Hiển thị các bài đăng có nhãn tinh thần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tinh thần. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

BẢN LĨNH VƯỢT KHÓ

Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh để tồn tại và phát triển. Trong đó, bản lĩnh vượt khó, khả năng vượt nghịch cảnh là một giá trị của dân tộc ta, đã được minh chứng và luôn phát huy vào những thời điểm thách thức, cam go nhất.

Năm 2022 được ghi dấu là một năm đầy thử thách đối với dân tộc Việt Nam. Những tưởng khi dịch Covid-19 dần được khống chế, đất nước bắt đầu mở cửa trở lại từ tháng 3 thì nút thắt đã được tháo gỡ. Nhưng mọi thứ không đơn giản như vậy. Biến động địa chính trị trên thế giới đã tạo ra những đứt gãy trong quan hệ quốc tế, trong chuỗi cung ứng toàn cầu, lạm phát tăng cao, khủng hoảng giá năng lượng khiến kinh tế thế giới nhìn chung rất chật vật. Việt Nam với vị thế là nền kinh tế có độ mở hàng đầu thì cũng chịu rủi ro hàng đầu bởi các tác động bất lợi. Trong thế gian nan ấy, kinh tế Việt Nam vẫn vững vàng với mức tăng trưởng năm 2022 là 8,02%, cao nhất trong 12 năm qua và cũng cao nhất trong khu vực ASEAN. Lạm phát được kìm giữ theo đúng mục tiêu đề ra, với chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 3,15%. Trong khi thị trường xuất khẩu giảm cầu do lạm phát nhưng Việt Nam vẫn xuất khẩu ước đạt 371,85 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm trước. Xuất siêu là 11,2 tỷ USD. Đời sống của người dân cơ bản được giữ ổn định.

Những thành công đó đã thể hiện bản lĩnh vượt khó và trí tuệ của Việt Nam. Việc nhận thức đúng về thế giới hiện nay đã được kết tinh thành trường phái “ngoại giao cây tre” rất đặc trưng của Việt Nam, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, không chọn bên mà chỉ chọn chính nghĩa, lẽ phải. Nhận thức đúng, ứng xử đúng trong quan hệ quốc tế đã tạo ra động lực phát triển cho đất nước dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào.

Hội nghị Trung ương 5 và Trung ương 6, khóa XIII của Đảng đã đưa ra các chủ trương lớn để tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, là minh chứng cho thấy các nghị quyết của Đảng luôn nắm bắt hơi thở của cuộc sống, là tiền đề rất quan trọng cho giai đoạn phát triển sắp tới. Cùng với đó, Đảng tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, quyết liệt, không có vùng cấm, để gìn giữ môi trường chính trị-xã hội lành mạnh, giữ vững niềm tin của nhân dân.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gay gắt, xung đột quân sự đã xảy ra trên thế giới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân đã thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng và Nhà nước về quân sự, quốc phòng; làm tốt công tác dự báo, nắm chắc tình hình, từ đó đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp phù hợp với các tình huống, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, không để bị động, bất ngờ. Đây là điều rất căn bản để giữ được “trong ấm, ngoài êm”. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội được nâng cao. Cùng với đó, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cũng đã phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát huy tốt vai trò nòng cốt của Quân đội trong việc xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Năm 2023 được dự báo cạnh tranh chiến lược trên thế giới tiếp tục gay gắt và có những trạng thái nguy hiểm. Nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đối mặt với nguy cơ suy thoái. Hoàn cảnh đó một lần nữa đặt dân tộc ta, đất nước ta trước những khó khăn, thách thức mới. Tuy nhiên, các kết quả đã đạt được trong giai đoạn chống dịch Covid-19, những kết quả của năm 2022 là cơ sở để chúng ta vững tin ở bản lĩnh vượt khó của đất nước để đạt các mục tiêu đề ra. Muốn vậy, toàn thể dân tộc ta cần giữ vững khối đại đoàn kết dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng. Mỗi tập thể, cá nhân cần nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thực hiện tốt vai trò, chức trách của mình. Mỗi cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần tiếp tục nỗ lực giữ gìn ý thức, kỷ luật, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lao động, học tập, công tác để tăng cường sức mạnh tổng hợp của Quân đội, tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Theo: QĐND

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC: NẮM CHẮC THÔNG TIN CƠ SỞ!

Có một lần chuẩn bị cho bài viết về Tết trồng cây, Bác Hồ cho mời đồng chí Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp lên làm việc. Sau một hồi nghe đồng chí báo cáo về kết quả trồng rừng, về việc phát động phong trào Tết trồng cây với những con số rất cụ thể và ấn tượng, bỗng Bác ra hiệu cho đồng chí dừng lại và hỏi: “Chú khuếch đại không đấy? Những con số này chú lấy từ đâu?”. Đồng chí Tổng cục trưởng thưa: “Thưa Bác, con số này được tổng hợp của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Tổng cục Lâm nghiệp nên rất đáng tin tưởng ạ”. Nghe vậy Bác hỏi tiếp: “Thế trong số 800 triệu cây trồng mới theo chú nói thì có tính cả cây sú, cây vẹt không?”. Đồng chí Tổng cục trưởng báo cáo: “Thưa Bác, nếu tính cả loại sú, vẹt thì không thể đếm xuể ạ”. Nghe đến đây Bác cười và nói: “Thế mà vừa rồi Bác xuống Nam Định khi nghe báo cáo về kết quả trồng cây, Bác hỏi có tính cả cây sú và vẹt vào không, các đồng chí Nam Định báo cáo với Bác là có tính cả đấy. Chú không đi cơ sở thì làm sao biết được sự thật. Chú đừng tự biến mình thành loại cán bộ lãnh đạo chỉ quen biết “sự thật” qua báo cáo”…

Câu chuyện trên có thể để lại nhiều bài học lớn cho các cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Trước hết, đó là phải nắm chắc thông tin từ cơ sở. Việc nắm đó có thể qua nhiều cách, nghe báo cáo trực tiếp, qua báo cáo bằng văn bản, qua báo chí, qua đội ngũ tham mưu…, nhưng dù bằng cách nào cũng cần có sự phối kiểm, thẩm định, để bảo đảm thông tin được khách quan, chính xác. Nếu cán bộ lãnh đạo nắm thông tin không đầy đủ, không chính xác thì có thể ra quyết định lãnh đạo không đúng đắn, thậm chí sai lầm. Chẳng hạn, lãnh đạo cấp trên hỏi về số doanh nghiệp đã phục hồi hoạt động sau dịch nếu không nắm được con số chính xác thì không thể có chỉ đạo, định hướng phù hợp nhằm giúp doanh nghiệp của địa phương hoạt động thuận lợi, phù hợp, hiệu quả.

Vấn đề đi cơ sở đương nhiên rất quan trọng. Chỉ nghe báo cáo mà không trực tiếp nắm bắt thông tin, sự việc từ cơ sở thì rất dễ tiếp nhận các con số, các thông tin rất “đẹp” mà tính chân thực có thể ở chiều ngược lại. Có khi, do sự trùng lắp, nhận thức khác nhau mà dẫn đến thông tin khác nhau, chứ chưa nói đến sự cố tình ngụy tạo số liệu “đẹp”, nếu không bám sát cơ sở thì lãnh đạo có thể tiếp nhận các thông tin sai lệch. Chẳng hạn, ở phường nọ, theo báo cáo, tổ chức phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh đều cho thấy từng đơn vị hỗ trợ được 10 trường hợp khó khăn nên phường báo cáo lên quận là có 30 trường hợp được chăm lo. Nếu cán bộ của quận không tìm hiểu kỹ có khi thực tế cả 3 đơn vị cùng chăm lo chỉ bao nhiêu đó người nên đúng ra chỉ có 10 trường hợp chứ không phải “cộng dồn” thành 30 như báo cáo!

Bài học nữa đó là phải có sự hoài nghi khoa học khi tiếp nhận thông tin, báo cáo. Câu chuyện trên cho thấy, chỉ một câu hỏi “vặn” của Bác Hồ thì đồng chí Tổng cục trưởng đã bộc lộ “điểm hở”, từ đó cho thấy đồng chí không nắm chắc vấn đề. Do đó, khi nhận thông tin, cán bộ lãnh đạo không thể máy móc tiếp thu mà phải có cách thức ứng xử với các thông tin đó, nhằm bảo đảm thông tin đó là chính xác, phù hợp. Chẳng hạn, khi được cấp dưới báo cáo về các mô hình rất tích cực, hiệu quả thì phải tìm các điểm hợp lý và bất hợp lý để xác tín rằng các mô hình đó có trung thực, chính xác hay không. Trong trường hợp chưa có cách kiểm tra thông tin mà đã tin ngay rồi đề nghị lan tỏa, học tập kinh nghiệm… thì có khi bị “việt vị”!

