Hiển thị các bài đăng có nhãn chính nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chính nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC CHÍNH NGHĨA, GIỮ GÌN HÒA BÌNH, TÔN TRỌNG ĐẠO LÝ VÀ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC CHO THẾ HỆ TRẺ

Dân tộc ta yêu hòa bình, luôn mong muốn được sống trong hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; luôn mong muốn hòa hiếu, hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng và tất cả các nước trên thế giới. Dân tộc ta chỉ buộc phải cầm súng để chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ tự do, độc lập, chủ quyền quốc gia của mình. Các chiến công oanh liệt của dân tộc ta, được thế giới ngưỡng mộ, đều là chiến công trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ tự do, độc lập dân tộc và độc lập, thống nhất đất nước.

Là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh với đau thương, hy sinh xương máu, Việt Nam luôn mong muốn dập tắt mọi ngọn lửa chiến tranh để hòa bình đến với mọi quốc gia, dân tộc. Đó chính là đạo lý chính nghĩa và nhân nghĩa truyền thống của dân tộc Việt Nam mà Đảng ta, dân tộc ta hiện nay cần tôn trọng, gìn giữ và phát huy; vì đó chính là cầu nối giữa đất nước ta, dân tộc ta với các quốc gia, dân tộc khác vì tương lai và văn minh của nhân loại. Trong bối cảnh diễn biến hết sức phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, chúng ta lên án các cuộc chiến tranh xâm lược, các hoạt động khủng bố, gây bạo loạn, lật đổ, can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia có chủ quyền; ủng hộ các cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp trong khu vực, những âm mưu và hành động xâm chiếm, gây nên tranh chấp trên Biển Đông, đe dọa chủ quyền biển, đảo của đất nước ta, chúng ta kiên quyết phản đối. Kế thừa truyền thống yêu hòa bình, hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc, chúng ta kiên trì giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, các thỏa thuận giữa ASEAN và Trung Quốc, đồng thời bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước ta, hòa bình, ổn định trong khu vực.

Dân tộc Việt Nam luôn hành động theo lẽ phải. Vì vậy, chính nghĩa, lẽ phải thuộc về dân tộc ta. Chúng ta nêu cao chính nghĩa sáng ngời để đoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đồng bào trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài; để tranh thủ, thu hút sự ủng hộ rộng rãi, mạnh mẽ của các nước, của cộng đồng quốc tế đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Đồng thời chúng ta luôn tích cực chuẩn bị những giải pháp phù hợp khác, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Với sức mạnh và khí thế của Đại thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dân tộc Việt Nam sẽ luôn kiên định, tự tin và mạnh mẽ vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đưa công cuộc đổi mới của chúng ta tới bến vinh quang, cập bờ hạnh phúc, cùng nhân loại tiến bộ chung sức xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, phồn vinh, thịnh vượng./.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ 30/4/1975

Chiến thắng 30/4 đã qua đi 47 năm. Nhưng ý nghĩa, giá trị to lớn của nó vẫn tồn tại mãi với thời gian, nhất là đối với các dân tộc đã và đang nỗ lực đấu tranh vì sự tiến bộ, văn minh, hạnh phúc. Ca ngợi, đánh giá tích cực đối với sự kiện này, luôn là chiều hướng chủ đạo, là điều được thế giới quan tâm, thừa nhận trong suốt những năm qua. Nhưng nực cười thay, bên cạnh sự đánh giá khách quan, trung thực đó, vẫn còn những tiếng nói lạc lõng cố tình phủ định sự thật lịch sử với động cơ, mục đích đen tối, định kiến, thù địch. Không những tìm cách cào bằng vai trò của các bên tham chiến, họ còn trắng trợn ngụy biện, đổi trắng thay đen giữa kẻ đi xâm lược đã từng gây vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam với những người đã không tiếc máu xương hy sinh vì hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Ngược dòng lịch sử sẽ thấy, một sự thật hiển nhiên là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ khởi xướng, với sự tiếp tay, phản bội dân tộc của ngụy quyền Sài Gòn đã thất bại thảm hại vào tháng 4-1975 là một tất yếu không tránh khỏi. Nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn tới thất bại, trước hết, đó là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, vô cùng tàn bạo. Từ lâu, Mỹ đã coi miền Nam Việt Nam là địa bàn chiến lược, để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Nam Á. Họ cần có một chính phủ chống Cộng, biết nghe lời và phục vụ đắc lực cho mưu đồ bá chủ thế giới. Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông dương, trong khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cố gắng theo đuổi các giải pháp hòa bình, thì ngay từ đầu, Mỹ và chế độ Ngô Đình Diệm, sau đó là chế độ Nguyễn Văn Thiệu, đã rắp tâm tìm mọi cách chia cắt, phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất đất nước. Các yêu cầu đàm phán, tiến tới Tổng tuyển cử, thống nhất hai miền Nam - Bắc, liên tiếp được Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra và đều bị từ chối vào tháng 6, tháng 7-1957, tháng 3, tháng 12-1959 và tháng 7-1960. Thay vào đó là các chiến dịch lê máy chém khắp miền Nam, đàn áp khốc liệt những người kháng chiến cũ, những đảng viên Cộng sản, những ai mong muốn thống nhất đất nước. Tiếp đó là các chiến lược: “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965), “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1966) và “Việt Nam hóa chiến tranh (1969 – 1973) tàn phá miền Nam, tiêu diệt phong trào đấu tranh của quần chúng, nhằm thực hiện mưu đồ của chúng.

