi-a... Đồng thời, cũng là ngọn cờ cổ vũ các nước thuộc địa, lệ thuộc ở Châu Phi đứng lên giành độc lập dân tộc. Năm 1960 được gọi là “Năm Châu Phi” vì có 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập.
Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại. Chiến thắng Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành lũy của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới; báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
 Đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất đất nước và cả nước độc lập đi lên chủ nghĩa xã hội. Ý nghĩa thời đại lớn lao này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dự đoán sẽ đi đến thắng lợi cuối cùng và trên thực tế đã trở thành hiện thực: “Với tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Điện Biên Phủ, từ nay về sau nhân dân miền Nam chắc sẽ thắng lợi hơn nữa. Muốn tránh một thất bại như ở Điện Biên Phủ và muốn khỏi mất thể diện, thì đế quốc Mỹ chỉ có một cách là chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược, rút ngay quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, để nhân dân miền Nam Việt Nam tự giải quyết lấy vấn đề nội bộ của mình và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, Campuchia và Lào”.
 Ngày nay, xu thế chung của thế giới là hoà bình, hợp tác và phát triển. Song đâu đó trên thế giới vẫn còn xảy ra những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường như: căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp lật đổ, khủng bố, khủng hoảng kinh tế toàn cầu… đang và sẽ tác động không nhỏ đến cách mạng Việt Nam. Tình hình thế giới và khu vực đặt ra những yêu cầu mới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi Đảng tiếp tục khơi dậy niềm tự hào dân tộc, kế thừa và phát huy cao độ những giá trị, ý nghĩa lớn lao và vô cùng quý báu của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, không ngừng đổi mới tư duy, tiếp tục đưa Việt Nam phát triển theo con đường mà Đảng và Bác đã lựa chọn, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
65 năm đã trôi qua, Chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch điển hình trong lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đánh thắng quân viễn chinh Pháp có tiềm lực quân sự mạnh, vũ khí trang bị hiện đại cùng với sự giúp đỡ của Mĩ. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về nhân dân Việt Nam. Chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ không những ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son rực sáng nhất trong thế kỷ XX, mà ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử trọng đại này không hề phai mờ, trái lại, những bài học lịch sử vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều này được thể hiện rõ trong những nhận định, đánh giá khách quan, toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khẳng định lại những tư tưởng ấy của Người, khi đánh giá về ý nghĩa, tầm vóc của Chiến thắng Điện Biên Phủ, Đảng ta nhận định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa của thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một mốc son chói lọi, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân”./.

Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã đập tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.Với tính chất là cuộc quyết chiến chiến lược trong chiến cuộc đông xuân 1953 - 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là trận thắng quyết định để đi tới kết thúc chiến tranh. Đây là thắng lợi quân sự lớn nhất của quân đội và nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương, làm cho kế hoạch Nava thất bại hoàn toàn; làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương. Không những vậy, chiến thắng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam giành thắng lợi. Điều này đã chứng minh về việc cảnh báo khuynh hướng ảo tưởng, chờ đợi, ỷ lại vào giải pháp ngoại giao trước đó là hoàn toàn đúng đắn khi Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích rõ chủ trương nhất quán của ta là hòa bình, nhưng kinh nghiệm cho thấy: “Phải đánh bao giờ cho đế quốc qụy, nó biết không thể đánh được nữa, nó mới chịu đàm phán. Đừng có ảo tưởng mình muốn đàm phán là nó đàm phán”; “phải đánh cho Pháp qụy. Lúc ấy, có đàm phán mới đàm phán, chứ không phải đưa đàm phán ra là nó đàm phán ngay đâu. Đừng có ảo tưởng. Mục đích của nó là xâm lược. Nó mất 99% còn hy vọng 1%, nó vẫn đánh. Phải đánh nó qụy nó mới chịu”.
Trong chiến tranh, đấu tranh quân sự luôn giữ vai trò quyết định. Chiến thắng Điện Biên Phủ là lợi thế của Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bước vào Hội nghị Giơnevơ với tư cách một dân tộc chiến thắng; buộc Pháp phải đàm phán, ký kết Hiệp định Giơnevơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương. Chiến thắng Điện Biên Phủ làm thất bại cố gắng cao nhất của thực dân Pháp với sự giúp sức của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai; giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược, làm tiêu tan hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự của thực dân Pháp…Đây là chiến thắng lớn nhất trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, có ý nghĩa chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương. Từ giữa tháng 11-1953, thực dân Pháp, với sự giúp sức của Mỹ, đã xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với tổng số quân hơn 16.000 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 2 tiểu đoàn và 3 đại đội pháo lớn, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay, tổ chức thành 8 cụm với 46 cứ điểm. Chiến dịch bắt đầu từ ngày 13-3-1953 và kết thúc thắng lợi vào ngày 7-5-1954. Sau 55 ngày đêm chiến đấu, với 3 đợt tiến công, các lực lượng vũ trang ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Tướng Đờ Caxtơri và Bộ Chỉ huy tập đoàn cứ điểm bị quân ta bắt sống. Thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, đã góp phần quyết định đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Chính vì vậy, trong Báo cáo về dự thảo hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật ý nghĩa của thắng lợi này: “Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ thắng lợi đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến vô cùng anh dũng của nhân dân ta, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng”.
 Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập và chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa gắn với đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đánh giá về ý nghĩa trọng đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộc xâm lược của một đế quốc hùng mạnh, đã giành lại độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lại quyền dân chủ thực sự cho nhân dân”. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chẳng những đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945; mà còn mở ra giai đoạn cách mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.Trong Lời ghi trong sổ lưu niệm của Bảo tàng Điện Biên Phủ, Ngày 7 tháng 5 năm 1964, Người viết: “Trước đây 10 năm, chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ, anh dũng của quân và dân nước ta chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của đế quốc Mỹ”.