Ngoài ra, phải nghe nhiều chiều, có đối chiếu, so sánh, kể cả ở những địa phương, đơn vị khác nhau chứ không nhất thiết ở những cơ quan có sự tương đồng. Như trong chuyện kể trên, từ “diện” là thông tin tổng ở cả nước, Bác Hồ đã đối chiếu với “điểm” ở một tỉnh và nhận ra ngay “độ vênh” giữa các thông tin, từ đó có thể chỉ ra được đâu là thông tin sai lệch. Thí dụ, quận nắm số liệu về chăm lo cho trẻ mồ côi do Covid-19 nhân dịp chuẩn bị năm học mới, thấy các số liệu của một số phường “chênh” quá nhiều, có thể đối chiếu tỷ lệ so với quy mô dân số, với tổng số trẻ mồ côi do dịch bệnh đã được thống kê là bao nhiêu, từ đó có thể phần nào đánh giá được sự chăm lo của các phường có đầy đủ không, hoặc có diễn biến nào bất thường không…

Trên thực tế, hiện nay việc nắm chắc tình hình thực tế ở cơ sở có nhiều điểm thuận lợi. Chẳng hạn, hệ thống lưu trữ được công nghệ hóa nên việc đối chiếu, truy xuất khá dễ dàng, trong trường hợp cần thiết chỉ điện thoại, gửi email, gửi tin nhắn để xác tín, từ đó có thể tìm ra được thông tin gần đúng nhất. Hay thông tin, báo cáo có được từ nhiều nguồn, vốn độc lập với nhau, khi cần có thể phối kiểm được ngay (như từ các địa phương, các ngành, của báo chí, của cá nhân…). Đồng thời, ngay cả việc giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân cũng được nâng cao về quy mô và hiệu quả nên qua đó có thể tìm ra các “đáp số” một cách nhanh chóng. Ngoài ra, nhiều lĩnh vực đã có phần mềm, ứng dụng bảo đảm tính liên thông trong toàn hệ thống, có thể trích xuất theo từng “trường” khác nhau (như địa phương, cơ quan, lĩnh vực…) và số liệu đó sẽ bảo đảm sự chính xác, hợp lý.

Suy cho cùng, các phương tiện, công cụ là rất quan trọng nhưng thái độ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên vẫn có ý nghĩa quyết định. Nếu cán bộ lãnh đạo không xem trọng thông tin, số liệu từ cơ sở báo lên thì có thể vô tình “tiếp tay” cho các báo cáo thiếu trung thực tồn tại, có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Nếu cán bộ cấp dưới tắc trách, lơ là, làm đại khái… thì dù lãnh đạo có nhiều cách thức kiểm tra, giám sát vẫn khó bảo đảm luôn chính xác trong mọi trường hợp. Do đó, cần phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật trong việc xây dựng báo cáo, cung cấp thông tin, bởi nó không chỉ thể hiện tính thứ bậc hành chính mà còn liên quan đến việc phục vụ nhân dân. Trong các trường hợp cấp dưới cố tình báo cáo sai lệch, cần có biện pháp xử lý nghiêm khắc để chấn chỉnh chung.

Vì vậy, cán bộ lãnh đạo phải biết “đọc” sự thật bằng nhiều cách, chứ không chỉ qua báo cáo!

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG ỦNG HỘ VẬT CHẤT, TINH THẦN CHO ĐỐI TƯỢNG QUÁ KHÍCH ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA

Ủng hộ, giúp đỡ vật chất, tinh thần cho các đối tượng quá khích, cực đoan cho đồng bào các dân tộc thiểu số hoạt động chống đối. Để tăng cường hiệu quả chống đối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, các thế lực thù địch thường xuyên quan tâm đến việc thực hiện ủng hộ, hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất và tinh thần cho các đối tượng quá khích, các phần tử cực đoan trong đồng bào dân tộc thiểu số của nước ta. Gân đây ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch hỗ trợ, ủng hộ các hoạt động ly khai của các tổ chức người Thượng lưu vong để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, bạo loạt lật đổ trên địa bàn. Chúng thành lập các tổ chức phản động, tạo dựng địa bàn làm căn cứ để lôi kéo đồng bào chống đối. Những cuộc bạo động diễn ra trong các năm 2001, 2004 ở Tây Nguyên đã cho thấy tính chất quyết liệt, rất phức tạp và đặc biệt nguy hiểm chống phá của các thế lực thù địch đối với địa bàn núi rừng này với âm mưu tiến tới thành lập “Nhà nước Đềga tự trị”

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TINH THẦN YÊU NƯỚC, Ý THỨC DÂN TỘC CHO THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAY

Ở Việt Nam, ý thức dân tộc gắn liền với tinh thần yêu nước, chủ nghĩa dân tộc gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước là tình cảm tự nhiên, tình cảm sâu sắc nhất của con người đối với Tổ quốc; đằng sau tình cảm ấy là tinh thần trách nhiệm và sứ mệnh đối với đất nước, nói như trước đây là “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Chính vì vậy, bản chất của lòng yêu nước là trung thành với Tổ quốc, là yêu quê hương, đất nước. Năm 1942, khi bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp 13 huyện ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã tự hỏi lòng mình: “Phạm tội gì đây? Ta thử hỏi,/ Tội trung với nước, với dân à?”. Chữ “tội” ở đây không phải là tội lỗi hay là tội trước pháp luật, mà là sự tự vấn lương tâm đã làm tròn trách nhiệm với đất nước, với nhân dân, với dân tộc chưa. Và Người đã thấy vô cùng thanh thản và tự hào vì đã tận trung với dân tộc. “Tội” mà ngẩng cao đầu, mà vô cùng tự hào. Trước đó, trong ngục tù ở Trung Quốc, Phan Bội Châu cũng có sự đồng cảm như vậy. Năm 1913, khi bị Đô đốc Quảng Đông bắt giam dự định giao cho chính quyền thuộc địa Đông Dương, trong cuốn sách Ngục trung thư, Phan Bội Châu viết: “Tôi biết sớm chiều gì đây, đầu tôi cũng lìa khỏi cổ, nhưng tôi vẫn lấy làm vui vẻ. Than ôi! Bao nhiêu năm bôn-tẩu, mưu tính trăm việc mà không nên một việc gì, nghĩ mình tội nặng lỗi nhiều, có vui gì sống nữa mà ham”. Không cứu được dân tộc thoát khỏi kiếp nô lệ thì sống cũng không có ý nghĩa. “Tội” ở đây chính là trách nhiệm xã hội cao quý nhất, trách nhiệm với quốc gia dân tộc, trung thành với Tổ quốc. Rõ ràng, tinh thần dân tộc và lòng yêu nước là mầm mống có sẵn trong tất cả quốc dân, không ai xóa bỏ được. Lòng yêu nước là giá trị chung của nền văn minh và của xã hội loài người.

Giáo dục ý thức dân tộc luôn được đặc biệt chú trọng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay. Cần nhắc lại rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam được thai nghén và ra đời trong bối cảnh dân tộc sục sôi tinh thần yêu nước. Những câu chuyện về Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873), Trương Định (1820 - 1864), Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888), Nguyễn Xuân Ôn (1825 - 1889), Hoàng Diệu (1829 - 1882), Hoàng Hoa Thám (1836 - 1913), Đinh Công Tráng (1842 - 1887), Nguyễn Thiện Thuật (1844 - 1926), Phan Đình Phùng (1847 - 1896),... luôn cháy bỏng trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam yêu nước đầu thế kỷ XX. Cũng tương tự như vậy, những tấm gương yêu nước đương thời như Lương Văn Can (1854 - 1927), Tăng Bạt Hổ (1858 - 1906), Nguyễn Thượng Hiền (1868 - 1925), Trần Quý Cáp (1870 - 1908), Phan Bội Châu (1867 - 1940), Phan Châu Trinh (1872 - 1926), Đặng Thái Thân (1874 - 1910), Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947), Ngô Đức Kế (1878 - 1929), Đội Cấn (1881 - 1918), Lương Ngọc Quyến (1885 - 1917)... cũng là nguồn sức mạnh tinh thần cao cả cho những người cộng sản hoàn thành sứ mệnh đang còn thực hiện dở dang của cha ông.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Tuổi trẻ là niềm hy vọng, là tương lai của Tổ quốc, là lực lượng xung kích, hăng hái nhất, mạnh mẽ nhất của đất nước. Họ chính là đối tượng chủ yếu của giáo dục ý thức dân tộc. Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trách nhiệm với đất nước... là cơ sở quan trọng, to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, giáo dục ý thức dân tộc trong giai đoạn hiện nay phải hướng đến đội ngũ thanh, thiếu niên; giáo dục một cách bài bản, có hệ thống. Giáo dục ý thức dân tộc cần lồng ghép trong toàn bộ chương trình học tập và hoạt động ngoại khóa của học sinh, sinh viên, cũng như các hoạt động xã hội khác của thanh, thiếu niên nói chung. Giáo dục ý thức dân tộc không chỉ dừng lại ở sách vở, mà phải thật sự đi vào chiều sâu, tạo nên những chuyển biến tích cực trong nhận thức, tình cảm và hành vi của thanh, thiếu niên. Điều đó có nghĩa, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước phải luôn hiện hữu trong tâm trí và trái tim thế hệ trẻ Việt Nam, sẵn sàng chuyển hóa thành những hành động cụ thể và thiết thực.