Cuộc chiến tranh do Mỹ và tay sai tiến hành ở Việt Nam được cho là phi nghĩa, trái đạo lý, bị lên án không phải chỉ vì thực chất mục đích của nó, vì sự hao người, tốn của, mà còn bởi nó đã thể hiện rõ tính chất tàn bạo, vô nhân tính. Đó là một trong các cuộc chiến tranh tổn hại nhất trong lịch sử nước Mỹ, với tổng chi phí lên tới 686 tỉ đô la (tính theo thời giá năm 2008). Đó là khoản tiền lớn nhất mà Mỹ đã chi cho chiến tranh, chỉ sau đại chiến Thế giới thứ 2.

  Vì thế, Chiến thắng 30/4/1975 cho thấy một chân lý: không phải bao giờ sức mạnh của cường quyền bạo lực và đồng tiền cũng đè bẹp được chính nghĩa. Đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, Việt Nam là đại diện chân chính cho chính nghĩa, cho nên trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta đã nhận được sự đồng tình ủng hộ to lớn cả về vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế và lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Tính chất phi nghĩa, tàn bạo của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn bộc lộ rõ trong chiến tranh, đã ngày càng bị thế giới, trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ lên án, phản đối.

“CHÚNG TÔI KHÔNG CHỌN BÊN, CHÚNG TÔI CHỌN CHÍNH NGHĨA”

Trước thông tin Việt Nam cùng 33 nước bỏ phiếu trắng (trung lập) đối với Nghị quyết kêu gọi Nga rút khỏi Ukraine của Liên Hợp quốc, nhiều bạn nói rằng Việt Nam “theo kiểu ba phải, không dám lên án chủ nghĩa bá quyền, đế quốc”. Thực tế, nếu nghe toàn văn bài phát biểu của Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ, chúng ta sẽ hiểu rất rõ quan điểm của Việt Nam trong vấn đề này.

Cách đây hơn 1 năm, khi được hỏi về việc Việt Nam làm thế nào để "không đứng về phía bên này chống lại bên kia" trước sự lôi kéo của các nước lớn, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, lúc đó trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã trả lời "Chúng tôi chọn chính chúng tôi. Không ai và không nước nào có thể bắt Việt Nam phải chọn bên vì chúng tôi độc lập, tự chủ, giành và giữ độc lập bằng sức của mình".

Câu trả lời của Thượng tướng Nguyễn Chí Vinh thể hiện rõ quan điểm của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới đang có nhiều căng thẳng, bất ổn. Việt Nam luôn tôn trọng chủ quyền của quốc gia khác, chủ trương thực hiện 4 không: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Và trước Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, khi cả thế giới dõi theo bài phát biểu về quan điểm liên quan đến xung đột giữa Nga và Ucraina, Việt Nam lại một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán đó. “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, các cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị, áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ".