Hiện nay, ở tầm vĩ mô, Việt Nam đang thiếu một chiến lược giáo dục ý thức dân tộc; ở tầm vi mô, chúng ta đang thiếu chương trình, giáo trình, công cụ, phương pháp và đội ngũ nhà giáo - những người trực tiếp truyền lửa, giáo dục lòng yêu nước và ý thức dân tộc cho thế hệ trẻ. Khách quan mà nói, tuy chưa có chiến lược giáo dục ý thức dân tộc, song ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước vẫn được giảng dạy thường xuyên trong môi trường giáo dục, nhất là thông qua lồng ghép trong các môn học. Thông qua công nghệ thông tin, internet, thế hệ trẻ nước ta đã tìm ra nhiều kênh và cách thức đa dạng để thể hiện lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Tuy nhiên, sự thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của thế hệ trẻ không chỉ giới hạn ở internet, mà còn thông qua các hoạt động truyền thông, ngoại khóa, văn hóa nhà trường để hòa chung nhịp đập với văn hóa dân tộc, giá trị dân tộc, sự thiêng liêng của chủ quyền quốc gia.

Giáo dục ý thức dân tộc có vai trò vô cùng quan trọng và gắn liền với việc xây dựng ý thức cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Ý thức cộng đồng, quốc gia, dân tộc là điều kiện tiên quyết để đoàn kết dân tộc, là chìa khóa để hội tụ bản sắc dân tộc, là cội nguồn của tự tôn dân tộc, là sức mạnh của tinh thần dân tộc. Văn hóa Việt Nam, văn hiến Việt Nam với sự đa dạng sắc màu của các dân tộc đã trở thành một thể thống nhất. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi - luận điểm bất hủ ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật giản dị, nhưng lại hết sức sâu sắc, thấm đậm tính triết lý và thể hiện trọn vẹn niềm tự hào, tự cường dân tộc của mọi người dân đất Việt. Thực vậy, đất nước Việt Nam là của người Việt Nam thuộc cộng đồng 54 dân tộc anh em luôn hòa thuận, kết thành một khối thống nhất và bền vững để cùng sáng tạo nên lịch sử của mình.

Giáo dục ý thức dân tộc cho tuổi trẻ không thể tách rời việc giáo dục tư tưởng chính trị, gắn liền tinh thần yêu nước, yêu dân tộc với yêu Đảng, yêu Bác Hồ và yêu chủ nghĩa xã hội. Trong Di chúc của mình, với niềm tin tuyệt đối vào thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Thế hệ trẻ chính là người nối tiếp sự nghiệp cách mạng, những người sẽ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Giáo dục ý thức dân tộc cần gắn liền với việc nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ý thức dân tộc luôn mang đặc trưng riêng của thời đại. Thời đại khác nhau có nội dung tư tưởng, hình thức biểu hiện, yêu cầu thực tiễn khác nhau. Giáo dục ý thức dân tộc ở Việt Nam hiện nay không chỉ cần bám sát nội dung cốt lõi của giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, mà còn phải nắm được xu thế mới và phản ánh được đặc điểm mới của thời đại, phù hợp với yêu cầu mới của thời đại.

Cần giáo dục ý thức dân tộc một cách sinh động, sáng tạo, tích cực đổi mới phương thức giáo dục ý thức dân tộc. Thế hệ trẻ ngày nay rất nhạy bén trong tư duy và cách tiếp cận, luôn khao khát và sẵn sàng đón nhận cái mới; vì vậy, cần tránh lối giáo dục một chiều, cứng nhắc, nói suông, mà cần cụ thể, thiết thực, sinh động, lồng vào các hoạt động thực tiễn và hòa vào trong cuộc sống. Giáo dục ý thức dân tộc không chỉ thuần túy dựa vào tình cảm thông qua những câu chuyện sâu lắng và xúc động, mà còn phải nhấn mạnh đến lý trí, nghĩa là phải có tư duy, có con số, có tư liệu, dữ liệu, có những điển hình tích cực phù hợp thời đại mới.

Giáo dục ý thức dân tộc cho tuổi trẻ là đối tượng học sinh, sinh viên, trách nhiệm trước hết và lớn nhất thuộc về nhà trường. Cần phát huy cao nhất vai trò chủ đạo của kênh giáo dục chính thống này. Muốn vậy, cần tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới cách tiếp cận đối tượng học sinh, sinh viên. Tiếp tục thực hiện quan điểm lấy người học làm trung tâm, phát huy sức sáng tạo và sự nhiệt tình của người học, sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học và tương tác để nâng cao hiệu quả của giáo dục ý thức dân tộc. Kết hợp môi trường nhà trường với môi trường văn hóa, giáo dục không chỉ ở trên lớp mà còn thông qua các hoạt động ngoại khóa, như thăm quan di tích văn hóa, bảo tàng lịch sử, đài tưởng niệm liệt sĩ...

Bên cạnh các kênh giáo dục chính thống, cần tập trung vào các nền tảng mạng xã hội cũng như tận dụng môi trường internet để giáo dục ý thức dân tộc.

Giáo dục ý thức dân tộc phải bắt nguồn từ tình cảm yêu gia đình, ông bà, cha mẹ, cho đến tinh thần nhân văn và truyền thống anh dũng, bất khuất của dân tộc. Tự hào với quá khứ hào hùng, truyền thống dân tộc, di sản văn hiến là nền tảng cho tự tin dân tộc và tự tôn dân tộc. Giáo dục ý thức dân tộc cũng phải gắn truyền thống với hiện đại, hiện đại ở đây chính là thành quả ấm no, hạnh phúc của người dân Việt Nam đạt được trong những năm qua, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay. Từ truyền thống gắn kết với hiện đại và phải hướng đến tương lai, đó chính là một xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, cho mọi người và do mọi người dân Việt Nam cùng chung tay xây dựng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là động lực phát triển của Việt Nam, xưa cũng vậy mà nay cũng vậy. Có lòng tự tôn dân tộc, có niềm tin trải dài từ quá khứ đến tương lai, đó chính là giá đỡ, bệ phóng giúp thế hệ trẻ nước nhà vượt qua những khó khăn và thử thách, dũng cảm gánh vác trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc để bước vào kỷ nguyên hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

GIÁO DỤC TINH THẦN YÊU NƯỚC, Ý THỨC DÂN TỘC CHO TUỔI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY

Ý thức dân tộc là một thành tố của chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc là một hệ thống tư tưởng khẳng định sự tôn nghiêm, lợi ích và giá trị của quốc gia trong quan hệ so sánh với các quốc gia khác. Nó được thể hiện ở tính tự tôn, giá trị văn hóa dân tộc, ý thức dân tộc và bản sắc dân tộc mạnh mẽ. Khái niệm chủ nghĩa dân tộc chỉ bắt đầu xuất hiện ở phương Tây từ thời cận đại với nội dung đề cao bản sắc dân tộc, độc lập dân tộc và quyền tự quyết của dân tộc. Nếu hiểu ý thức dân tộc là ý thức của một dân tộc, thì chủ nghĩa yêu nước là sự thể hiện cao nhất của ý thức quốc gia, còn chủ nghĩa dân tộc là sự thể hiện cao nhất của ý thức dân tộc. Hiện nay, chủ nghĩa yêu nước ngày càng thay thế chủ nghĩa dân tộc và ý thức dân tộc cũng ngày càng hòa quyện với chủ nghĩa yêu nước.

Ý thức dân tộc không thể hình thành từ vũ lực hay từ sức ép bên ngoài, mà được hình thành một cách tự nhiên từ bên trong một tộc người hoặc trong một dân tộc có nhiều tộc người, với các nhân tố ngôn ngữ chung, lãnh thổ, tín ngưỡng, lối sống, phong tục, ý thức tự giác tộc người,... và các yếu tố tự nhiên khác.

Sự cố kết dân tộc và sức mạnh của văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ ở phương Đông, mà còn ở các quốc gia phương Tây. Trong thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy ở phương Tây, nhiều quốc gia đã đặc biệt chú ý đến mối quan hệ giữa giáo dục và ý thức dân tộc, tầm quan trọng của giáo dục ý thức dân tộc. Sau chiến tranh Pháp - Phổ, các học giả Phổ đã cố gắng sử dụng giáo dục như là phương tiện để khơi dậy ý thức dân tộc của những người Phổ vốn còn đang say giấc nồng, làm sống lại lòng tin của người Phổ đối với quốc gia, đặc biệt là khơi dậy lòng yêu nước của thanh niên Phổ. Một trong những nhân vật tương đối quen thuộc với chúng ta là triết gia Giô-han Gót-lip Phích-tơ (Johann Gottlieb Fichte, 1762 - 1814), người góp phần hình thành nên chủ nghĩa dân tộc Đức. G. Phích-tơ đã xuất bản cuốn sách Phát biểu gửi quốc dân Đức (Addresses to the German Nation) ủng hộ chủ nghĩa dân tộc Đức, khuyến khích mọi người khôi phục tinh thần dân tộc để phản ứng lại việc đế quốc Pháp của Na-pô-lê-ông chiếm đóng và chinh phục các lãnh thổ của Đức. Bên cạnh đó, G. Phích-tơ còn nhận thấy rằng các nhà giáo dục, đặc biệt là giáo viên trong các trường học, cần phải gánh vác trách nhiệm quảng bá, truyền thụ văn hóa dân tộc. Những tư tưởng và hoạt động của G. Phích-tơ về giáo dục tinh thần dân tộc đã góp phần vực dậy được tinh thần dân tộc, từ đó thống nhất hoàn toàn nước Phổ. Các nhà sử học thường coi đây là một ví dụ lịch sử cụ thể về sự kết hợp giữa giáo dục và chủ nghĩa dân tộc.