Có thể thấy, với những bài học xương máu trong quan hệ đối ngoại, nhất là với các cường quốc, quan điểm của Việt Nam ngày hôm nay chính là hình mẫu để các quốc gia nghiên cứu, học hỏi và cùng ngồi lại để giải quyết những xung đột, bất ổn cho chính quốc gia mình và nhân loại./.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI LÀ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ

Trân trọng giới thiệu bài viết của bà Nguyễn Thị Bình - nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 của quân và dân ta.

"Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.

Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử.

Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ.

Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17/2/1979, ngày mà cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước cũng phải hiểu đúng: đâu là sự thật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học.

Không thể quên lãng nó.

Nhiều người dân Trung Quốc đã hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới đó. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi.

Có thể nào nghĩ rằng Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt kéo dài 30 năm, đang tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh và đứng trước vô vàn khó khăn lại có thể khiêu khích Trung Quốc, một nước lớn, một nước xã hội chủ nghĩa đã ủng hộ và giúp đỡ mình trong cuộc chiến tranh cứu nước vừa qua?

Thực tế là quân dân Việt Nam khi đó đã phải chống lại một cuộc chiến tranh biên giới to lớn để bảo vệ biên cương Tổ quốc.

Theo tôi, không chỉ đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay cả cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cũng cần được nhắc đến đầy đủ.

Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng: Ta tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù.

Chúng ta biết sự thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh phức tạp ngày nay.

Tôi ủng hộ con đường ngoại giao khôn ngoan, mềm mỏng, tôn trọng các nguyên tắc quốc tế.

Kinh nghiệm trong đấu tranh, né tránh hay im lặng đều không có lợi, vì như vậy chúng ta không làm rõ được sự thật, phải trái, đúng sai, có khi còn khuyến khích đối phương, khiến họ cho rằng ta yếu thế và ngày càng lấn tới.

Tuy nhiên không bình tĩnh cân nhắc trong ứng xử cũng sẽ khiến cho tình hình thêm phức tạp, không có lợi cho sự nghiệp.

Vậy bài học rút ra từ quá khứ mất mát của chúng ta là gì đây? Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu.

Xưa đến nay, ta rất chú trọng xây dựng quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc dù trong lịch sử hai nước đã có bao lần xung đột.

Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần một môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước và cần những bạn bè tốt để hợp tác nên Việt Nam càng coi trọng quan hệ hữu nghị với Trung Quốc – một nước lớn đang có những bước phát triển thần kỳ.

Nhưng như bất cứ dân tộc nào, chủ quyền quốc gia đối với Việt Nam là thiêng liêng và chúng ta sẽ kiên quyết bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời chúng ta chủ trương mọi tranh chấp lãnh thổ được giải quyết bằng phương pháp hòa bình, có sự tôn trọng lẫn nhau.

Trong đấu tranh, chúng ta đã làm đúng theo lời dạy của Bác Hồ: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn giữ vững lập trường nguyên tắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, nhưng vẫn linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược.

Tôi tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của lẽ phải, tin vào sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân và tin ở sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới.

Ta cần hành động theo tinh thần đó.

Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng sẽ khó để bảo vệ chủ quyền nếu đất nước không có nội lực, không có nền tảng vững chắc về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng với đoàn kết dân tộc mạnh mẽ.

Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất mà chúng ta cần phấn đấu”.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình/Theo GDVN

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHÍNH NGHĨA DỰA TRÊN SỰ SO SÁNH KHẬP KHIỄNG VỚI AFGHANISTAN

Lâu nay, với bản chất xấu độc, chống phá quyết liệt, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị… thường lợi dụng mọi cơ hội, mọi sự kiện, sự việc ở Việt Nam cũng như thế giới để xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo nhằm tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta.

Vừa qua, trên một số trang mạng xã hội đã xuất hiện bài viết của một số đối tượng so sánh cuộc chiến tranh ở Afghanistan với cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đây thực chất là những thông tin sai trái, xấu độc mang tính phá hoại về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân Việt Nam.

Người Việt Nam chúng ta luôn muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, nhưng không cho phép bất kỳ ai bịa đặt, xuyên tạc sự thật về cuộc kháng chiến anh dũng của mình. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu ba bài viết dưới đây để xem các đối tượng đã xuyên tạc, bịa đặt như thế nào? Đó là các bài viết: "Kabul năm 2021 có phải là Sài Gòn năm 1975?" của Jackhammer Nguyễn; "Afghanistan trong vòng vây Taliban và Sài Gòn năm 1975 có gì khác biệt?" của Minh Dũng và "Chiến tranh Afghanistan đang kết thúc như ở Việt Nam" của Việt Luận.