Không chỉ giáo dục có tác động đến ý thức dân tộc, mà ý thức dân tộc cũng có ảnh hưởng đến giáo dục. Sự phát triển ý thức dân tộc ở phương Tây đã góp phần định hình môi trường giáo dục quốc dân với những ngôn ngữ chung thống nhất, chú trọng đến các nội dung lịch sử, địa lý, văn hóa quốc gia trong chương trình giáo dục để hình thành một hệ tư tưởng, một giá trị và một quan điểm văn hóa chung. Việc coi trọng giáo dục công dân trong giáo dục, nuôi dưỡng tình cảm yêu nước, phát triển niềm tin dân tộc và tính ưu việt của quốc gia mình đều có thể được coi là những minh chứng cụ thể của giáo dục ý thức dân tộc phương Tây hiện đại.

Thế giới đương đại đã vượt qua chủ nghĩa dân tộc chủng tộc (ethnic nationalism). Hiện nay, ở phương Tây thường nói đến chủ nghĩa dân tộc quốc gia (state nationalism) và chủ nghĩa dân tộc văn hóa (cutural nationalism).

Ở Việt Nam, ý thức dân tộc gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, khác hẳn với chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn hẹp hòi, ích kỷ, mù quáng. Ý thức dân tộc cũng như chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam hiện nay, với truyền thống hòa hiếu, hòa hợp hàng nghìn năm, lại trải qua sự hòa quyện trong tinh thần quốc tế vô sản gần 100 năm qua, đã trở thành ý thức dân tộc hòa bình, luôn gắn kết Tổ quốc với các nước láng giềng và thế giới, gắn kết dân tộc với nhân loại, cùng chia sẻ và cùng chịu trách nhiệm.

Ý thức dân tộc Việt Nam có một số đặc trưng cơ bản sau: Một là, ý thức dân tộc Việt Nam được hình thành qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước, sự gắn bó qua các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm đã góp phần tôi luyện nên một cộng đồng dân tộc có ý thức mãnh liệt về chủ quyền quốc gia, bản sắc văn hóa và quyền tự quyết dân tộc. Hai là, ý thức dân tộc Việt Nam đã dần vượt khỏi ý thức của một dân tộc cụ thể trong 54 dân tộc, hòa quyện với nhau thành ý thức của cộng đồng đa dân tộc, hay nói chính xác hơn là ý thức của quốc gia dân tộc. Ba là, ý thức dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với giao lưu đa văn hóa. Ý thức dân tộc Việt Nam do cộng đồng 54 dân tộc anh em cùng vun đắp, tương tự lịch sử Việt Nam là lịch sử được viết bởi 54 dân tộc anh em. Bốn là, ý thức dân tộc Việt Nam có chung số phận, cùng chia sẻ quá khứ, hiện tại và tương lai. Nói cách khác, đó là ý thức dân tộc cộng đồng, cộng cảm, cộng mệnh.

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

PHÁT HUY TINH THẦN SÁNG TẠO, CHỦ ĐỘNG CỦA THANH NIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

Thanh niên Quân đội hiện nay cơ bản có trình độ văn hóa cao, khả năng sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin tốt, nhanh nhạy với cái mới, do đó, các cấp bộ đoàn cần động viên, khuyến khích đoàn viên, thanh niên ra sức học tập nâng cao trình độ mọi mặt, phát triển tư duy lý luận của mình bằng những tri thức khoa học mới gắn với thực tiễn sinh động để góp phần đấu tranh, phản bác những “chiêu trò” xuyên tạc, hướng lái dư luận,… hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Để đạt hiệu quả, các đơn vị đẩy mạnh hoạt động của Câu lạc bộ Lý luận trẻ theo Hướng dẫn số 508/HD-TN, ngày 31/5/2019 của Ban Thanh niên Quân đội và tích cực vận động cán bộ, đoàn viên, thanh niên hưởng ứng Cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp” trên mạng xã hội theo Hướng dẫn số 868/HD-TN, ngày 09/10/2018 của Ban Thanh niên Quân đội. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa, tham gia mạng xã hội lành mạnh, trong sạch để không ngừng phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm, sự hiểu biết cho đoàn viên, thanh niên trước “ma trận” thông tin thật, giả, đúng, sai, nhằm tăng cường khả năng “miễn dịch”, nâng cao “sức đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Cùng với đó, căn cứ tình hình thực tiễn, tổ chức đoàn các cấp chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chỉ huy đơn vị kiện toàn, mở rộng lực lượng, bảo đảm vật chất, phương tiện, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh, rút kinh nghiệm hoạt động đối với cán bộ, đoàn viên, thanh niên là lực lượng nòng cốt đấu tranh của đơn vị. Đồng thời, tăng cường trao đổi, chia sẻ, học tập những kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả và chấn chỉnh, xử lý kịp thời những hạn chế, yếu kém, sai phạm.

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

QUÁN TRIỆT, VẬN DỤNG NHỮNG CHỈ DẪN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ TINH THẦN, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỐI VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về tinh thần, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên vẫn luôn mang tính thời sự trong tình hình hiện nay. Vì thế cần được vận dụng một cách phù hợp, hiệu quả; tránh hình thức, giáo điều, chạy theo thành tích; đặc biệt, phải gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa XI về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên… Theo đó, cần thực hiện tốt những nội dung sau:

Một là, kiên định lập trường giai cấp, bản lĩnh chính trị và đề cao tinh thần, trách nhiệm đối với công việc.

Cán bộ, đảng viên phải kiên định lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, trung thành với lý tưởng cộng sản, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, vững vàng, không dao động trước bất kỳ khó khăn, thử thách nào. Cùng với việc thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu, người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay cần ủng hộ nhân tố mới; tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và tệ nạn xã hội, phê phán những biểu hiện tư tưởng mơ hồ, nhận thức lệch lạc, sai trái với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Ngày nay, cán bộ, đảng viên có điều kiện tiếp nhận tri thức cao hơn, có tư duy khoa học và quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Vì vậy, phải thường xuyên nêu cao tính chủ động, sáng tạo, hết lòng, hết sức hoàn thành công việc, nhiệm vụ được giao. Để thực hiện được điều này, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải biết chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, làm việc có chương trình, kế hoạch, khoa học, nền nếp, sao cho công việc có kết quả cao nhất; phải có tính tự trọng cao, làm việc với tinh thần, trách nhiệm cao, công tâm, khách quan, vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, tập thể và nhân dân, vì uy tín, danh dự của Đảng, Chính phủ, của cơ quan, đơn vị và bản thân; phải biết tự giải quyết trong mọi công việc; khi mắc phải thiếu sót, khuyết điểm phải tự giác nhận trách nhiệm cá nhân, xác định rõ nguyên nhân để có biện pháp sửa chữa, khắc phục, không tranh công, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác; phải tự tin, tự giác, năng động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ được giao với ý thức trách nhiệm cao nhất.

Thứ hai, tích cực học tập nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập sâu rộng với thế giới, đây là một cuộc vận động cách mạng toàn diện và sâu sắc, là chặng đường khó khăn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chưa có mô hình định sẵn. Trong khi đó, thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những thành tựu mang tính đột phá chưa từng có trong lịch sử, tạo ra những khả năng hoàn toàn mới, tác động sâu sắc đến mọi mặt, mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trước yêu cầu đó, nếu cán bộ, đảng viên không có trình độ nhận thức, kiến thức nhất định về các mặt văn hóa, khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế, pháp luật… thì không thể có đủ năng lực để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, thậm chí còn phạm những sai lầm, khuyết điểm.

Ngày nay, người cán bộ, đảng viên chỉ có thể khẳng định vai trò và uy tín của mình đối với quần chúng bằng trí tuệ, sự hiểu biết và năng lực thực hiện nhiệm vụ. Bởi vì, cán bộ, đảng viên không chỉ là người hành động một cách chủ động, mà còn phải có năng lực làm việc, năng lực tổ chức quản lý, năng lực giáo dục quần chúng, năng lực tổng kết thực tiễn, năng lực giao tiếp, đối thoại, tranh luận một cách dân chủ và có văn hóa. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải không được xem nhẹ việc tích cực, tự giác học tập nâng cao trình độ mọi mặt, coi học tập không chỉ là quyền lợi của bản thân mà còn là trách nhiệm chính trị, nghĩa vụ đối với Tổ quốc.

Thứ ba, có tinh thần, trách nhiệm và tâm huyết phục vụ nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân”(12). Làm theo chỉ dẫn của Người trong tình hình hiện nay, đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải luôn thực hiện tốt việc tự phê bình trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, có tinh thần cầu thị, tiếp thu ý kiến đóng góp phê bình của đồng nghiệp đối với công việc mình được giao; phải chủ động nêu cao ý thức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, thường xuyên soát xét, kiểm tra tiến độ các công việc mình đảm nhiệm, để có biện pháp triển khai tốt các nhiệm vụ, công việc, phần việc được giao.

Đồng thời, phải khiêm tốn, thực sự cầu thị, gần dân, học dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời sống của nhân dân, tìm hiểu nguyện vọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, giúp đỡ nhân dân khi gặp khó khăn; chống “bệnh” xa rời thực tiễn, “bệnh” vô cảm - thiếu trách nhiệm trước những yêu cầu chính đáng của nhân dân, “bệnh” quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, trù dập, vi phạm quyền làm chủ của dân.