 Về nguyên nhân cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Jackhammer Nguyễn cho rằng "Cuộc chiến ở Việt Nam là để ngăn chặn làn sóng cộng sản tràn xuống Đông Nam Á". Việt Luận cũng viết "Mỹ vào Việt Nam để ngăn chặn họa Cộng sản từ phương Bắc tràn xuống". Còn Minh Dũng thì phán "Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam cũng với mục đích là ngăn chặn làn sóng cộng sản như những quân bài Domino tràn xuống Đông Nam Á".

Nhân dân Việt Nam, dư luận quốc tế, trong đó có cả người dân Mỹ đều lên án đó là cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ vào Việt Nam. Thế giới còn nhớ mãi hành động tự thiêu của một số người dân ở Mỹ và các nước khác để phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Thậm chí có hàng trăm sĩ quan, binh lính Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam khi hiểu rõ sự thật, đã phản chiến để phản đối hành động xâm lược của Mỹ. Còn với Việt Nam, rõ ràng đây là cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ để bảo vệ độc lập dân tộc của mình. Vì vậy, 3 đối tượng trên không thể có lý do nào ngụy biện được cho hành vi xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ.

Trong bài viết của mình, Jackhammer Nguyễn cho rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam "do người Mỹ chủ động", "Đó là sự chủ động đến rồi đi của người Mỹ". Sự thật là Mỹ chủ động xâm lược Việt Nam và Mỹ đã bị Việt Nam đánh bại nên buộc phải cuốn cờ cút về nước, chứ không có chuyện Mỹ" chủ động đi” khỏi Việt Nam. Chính Minh Dũng đã viết "Mỹ đã thua cuộc ở Việt Nam, hình ảnh người Mỹ phải di tản trên nóc tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn năm 1975 là một biểu tượng thất bại, mà trong mắt nhiều người đó là một thất bại nhục nhã". Minh Dũng cũng phải thừa nhận thất bại nặng nề về nhiều mặt, trong thời gian dài của Mỹ "Cuộc chiến Việt Nam khiến nước Mỹ tổn thất hơn 58.000 quân. Chiến tranh Việt Nam gây di chứng nặng nề cho nước Mỹ, từ vấn đề xã hội, văn hóa, kinh tế, cho đến học thuyết quân sự của nước này. Nước Mỹ luôn ám ảnh với cuộc chiến ở Việt Nam qua nhiều thế hệ và có ảnh hưởng rất lớn tới các cuộc chiến tranh sau này".

Trong cuộc kháng chiến của mình, quân và dân Việt Nam đã kiên quyết, kiên trì, chiến đấu hy sinh với mục tiêu bất di bất dịch là "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào" để giành thắng lợi cuối cùng cho độc lập dân tộc. Năm 1965, lính thủy quân lục chiến Mỹ vào Việt Nam, cũng là năm Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, khóa III của Đảng ta hạ quyết tâm chiến lược cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân: "Động viên lực lượng cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào". Và cả dân tộc Việt Nam đã kiên định thực hiện thành công quyết tâm chiến lược đó. Ấy vậy mà trong bài "Chiến tranh Afghanistan đang kết thúc như ở Việt Nam", Việt Luận bịa đặt: "Ở Việt Nam, từ sau Mậu Thân hai ông Richard Nixon và Henry Kissinger đã đi đêm với kẻ thù, bắt tay bắt chưn, ăn chả giò…rồi ký hiệp định rút quân Mỹ để cho kẻ thù làm gì thì làm". Cũng theo Việt Luận: "Mỹ bí mật ngoéo tay với Hà Nội", "Hà Nội từ chối nói chuyện" với "người anh em trong nước", "Hà Nội một mực bác bỏ "Thiệu - Kỳ - Hương", "chỉ săn đón Mỹ mà thôi".

Trên thực tế, Mỹ không ngừng đánh phá, giết hại đồng bào ta ở miền Nam, dùng không quân và hải quân bắn phá miền Bắc, trong đó có cuộc tập kích bằng pháo đài bay B52 tháng 12 - 1972, ném bom cả vào nhà thương, trường học với ý đồ đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Những tội ác dã man ấy đã bị quân và dân ta trừng trị đích đáng! Chả lẽ đấy lại là việc "đi đêm", "săn đón Mỹ" của quân và dân Việt Nam ư?

Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai luôn xuyên tạc, bịa đặt về cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 của quân và dân ta nhằm tuyên truyền xuyên tạc, kích động Cộng sản là "tàn ác", "Cộng sản chiếm được sài Gòn thì sẽ có tắm máu". Nhưng trên thực tế ngày 30-4-1975, quân cách mạng đã vào Sài Gòn trong niềm vui chào đón của nhân dân, với những giọt nước mắt xúc động, hạnh phúc của hòa bình, độc lập, của niềm vui chiến thắng, chứ không hề có "trả thù", "tắm máu"…Thế mà đối tượng Jackhammer Nguyễn vẫn viết liều rằng: "Đoàn người chạy loạn ở miền Nam Việt Nam trong tháng 4-1975 bị thúc đẩy bởi những cảnh giết chóc của lực lượng cộng sản năm 1968, và xa hơn nữa là cảnh đấu tố cải cách ruộng đất 1955". Đối tượng Việt Luận cũng kết bừa: "Năm xưa Việt Nam có hiệp định "chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình…" để rồi kết thúc bằng máu và nước mắt trong ngày 30 tháng Tư".

Chỉ qua những phân tích sơ bộ từ ba bài viết của ba đối tượng trên cũng đã cho thấy bộ mặt thật và những âm mưu, thủ đoạn xấu xa nhằm cố tình bịa đăt, xuyên tạc về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Những âm mưu, thủ đoạn, hành động xấu, sai trái, thâm độc, ác ý của thế lực, các đối tượng dù là cũ rích hay mới, có thể hiện dưới hình thức nào, so sánh với gì… cũng đều không thể làm thay đổi được sự thật chính nghĩa và chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại!


Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC TÍNH CHÍNH NGHĨA CHIẾN THẮNG 30/4/1975

Chiến thắng 30/4/1975 là sự kiện trọng đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mở ra thời kỳ độc lập, thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Đồng thời có ý nghĩa thời đại sâu sắc, thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội. Đã được nhân loại tiến bộ thừa nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức ngụy biện để phủ nhận giá trị lịch sử mang tính thời đại to lớn của sự kiện 30/4/1975. Chúng cho rằng đó là ngày “quốc hận”, “tháng 4 đen” “do Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh gây ra” trong cuộc “nội chiến” “tương tàn” không đáng tự hào để “chiếm miền Nam”. Đồng thời đưa ra yêu cầu Việt Nam không được kỷ niệm ngày này thì mới thực hiện được “hòa hợp dân tộc”....

Rõ ràng, những luận điệu ngụy biện đó chỉ nhằm mục đích phủ nhận giá trị lịch sử to lớn của sự kiện 30/4/1975 với dân tộc và thế giới; phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.... Tất cả âm mưu đó chính là phủ nhận tính chất chính nghĩa của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Trên thực tế, lịch sử và sự kiểm nghiệm lịch sử là thước đa chân lý chuẩn xác nhất, bác bỏ mọi sự xuyên tạc. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 thắng lợi bằng sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975 mang tính chất chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vì:

Mỹ - ngụy đã chà đạp lên nguyện vọng hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam để thực hiện tham vọng của mình. Mỹ coi Việt Nam là địa bàn chiến lược để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Vì vậy Mỹ đã vi phạm trắng trợn Hiệp đinh Giơ ne vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương. Nuôi dưỡng chính quyền bù nhìn tay sai Việt Nam cộng hòa, từ chối hiệp thương, tổng tuyển cử trong cả nước của nhân dân Việt Nam nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

Bản chất phụ thuộc, bù nhìn, tay sai của Ngụy quyền Việt Nam cộng hòa bộc lộ, phơi bày. Ngô Đình Diệm từng nói:” Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”. Nguyễn Văn Thiệu khi đương nhiệm tuyên bố: “Mỹ còn viện trợ thì ta còn chống cộng” và “nếu Mỹ không viện trợ nữa thì không chỉ 1 ngày, 1 tháng, 1 năm mà chỉ sai 3 giờ chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập”... Với bản chất này, không thể nói cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “nội chiến”.