Thứ tư, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; tăng cường công tác kiểm tra giám sát cán bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống.

Tự phê bình và phê bình trong Đảng là nhằm hướng tới làm cho đội ngũ, cán bộ đảng viên nhận ra những khuyết điểm, giúp nhau sửa chữa và khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, qua đó mà tiến bộ, đoàn kết thống nhất trong Đảng được tăng cường. Vì thế, tự phê bình và phê bình là “thang thuốc tốt nhất”, “hữu hiệu nhất” để sửa chữa khuyết điểm, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống lại chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Tự phê bình và phê bình phải được gắn chặt giữa “chống và xây”, “xây và chống”...

Trong tình hình mới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải chủ động phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi mọi dấu hiệu, biểu hiện sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước những người thoái hoá, biến chất. Phải thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; quyết liệt chống “bệnh” nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo.../.

NHỮNG CHỈ DẪN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ TINH THẦN, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Thứ nhất, phải có phẩm chất đạo đức, phương pháp làm việc khoa học.

Theo Hồ Chí Minh, để phụng sự Tổ quốc, đoàn thể, giai cấp, nhân dân ngày càng tốt hơn thì mọi cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: “Anh em viên chức bây giờ phải có 4 đức tính là: Cần, kiệm, liêm, chính”. Bởi vì, người cán bộ, đảng viên làm việc công, tiêu tiền công, lại có ít nhiều quyền hành nếu không có ý thức, thái độ và trách nhiệm cao, không có tính tiên phong gương mẫu, không vượt lên được chính bản thân mình, không biết tiết kiệm, lại còn tiêu xài phung phí của công thì rất dễ hủ bại, tha hóa.

Người chỉ rõ: “Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân. Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. Người luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải chịu khó, chăm chỉ trong công việc được giao, làm việc phải có tổ chức thì mới đạt kết quả cao nhất; thực hiện công việc phải có chương trình, kế hoạch cụ thể; làm việc phải bảo đảm thời gian theo quy định, không được lấy thời gian làm việc công để làm việc tư: “Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”.

Thứ hai, phải chủ động, sáng tạo, hết lòng, hết sức hoàn thành công việc, nhiệm vụ được giao.

Để nêu cao ý thức tinh thần, trách nhiệm đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải luôn chủ động trong thực thi công vụ, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kể cả khi gặp khó khăn, trở ngại. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải năng động, sáng tạo, tự động thực hiện công việc phù hợp với tình hình, hoàn cảnh cụ thể, nhưng không tự tiện: “Có mắt ta phải trông, có óc ta phải nghĩ, có tay ta phải làm chứ”.

Để nêu cao tinh thần, trách nhiệm với công việc, nhiệm vụ được giao thì phải hăng hái, làm việc phải khoa học, có chương trình, kế hoạch cụ thể từ phương hướng hành động, kết quả và hậu quả ra sao để có biện pháp phòng tránh; không làm việc một cách thụ động, thiếu trách nhiệm, không khoa học, không có nền nếp. Người chỉ rõ: “... có hăng hái. Nhưng hăng hái không chưa đủ, phải có kế hoạch, có phương hướng”.

Thứ ba, phải có tinh thần và trách nhiệm cao đối với tự phê bình và phê bình; phát huy ưu điểm, sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm.

Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm”. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, theo Người, cán bộ, đảng viên phải có tinh thần tự chỉ trích, tự phê bình. Từ đó, Người chỉ rõ, muốn tiến bộ, muốn không bị thụt lùi thì cán bộ, đảng viên phải không ngừng tiến lên, phải biết rút kinh nghiệm để khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế, phải biết tự chỉ trích để không ngừng tiến bộ, phát triển và mạnh lên: “Muốn được thích hợp với tình thế, muốn cùng tiến hay vượt các bạn khác ta cần phải nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm để bồi bổ và sửa đổi đi. Sau khi làm xong một công tác gì, hay sau mỗi ngày làm việc, cần phải tự mình kiểm điểm xem có chỗ nào nhầm lẫn, chỗ nào chưa đầy đủ, có được ưu điểm gì nên nhớ, được kinh nghiệm gì quý đáng ghi. Phải bỏ hẳn thái độ ‘xong việc thì thôi’. Không chịu tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”.

Thứ tư, phải có tinh thần cầu thị, có chí tiến thủ, khiêm tốn, không kiêu ngạo.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước khi làm một việc gì phải cẩn thận suy xét xem việc đó thành công thì ảnh hưởng thế nào, thất bại thì ảnh hưởng thế nào”. “Mỗi một đồng chí ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ... Tự mãn, tự tức là co mình lại, không cho mình tiến bộ thêm”. Trong Bài nói chuyện tại Lễ Tốt nghiệp Khóa V, Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Người nói: “... anh em phải siêng năng, tiết kiệm, phải có thái độ khiêm nhường, chớ kiêu ngạo. Nếu anh em nhớ được tất cả những điều đó thì không lo gì không tiến bộ được dễ dàng và các công việc của Chính phủ và Đoàn thể giao cho anh em sẽ làm thành công được rực rỡ”.

Hồ Chí Minh cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thấy được những hạn chế của mình để sửa chữa, khắc phục, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác; phải thực sự cầu thị, luôn có chí tiến thủ, tinh thần cầu tiến bộ. “Xã hội ngày càng tiến, công tác của ta cũng phải ngày càng tiến... Vì vậy, năng lực của ta, sáng kiến của ta, tiến bộ của ta cũng phải luôn luôn phát triển, tiến lên không ngừng. Không tiến, tức là thoái”.

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

CỨU DÂN LÀ MỆNH LỆNH CỦA TRÁI TIM

Đêm 30-11 và sáng 1-12, mưa lũ trên địa bàn tỉnh Phú Yên khiến 6 người chết và mất tích, hơn 28.600 ngôi nhà bị ngập sâu trong nước, 90ha lúa bị thiệt hại, hơn 1.600 con gia cầm bị chết...

Với tinh thần “cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thuộc Bộ CHQS, Bộ đội Biên phòng tỉnh và lực lượng công an, dân quân đã sát cánh cùng cấp ủy, chính quyền địa phương kịp thời ứng cứu, di dời, giúp đỡ nhân dân thoát cơn nguy hiểm...

Chúng tôi có mặt tại TP Tuy Hòa (Phú Yên) vào sáng 1-12. Tuy mưa đã giảm, nhưng gió vẫn giật từng cơn, nước dâng cao. Bộ đội và dân quân áo quần sũng nước, bất chấp mưa gió, bám sát địa bàn trọng điểm vùng lũ, cứu giúp nhân dân.

Thượng tá Nguyễn Hữu Thành, Trưởng ban Dân vận (Phòng Chính trị, Bộ CHQS tỉnh Phú Yên)-người trực tiếp cùng các lực lượng cứu dân vùng lũ cho biết: Với tinh thần “cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, ngay trong đêm 30-11, Bộ CHQS tỉnh Phú Yên đã điều động 4 tổ cứu hộ, cứu nạn, với gần 60 cán bộ, chiến sĩ cùng 10 phương tiện ca nô, ô tô các loại, khẩn trương cơ động xuống các điểm ngập sâu trong TP Tuy Hòa, phối hợp cùng các lực lượng kịp thời sơ tán 560 hộ/1.468 nhân khẩu ở vùng bị ngập và nguy cơ sạt lở cao ra khỏi vùng nguy hiểm.

Trên hướng huyện Sông Hinh, ngay trong đêm 30-11 và rạng sáng 1-12, gần 40 cán bộ, chiến sĩ của Ban CHQS huyện và lực lượng dân quân cơ động cùng hai ca nô đã kịp thời sơ tán hơn 800 hộ dân đến nơi an toàn. Câu chuyện mà Đại úy Ngô Thành Lâm, Trợ lý tác chiến Ban CHQS huyện Sông Hinh (người trực tiếp tham gia cứu dân tại khu vực trọng điểm) kể về chiến công trắng đêm cứu dân khiến chúng tôi khâm phục tinh thần dũng cảm của Bộ đội Cụ Hồ: “Vào lúc 1 giờ sáng 1-12, sau khi tôi cùng 4 cán bộ, chiến sĩ điều khiển ca nô di dời 50 người dân đến nơi an toàn, thì bất ngờ nghe tiếng kêu thất thanh: “Cứu tôi với! Cứu với...”. Lúc đó, anh em chưa kịp nghỉ ngơi, mệt bã người vì cả đêm dầm mình trong mưa lũ cứu dân, nhưng với lương tâm và trách nhiệm của người lính, chúng tôi lại lập tức lên đường. Chiếc ca nô len lỏi qua các lùm cây, ngõ xóm, thẳng hướng có tiếng kêu cứu. Trong đêm tối, chúng tôi phát hiện một mái nhà dân nhấp nhô giữa dòng nước lũ. Một cánh tay chấp chới giữa dòng nước lạnh cóng. Thượng úy QNCN Nguyễn Văn Cảnh, nhân viên lái ca nô Ban CHQS huyện Sông Hinh cầm thêm áo phao, choàng cuộn dây thừng ngang ngực, lao xuống dòng nước lũ. Tôi cùng các đồng chí còn lại nhanh chóng điều khiển xuồng tiếp cận và đưa người bị nạn lên xuồng. Cứ như vậy, chúng tôi quay vòng, tăng chuyến nhanh để kịp thời cứu dân mà không kịp hỏi bà con tên họ là gì. Trắng đêm cứu dân, ai cũng gần như kiệt sức, nhưng đều phấn khởi, hạnh phúc vì mình đã làm tròn trách nhiệm của người lính, trọn tình, trọn nghĩa với dân...".

Những việc làm, hành động cao đẹp đầy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Phú Yên đã để lại trong lòng nhân dân vùng “rốn lũ” những tình cảm trân trọng và sâu sắc. Ông Nguyễn Văn An, ở phường 4, TP Tuy Hòa cảm động nói: “Lũ lớn quá, nhanh quá, người dân trở tay không kịp. May có các anh bộ đội đến kịp thời, nếu không thì nguy. Qua cơn hoạn nạn càng thấy rõ tinh thần và trách nhiệm của Bộ đội Cụ Hồ với nhân dân!”.

Chiều 1-12, mưa bắt đầu tạnh, nhưng gió vẫn thốc từng cơn, cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh Phú Yên và các lực lượng trên địa bàn vẫn không quản đói rét, dầm mình trong lũ khẩn trương giúp dân khắc phục hậu quả. Sau chiến công di dời gần 3.800 hộ/13.000 nhân khẩu đến nơi an toàn, các anh lại sát cánh cùng cấp ủy, chính quyền địa phương giúp dân khắc phục hậu quả. Những người lính về với dân bằng tấm lòng nhân ái, sẻ chia và nghĩa tình cao đẹp...

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2021

PHÁT HUY TINH THẦN SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRONG PHÒNG, CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID-19

Sáng tạo trong lao động là một giá trị cốt lõi trong nội dung bản sắc văn hoá dân tộc, là một trong những sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Truyền thống sáng tạo trong lao động đã được thể nghiệm và chứng minh, chưng cất từ chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Ngày nay, người Việt Nam đang phát huy tinh thần sáng tạo ấy để đương đầu với thách thức to lớn - đại dịch Covid-19.

Tinh thần được hình thành từ chính quá trình thực tiễn sinh tồn và lao động sản xuất, nơi mà đòi hỏi con người Việt Nam phải sáng tạo, linh hoạt để vượt qua và thích nghi với sự khắc nghiệt của tự nhiên trong nền sản xuất nông nghiệp truyền thống; để kiên cường vượt qua mọi thử thách chiến đấu và chiến thắng các thế lực ngoại xâm hung tàn. Từ trong quá trình sinh tồn và phát triển ấy, tại mỗi thời khắc và giai đoạn đối diện với những khó khăn và hiểm nguy, người dân Việt Nam lại phát huy giá trị bản sắc này, biến nó thành sức mạnh vật chất để tồn tại và phát triển, minh chứng cho tinh thần và trí tuệ Việt Nam.

Đại dịch Covid – 19 hiện vẫn đang diễn biến phức tạp trên thế giới cũng như trong nước. Việt Nam đang ở trong làn sóng thứ tư của đại dịch với bao thách thức, khó khăn. Từ bối cảnh ấy, sức mạnh sáng tạo của người Việt lại được phát huy hơn bao giờ hết. Tinh thần sáng tạo được thể hiện trong hoạt động của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và từng người dân, ở mọi cấp, mọi ngành, mọi tầng lớp nhân dân, dù ở trong hay ngoài nước.

Từ rất sớm, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo, đưa ra những phương thức, cách làm quyết liệt với tinh thần hết sức sáng tạo, như tinh thần “chống dịch như chống giặc”, “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”, quan điểm thực hiện “mục tiêu kép” (vừa sẵn sàng phòng, chống dịch, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội), “thần tốc, thần tốc hơn nữa trong truy vết, khoanh vùng”, phương châm “Bốn tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện và vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ), chú trọng vai trò chủ động của chính quyền các địa phương…

Trên cơ sở đó, các địa phương cũng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nhiều địa phương trở thành điển hình trong phòng, chống Covid. Đó là cách làm sáng tạo khoanh ổ dịch “3 lớp” tại những nơi bị cách ly của huyện Đông Anh (Hà Nội), vừa bảo đảm an toàn phòng dịch, vừa “không ngăn sông cấm chợ”; mô hình xét nghiệm mẫu gộp 5 của Đà Nẵng, tiết kiệm chi phí xét nghiệm, trở thành kinh nghiệm cho các địa phương khác; nhiều địa phương thành lập các tổ tuyên truyền và giám sát cộng đồng, sáng kiến phát phiếu đi chợ (Hải Dương, Đà Nẵng…)…

Sự sáng tạo cũng được thể hiện thông qua chủ trương và hoạt động của các ngành, các lĩnh vực, nhất là Y tế - ngành chủ lực và trực tiếp trong đối đầu với đại dịch. Điển hình như thông điệp “5K” (Khẩu trang – Khử khuẩn – Khoảng cách – Không tụ tập – Khai báo y tế), từ đó đã khơi dậy nhiều ý tưởng sáng tạo như: những bức tranh 5K, đồng dao 5K, thơ 5K, bài hát 5K…; và giờ đây là "5T" (Tuân thủ nghiêm 5K - Thực phẩm đủ tại nhà - Thầy, thuốc đến tại gia - Test Covid tất cả - Tiêm chủng tại phường, xã), thông điệp có vần điệu dễ hiểu, dễ nhớ; hay như việc phát động chiến dịch truyền thông lan toả thông điệp “Niềm tin chiến thắng”, tổ chức các cuộc thi vẽ tranh tuyên truyền, cổ động kêu gọi cộng đồng phòng, chống dịch…

Bên cạnh đó, các tổ chức và cá nhân ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau, với tinh thần trách nhiệm cộng đồng, đã phát huy tính sáng tạo cùng cả nước chung tay chống đại dịch. Đó là các kỹ sư ngày đêm miệt mài, chạy đua với thời gian để sáng chế ra những sản phẩm hỗ trợ các y bác sĩ ở tuyến đầu chống dịch (buồng khử khuẩn được rất nhiều tổ chức, cá nhân tham gia sáng chế; ứng dụng bluezone, khai báo y tế điện tử, thiết lập các “điểm kiểm dịch” bằng việc quét mã QR; chế tạo robot xét nghiệm chống nóng; cải tiến công nghệ, chế tạo bộ đồ bảo hộ chống dịch, như làm mát bộ đồ bảo hộ; sáng kiến tiếp nước cho những người mặc quần áo bảo hộ y tế…).

Giới nghệ sỹ cũng luôn thể hiện tinh thần sáng tạo của mình cùng cộng đồng tham gia phòng chống Covid – 19. Họ đã sáng tác nhiều ca khúc, tạo ra những sản phẩm nghệ thuật khác nhau với chủ đề kêu gọi cộng đồng chung tay chống dịch. Đó không chỉ là những ca khúc nhạc trẻ có hiệu quả tuyên truyền cao như “Vũ điệu rửa tay”, “Việt Nam ơi! Đánh bay Covid…, mà các nghệ sĩ cải lương, bolero, hoạ sĩ…cũng giới thiệu đến công chúng những sáng tác nghệ thuật để giúp mọi người có thêm niềm tin, động lực vượt qua giai đoạn khó khăn, đẩy lùi dịch bệnh…

Đây chỉ là những nét chấm phá cho tinh thần sáng tạo không ngừng nghỉ của con người Việt Nam trước những hoàn cảnh khó khăn và những thách thức nghiêm trọng. Tiếp tục phát huy giá trị ấy, Việt Nam nhất định sẽ chiến thắng đại dịch, vượt qua mọi gian nguy để thực hiện thành công các mục tiêu hiện tại và tương lai.

Tinh thần sáng tạo là truyền thống Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, được hình thành và phát triển từ trong thực tiễn, được tôn lên bởi tinh thần yêu nước, từ ý thức trách nhiệm với cộng đồng, từ truyền thống đoàn kết để tạo nên sức mạnh trường tồn cho dân tộc Việt Nam. Đó là cơ sở để “phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ TINH THẦN ĐOÀN KẾT TRONG ĐẠI DỊCH HIỆN NAY

Bài học về tinh thần đoàn kết từ Cách mạng Tháng Tám 1945 vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam đến ngày hôm nay khi cả nước đang đồng lòng quyết tâm đẩy lùi đại dịch Covid-19.

Đại dịch COVID-19 đã và đang ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội và cuộc sống của hàng triệu gia đình Việt Nam, tạo nên một bức tranh chưa từng có trong lịch sử đất nước.

Nhưng trong chính hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, hy vọng lại được thắp sáng. Đó là ánh sáng của tinh thần đoàn kết, đồng sức, đồng lòng, của sự sẻ chia, của tinh thần tương thân, tương ái.

“Đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa”

Đoàn kết là một truyền thống và bài học cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước: "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao"; "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công"...

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Anh - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đánh giá: “Cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc hồi sinh vĩ đại của một dân tộc biết nương tựa vào nhau, chung sức đồng lòng vì lẽ phải, lương tri và những giá trị làm người cơ bản”.