Dã tâm của Mỹ còn được thể hiện ở chi tiêu ngân sách trong chiến tranh ở Việt Nam với con số 686 tỉ USD, chỉ sau chi tiêu cho Chiến tranh TG2. Lôi kéo quân đội trực tiếp của 5 nước đồng minh, 29 nước khác gián tiếp với khoảng 6 triệu lượt quân tham chiến.

Mỹ - Ngụy đã thực hiện hàng loạt chính sách tàn bạo, vô nhân tính với người dân Việt Nam. Tiến hành lê máy chém khắp miền Nam, lùng sục, bắt bớ, càn quét và thảm sát vô tội vạ người từng tham gia kháng chiến, đảng viên, người có tư tưởng kháng chiến. Tiến hành những chiến lược chiến tranh quy mô lớn: Chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh để đạt mục đích của mình. Mặt khác, tiến hành 2 cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc để “đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”. Mỹ đã ném xuống Việt Nam khoảng 7,85 triệu tấn bom (gấp 3 lần số bom sử dụng trong CTTG2). Áp dụng các biện pháp tàn bạo mà các cuộc chiến tranh thông thường không cho phép: Dải 75 triệu lít chất độc hóa học gây hậu quả nghiêm trọng với con người và môi trường sống; dùng B52 ném bom dải thảm khu vực đông dân cư... Tội ác của Mỹ là không thể chấp nhận được.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta được nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ ủng hộ. Đồng thời lên án, phản đối cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra. Tại Mỹ có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ tiến hành.

Như vậy, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 dành thắng lợi bằng sự kiện ngày 30/4/1975 mang tính chính nghĩa sâu sắc, phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của nhân dân Việt Nam, được nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới thừa nhận, ủng hộ. Mọi lời lẽ ngụy biện để xuyên tạc tính chất cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta là có tội với lịch sử, với các thế hệ cha ông đã hy sinh cho sự bình yên, hạnh phúc của đất nước này./.

TÔN TRỌNG LỊCH SỬ, HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI

Chiến thắng 30/4/1975 là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực phản động, tay sai, thống nhất Nam – Bắc, đưa giang sơn thu về một mối. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, Việt Nam đã có sự phát triển toàn diện, vị thế, uy tín trên trường quốc tế được khẳng định rõ nét. Tuy nhiên, một số đối tượng xấu vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc, truyền bá những tư tưởng hận thù, chống phá.

Vừa qua, Thượng nghị sĩ Tom Umberg đã đệ trình trước Thượng viện California, Hoa Kỳ bản Nghị quyết SCR2 với những nội dung sai trái về chiến thắng 30/4 của Việt Nam. Vẫn lặp lại luận điệu cũ, Tom Umberg gọi chiến thắng 30/4 của Việt Nam là “tháng tư đen”, xuyên tạc lịch sử bằng luận điệu: “Tháng tư đen là thời điểm tang tóc, thời điểm tưởng nhớ, không chỉ cho những sinh mạng đã mất trong chiến tranh, mà còn là cuộc sống của những người Việt Nam trong cuộc đấu tranh lịch sử vì tự do và nhân quyền.

SCR2 không chỉ là sự tưởng nhớ về mất mát bi thảm mà còn biểu dương tinh thần kiên cường và sức mạnh của người Việt Nam để vươn lên phát triển trước nghịch cảnh”. Tom Umberg giễu cợt với lối suy nghĩ đánh lận bản chất: “Việt Nam không nên khơi gợi lại quá khứ Sài Gòn thất thủ đau buồn, không ăn mừng chiến thắng 30/4 thì người Việt tại Mỹ mới chấp nhận hòa hợp dân tộc”.

Theo quy luật, mỗi khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ 30/4 thì một số đối tượng xấu, chống đối lại đào xới, xuyên tạc quá khứ. Một số người Việt Nam định cư tại nước ngoài có cái nhìn lệch lạc, phiến diện, hận thù, cực đoan đã tụ tập tiến hành kỷ niệm “ngày quốc hận”, đòi “phục hồi danh dự cho những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa”, đòi Việt Nam phải thừa nhận cuộc chiến vệ quốc là cuộc “nội chiến”.