Đó là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam và sức mạnh của đoàn kết quốc tế: toàn dân đồng lòng nổi dậy, lực lượng Đồng minh chống phát xít trên thế giới ủng hộ; từ chiến khu về đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị, rồi cả thành thị cùng nông thôn nhất tề nổi dậy giành chính quyền về tay nhân dân.

Cách mạng Tháng Tám đã tạo nên một cao trào cách mạng rộng khắp, mạnh mẽ chưa từng thấy với đông đảo lực lượng tham gia, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới và mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.

76 năm qua kể từ ngày giành được độc lập, chính tinh thần đoàn kết keo sơn của hàng triệu người dân Việt Nam đã đưa con thuyền đất nước đi qua bao cuộc xâm lăng, giành thắng lợi trước những kẻ thù lớn mạnh rồi lại ghi những dấu ấn đậm nét trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Đoàn kết đánh giặc, đoàn kết để chống chọi với thiên tai và nay, lại đoàn kết để đầy lùi dịch bệnh.

Ở đợt dịch thứ 4 bùng phát, trước những khó khăn, mất mát của đồng bào cả nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa tha thiết kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và đồng bào ta ở nước ngoài: “Chúng ta đã cố gắng càng cố gắng hơn nữa; đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa; đã quyết tâm càng quyết tâm cao hơn nữa; toàn dân tộc muôn người như một, đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng”.

Tinh thần đoàn kết của cả dân tộc trước hết được thể hiện trong sự đồng lòng, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương. Từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan Trung ương cho đến địa phương đều thống nhất nhận thức: Phải chặn bằng được dịch bệnh để nhân dân sớm quay trở lại với “trạng thái bình thường mới”, khôi phục sản xuất, đời sống để trẻ em lại được đến trường, người lớn lại quay trở lại cơ quan, nhà máy, công xưởng.

Trong thư gửi lực lượng tuyến đầu ngày 2/8/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính viết: “Hơn 500 ngày qua, dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp, khó lường, gây ra nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng không làm giảm tinh thần vì cộng đồng của lực lượng tuyến đầu chống dịch. Tôi cảm nhận được tinh thần của những phong trào "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", "Năm xung phong"… của những năm xưa như càng lan tỏa mạnh mẽ hơn trong lực lượng tuyến đầu chống dịch. Các anh, các chị "sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Nhân dân và Tổ quốc cần".

Hơn 500 ngày qua, hàng trăm nghìn cán bộ, nhân viên y tế, các chiến sĩ quân đội, công an đã gác lại cuộc sống cá nhân, không quản khó khăn, nguy hiểm đi vào những vùng tâm dịch để cứu giúp người dân. Không ít trường hợp đã trở thành F0, F1, có người đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Họ sẵn sàng hy sinh thân mình cho lợi ích của cộng đồng, của đất nước.

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

“VŨ KHÍ TỐT MÀ TINH THẦN HÈN, THÌ CŨNG VÔ DỤNG”

Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Máy bay “phản lực” phản Mỹ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 2135, ngày 04 tháng 8 năm 1952.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt; với sự giúp sức của các đồng minh, thực dân Pháp tập trung huy động và đưa vào chiến trường Đông Dương các loại vũ khí trang bị hiện đại nhằm cứu vãn tình thế bất lợi đối với quân đội Pháp đang diễn ra trên chiến trường. Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra đối với Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xây dựng và phát huy tốt nhân tố chính trị, tinh thần cho quân và dân ta, quyết tâm đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.

Lênin đã chỉ rõ: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”[2]. Tuy nhiên, nhân tố chính trị, tinh thần không phải tự nhiên mà có, nó là sản phẩm của truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, của tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, hình thành từ nhận thức sâu sắc về tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố chính trị, tinh thần đã góp phần làm chuyển hóa lực lượng, tạo thế và lực, kết nối tất cả các nguồn lực, các nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân và dân ta, là sức mạnh của cả dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đặc biệt, thực hiện phương hướng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, cùng với việc huấn luyện làm chủ các loại vũ khí, trang bị hiện đại, cần phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chăm lo xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần; giáo dục, rèn luyện cho bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và quan điểm “vũ khí luận”, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, coi nhẹ sức mạnh nhân tố chính trị tinh thần.

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

KHÁT VỌNG VIỆT NAM CHIẾN THẮNG COVID-19

Không thể phủ nhận, tinh thần, tư tưởng, niềm tin, khát vọng là yếu tố quan trọng tạo nên ý chí, quyết tâm, là tiền đề, cơ sở để có hành động thống nhất, mạnh mẽ, hiệu quả. Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, chính khát vọng độc lập, thống nhất, tự do, hạnh phúc, niềm tin sắt son vào Đảng, vào Bác Hồ và con đường cách mạng đã trở thành nguồn lực tinh thần, kiến tạo thành sức mạnh dân tộc để chiến thắng kẻ thù xâm lược, thống nhất đất nước và xây dựng xã hội mới.

Giáo sư Joseph Nye, người khởi nguồn cho lý thuyết sức mạnh mềm đã nói về Việt Nam rằng: Thực chất, Việt Nam đã chiến thắng trong hai cuộc chiến với hai đế quốc lớn trong thế kỷ XX nhờ nhiều vào “sức mạnh mềm”.

Mặc dù đối phương có vũ khí và tiền bạc vượt trội, Việt Nam đã vượt qua và nhận được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nhờ “vũ khí mềm” là chính nghĩa, khát vọng độc lập, thống nhất và lòng yêu nước.

Trong thời Covid-19, khát vọng chiến thắng đại dịch là nguồn lực tinh thần đặc biệt. Nó được hiện thực hóa bằng những quyết sách và hành động nhanh, quyết liệt của Chính phủ. Nó cũng hiện diện trong các lực lượng xung kích tuyến đầu như y tế, quân đội, công an không quản ngày đêm, không ngại hiểm nguy, khắc phục khó khăn, tạm gác mọi công việc riêng tư để dồn sức chống dịch. Nó hiện diện trong mọi người dân: Nhà khoa học ngày đêm nghiên cứu để có thể sản xuất vắc-xin “made in Việt Nam”; nhạc sĩ, ca sĩ tham gia sáng tác, hát về khát vọng chiến thắng Covid- 19; người dân tích cực góp sức, góp công, góp của chung tay chống dịch. Nó thể hiện bằng sự đồng thuận quyết tâm của cả hệ thống chính trị và từng người dân nêu cao tinh thần “chống dịch như chống giặc”, “mỗi người dân là một chiến sĩ chống dịch”… Những việc làm, những hình ảnh có sức lay động, lan tỏa đó là liều thuốc đặc hiệu cổ vũ cộng đồng chống dịch, góp phần tạo nên hiệu quả phòng chống dịch trong thời gian qua.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ MẠNH DẠN TÌM RA NHỮNG LỐI ĐI MỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành tìm đường sang nước Pháp và các nước phương Tây không chỉ bởi muốn tìm hiểu những “bí ẩn” đằng sau những khẩu hiệu về tự do, bình đẳng, bác ái mà thực dân Pháp luôn rêu rao trong quá trình cai trị Việt Nam; không chỉ muốn tìm hiểu thêm những trào lưu tư tưởng mới mà còn bởi Nguyễn Tất Thành đã nhìn thấy những hạn chế của các phong trào đấu tranh theo các khuynh hướng yêu nước trước đó. Thế nên anh đã có sự sáng tạo, chọn con đường đi mới, đó là sang nước Pháp và các nước phương Tây để tìm con đường cứu nước, cứu dân.

Ngày nay, tinh thần dám đổi mới, sáng tạo đó vẫn rất cần thiết cho đất nước, đặc biệt là cho thế hệ trẻ bởi đây là những chủ nhân tương lai của đất nước; là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực chất lượng cao. Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu đòi hỏi thế hệ trẻ không chỉ có nhiệt tình cách mạng, không chỉ cần nhanh nhạy mà còn phải luôn luôn đổi mới sáng tạo, tìm ra các cách thức mới, con đường mới, phương pháp mới phục vụ cho sự phát triển chung, đưa đất nước nhanh chóng sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn.

Năm xưa, Nguyễn Tất Thành chịu cảnh tủi nhục, đau đớn khi nước mất nhà tan mà quyết tâm ra đi tìm được con đường cứu nước đúng đắn mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, mặc dù đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của đất nước. Các nguy cơ đối với cách mạng nước ta đã được Đảng chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đặt ra quyết tâm đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1945; đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Trong đó, nòng cốt phải là thế hệ trẻ với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm, vượt mọi khó khăn thử thách như tinh thần của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc năm xưa.

BÀI HỌC VỀ TINH THẦN QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG KHI ĐÃ XÁC ĐỊNH ĐƯỢC MỤC TIÊU ĐÚNG ĐẮN CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ra nước ngoài để tìm hiểu thực tiễn của chính đất nước Pháp và một số nước khác, qua đó tìm con đường giúp nước mình; suy nghĩ tưởng chừng như đơn giản ấy trong người thanh niên lại chứa đựng một lòng quyết tâm mạnh mẽ, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân đã nung nấu từ rất lâu trong trái tim yêu nước nóng bỏng. Chính từ quyết tâm ấy, Nguyễn Tất Thành đã dành tuổi trẻ, tuổi thanh xuân đẹp nhất của đời người, vượt qua khó khăn cực khổ để hướng tới một mục tiêu duy nhất dù biết rằng quá trình hoàn thành mục tiêu ấy rất lâu dài và còn nhiều khó khăn đang chờ đón ở phía trước. Đó là mục tiêu đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào ở đất nước của anh.