Thậm chí, dưới danh nghĩa hòa hợp, hòa giải dân tộc, các đối tượng cơ hội chính trị, phản động, chống phá còn đưa ra luận điệu cho rằng chỉ khi nào Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ quyền lãnh đạo đất nước, chỉ khi nào Việt Nam lựa chọn đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có thể thực hiện việc hòa hợp, hòa giải dân tộc. Hài hước hơn, một số kẻ đánh lừa quần chúng bằng cách đưa ra lập luận phải coi việc xóa bỏ chế độ cộng sản là một “mệnh lệnh của lương tâm, là tương lai của dân tộc”!

Thực tiễn, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nhất quán chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, hòa hợp, hòa giải dân tộc phải dựa trên sự tôn trọng lịch sử; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc; xuất phát từ sự chân thành, thiện chí của tất cả các bên. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử.

Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của chính nghĩa và sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc; là thắng lợi trọn vẹn nhất, vững chắc nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, của độc lập, tự do, đi lên CNXH. Những quan điểm, luận điệu, yêu sách sai trái, tiêu cực không phải xuất phát từ thiện chí hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chỉ là một thủ đoạn để khoét sâu hận thù, kích động, gây thêm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của những thế lực chống phá đất nước. 

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP MANG ĐẶC TRƯNG GIÁ TRỊ TINH THẦN NHÂN ĐẠO, CHÍNH NGHĨA CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện chính trị tổng kết những giá trị chung của nhân loại trong cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng thiêng liêng của các dân tộc và tiến trình đấu tranh cách mạng vì nền độc lập của nhân dân Việt Nam. Để giành được quyền bình đẳng của dân tộc và quyền bình đẳng của mỗi con người, nhân dân ta đã phải hy sinh biết bao xương máu trong cuộc đấu tranh chống các thế lực xâm lược, áp bức bất công. Là một dân tộc có truyền thống văn hiến, luôn nêu cao tinh thần nhân văn, nhân đạo, chính nghĩa, yêu chuộng hòa bình, chúng ta trân trọng giá trị nhân văn, thành quả tiến bộ mà nhân dân Mỹ, nhân dân Pháp giành được trong cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng, tự do, bác ái của các dân tộc, của con người. Song, thực dân Pháp, đại diện cho quyền lợi của giai cấp tư sản Pháp lúc bấy giờ đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để xâm lược nước ta, áp bức nhân dân ta. Hồ Chí Minh đã làm cho nhân dân thế giới thấy rõ hành động của thực dân Pháp xâm lược đối với Việt Nam là trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Những hành động vô nhân đạo, phi nghĩa của thực dân Pháp được thực hiện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế,… bằng những thủ đoạn dã man, tàn độc, bóp nghẹt quyền tự do, quyền sống của nhân dân Việt Nam.
Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam đã cho nhân dân thế giới và nhân dân Pháp thấy rõ truyền thống nhân đạo, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Mặc dù thực dân Pháp là kẻ thù trực tiếp, song đối với người Pháp, nhân dân ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo, sẵn sàng giúp đỡ nhiều người Pháp, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 26-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nêu rõ: “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới, trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: Chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước”.
Tinh thần nhân đạo cao cả, đấu tranh vì lẽ phải, công bằng là một giá trị đặc trưng của truyền thống văn hóa, nhân văn Việt Nam. Giá trị đó được hình thành, phát triển và tỏa sáng trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Tinh thần nhân đạo, chính nghĩa, nhân văn là sức mạnh của văn hóa, sức mạnh nội sinh giúp cho dân tộc ta đấu tranh và chiến thắng các thế lực hiếu chiến xâm lược. Tuyên ngôn Độc lập được Bác Hồ tuyên đọc ngày 02-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình vừa để cho nhân dân thế giới thấy rõ truyền thống văn hiến, văn minh của dân tộc Việt Nam, vừa là lời cảnh báo với thực dân Pháp và các thế lực xâm lược về tính chất chính nghĩa và sức mạnh văn hóa của nhân dân Việt Nam. Chính sức mạnh đó, đã quét sạch mọi thế lực xâm lược để bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam./.