Thế hệ trẻ chúng ta học được ở đây bài học có giá trị to lớn về sự kiên định theo đuổi mục tiêu và con đường đã lựa chọn. Mục tiêu ấy, con đường ấy trước đây là sự dấn thân vào cuộc cách mạng toàn dân nhằm giải phóng dân tộc và đấu tranh thống nhất đất nước bằng tất cả sức trẻ, thì ngày nay mục tiêu của tuổi trẻ phải là không ngừng học tập, làm chủ tri thức, sẵn sàng cống hiến sức trẻ, sự nhiệt huyết, như lời dạy của Bác: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt thành công.

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

TINH THẦN NHÂN VĂN VIỆT NAM TRONG PHÒNG CHỐNG, KHẮC PHỤ HẬU QUẢ CỦA THIÊN TAI, ĐỊCH HỌA

Trước diễn biến phức tạp của thiên tai, bão chồng bão, lũ chồng lũ đang gây ra những thiệt hại nghiêm trọng tại các tỉnh miền Trung, tinh thần nhân văn của con người Việt Nam không ngừng được lan toả trong công tác ứng phó và giải quyết hậu quả của bão lũ.

Năm 2020 quả là một năm đầy biến động với thế giới và cả với Việt Nam. Đại dịch Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp ở nhiều nước, đẩy kinh tế thế giới rơi vào suy thoái và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, sau những nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị và toàn dân, tình hình dịch bệnh vừa mới tạm thời được khống chế thì tháng 10 vừa qua, chúng ta lại phải gánh chịu những mất mát to lớn do tình hình bão lũ nghiêm trọng tại các tỉnh miền Trung. Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh thiên tai, địch hoạ, chúng ta càng thấy rõ hơn tinh thần nhân văn, tương thân tương ái của đất nước và con người Việt Nam, những điều mà không phải dễ dàng tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này, cho dù đó là quốc gia có nền kinh tế phát triển.

Trước hết, có thể nhận thấy, đại dịch Covid-19 hiện nay phản ánh những khía cạnh sâu xa của phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng xã hội ở Mỹ cũng như nhiều nước phương Tây, mà trực tiếp nhất là bất bình đẳng trong thụ hưởng dịch vụ chăm sóc y tế. Người nhập cư, người nước ngoài chính là cộng đồng yếu thế, dễ bị tổn thương và chịu rủi ro cao nhất trong bối cảnh khủng hoảng, dịch bệnh.Thống kê ban đầu cho thấy người Mỹ gốc Phi là những người nghèo nhất và ít được nhận chăm sóc y tế nhất. Họ cũng chiếm tỷ lệ nhiễm bệnh và tỷ lệ tử vong cao nhất trong dịch Covid-19. Tính chung, gần 1/3 số người đã chết ở Mỹ là người da đen, cao hơn nhiều so với tỷ lệ người da màu trong dân số là 13%.

Dịch Covid-19 đã khiến nhiều cộng đồng người Mỹ gốc Phi rơi vào tình trạng đặc biệt kiệt quệ. Đáng nói là nhiều người đã bị từ chối hoặc không có điều kiện được xét nghiệm, khám chữa bệnh. Hơn nữa, người lao động trong những ngành nghề được trả lương thấp chủ yếu là những người da màu. Công việc của họ thường là tài xế chở hàng, nhân viên bệnh viện, thu ngân cửa hàng,… những công việc khiến họ dễ “bị phơi nhiễm” với những mối nguy hiểm hơn so với người da trắng; đồng thời cũng dễ dàng bị mất việc trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế vì dịch bệnh. Có thể thấy, dịch bệnh Covid-19 đang tác động tới những người da đen nặng nề hơn nhiều so với người da trắng ở Mỹ. Trong bối cảnh ấy, cái chết của người đàn ông da đen George Floyd do bị viên cảnh sát da trắng ghì cổ khống chế vào ngày 25/5/2020 ở thành phố Minneapolis, bang Minnesota như giọt nước tràn li, làm khuấy lên làn sóng biểu tình trên khắp nước Mỹ. Một lần nữa, trong đại dịch Covid-19 người ta lại thấy rõ hơn rằng sự phân biệt chủng tộc là vấn đề chưa bao giờ thôi nhức nhối ở xứ cờ hoa.

Trong khi đó, ở Việt Nam, với tinh thần “con người là trên hết”, vì sức khoẻ và tính mạng của con người, quyết “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng và Nhà nước Việt Nam sẵn sàng đón nhận và hết lòng cứu chữa cho tất cả mọi người, dù là người giàu hay nghèo, trẻ khoẻ hay già yếu, đồng bào trong nước hay kiều bào ở vùng dịch mong muốn trở về nước, dù là người Việt Nam hay người nước ngoài, thậm chí chỉ là khách du lịch, tất cả đều được quan tâm chăm lo.

Trong số các ca nhiễm Covid-19 tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay, rất nhiều ca là người nước ngoài và hiện đã có nhiều trường hợp được điều trị khỏi, trở về quê nhà an toàn.Nhiều người nước ngoài sau khi khỏi bệnh đã bày tỏ lòng cảm kích, biết ơn đối với sự cứu chữa tận tình của các y bác sĩ Việt Nam và ngưỡng mộ tinh thần nhân văn của một đất nước dù còn nghèo, nguồn lực còn hạn chế, trình độ y tế có thể chưa cao bằng nhiều nước, nhưng đã sẵn lòng dang tay với tất cả những người cần giúp đỡ và quyết tâm cứu chữa bệnh nhân, bất kể người đó là ai.

Đặc biệt, các bệnh nhân người nước ngoài, trong đó có các ca diễn biến rất nặng, hoặc có bệnh nền, điều trị phức tạp, nhưng các bác sĩ của chúng ta đều dành tối đa điều kiện để cứu chữa, chăm sóc (điển hình là trường hợp bệnh nhân số 91 là một minh chứng sống động nhất.

Chính trong đại dịch, bản chất của Nhà nước và tính nhân văn của dân tộc Việt Nam lại được lan toả. Bản chất ưu việt của một Nhà nước xã hội chủ nghĩa được thể hiện rõ nét, đó là một nhà nước thực sự vì con người, bảo vệ con người, đặt con người lên trên hết, không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo, hay địa vị xã hội.

Hiện nay, trước diễn biến phức tạp của thiên tai, bão chồng bão, lũ chồng lũ đang gây ra những thiệt hại nghiêm trọng tại miền Trung, thìtinh thần nhân văn của con người Việt Nam lại tiếp tục được lan toả trong công tác ứng phó và giải quyết hậu quả của bão lũ.

Những ngày qua, cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã triển khai nhiều biện pháp cấp bách để cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả do mưa bão gây ra. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gửi lời chia buồn đến thân nhân các gia đình bị nạn do lũ lụt và kêu gọi cả nước chung sức, đồng lòng giúp đỡ bà con vùng lũ. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã gửi các công điện chỉ đạo, đồng thời trực tiếp cùng các đồng chí lãnh đạo về địa phương kiểm tra, thị sát tình hình, cùng triển khai các giải pháp ứng phó với bão lũ. Bộ máy chính quyền cơ sở đã được huy động tối đa, tăng cường các biện pháp cứu hộ, cứu nạn. Phong trào quyên góp, ủng hộ, cứu đói đồng bào miền Trung được phát động và nhận được sự hưởng ứng rộng rãi trong cả nước. Trên thực tế, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, với nỗ lực và tinh thần đoàn kết của người dân, công tác phòng, chống bão lũ đang được các địa phương xử lý tích cực.

Trong cuộc chiến chống thiên tai, cứu hộ đồng bào, đã có nhiều cán bộ, chiến sĩ hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ. Những hi sinh, mất mát vô cùng thương tâm ấy, không có lời lẽ nào có thể diễn tả hết. Trong khi đó, một số đối tượng phản động lại ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Nhà nước Việt Nam bằng những thủ đoạn nham hiểm. Một số trang tin phản động ra sức đăng tải thông tin sai trái, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến công tác phòng, chống bão lũ tại các tỉnh miền Trung, vẫn “tưng bừng tổ chức đại hội”…

Cần phải thấy rằng, việc tổ chức đại hội Đảng bộ các tỉnh trong tháng 10 này là thực hiện theo kế hoạch, lộ trình đã đề ra. Hơn nữa, trước tình hình lũ lụt lịch sử, cấp ủy, chính quyền các địa phương vừa lo tổ chức đại hội nhưng cũng đồng thời triển khai các lực lượng chức năng tham gia giúp đỡ, ứng cứu người dân với tất cả tinh thần trách nhiệm chứ không phải “lo đại hội, bỏ mặc dân” như các đối tượng rêu rao. Những gì đã và đang diễn ra trong thực tế phòng chống và khắc phục hậu quả của bão lũ ở các tỉnh miền Trung là minh chứng xác đáng cho nỗ lực, cố gắng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, đồng thời thể hiện khách quan và sinh động bản chất của chế độ xã hội cũng như của tinh thần nhân văn Việt Nam.