Hiển thị các bài đăng có nhãn kết hợp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kết hợp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tăng cường, phát huy nội lực trên cơ sở phát huy cao độ sức mạnh, trí tuệ Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bằng đường lối độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng, bằng bàn tay, khối óc và tinh thần hăng say lao động, sáng tạo mà nhân dân ta đã làm nên kỳ tích mới trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từng bước khẳng định bản lĩnh chính trị, uy tín, vị thế Việt Nam trong thời đại mới, từ đó làm cho các nước và các dân tộc trên thế giới nhận rõ con đường độc lập, tự chủ, gắn với chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, nhân dân ta lựa chọn trong điều kiện hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, là nền tảng bền vững cho chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trước xu thế toàn cầu hóa cuộc chạy đua giữa các quốc gia, dân tộc trở nên ngày càng quyết liệt vì vậy, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, lại tiếp tục tỏa sáng. Đất nước ta hội nhập với thế giới, với khu vực là để học hỏi, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, của thời đại, từ đó làm giàu thêm, phong phú hơn nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam; việc tranh thủ ngoại lực là để khơi dậy nội lực, biến ngoại lực thành nội lực, xây dựng đất nước ta giàu mạnh, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, chứ quyết không thể tự đánh mất mình, không để tự mình rơi vào tụt hậu, lệ thuộc.

Hơn bao giờ hết, con đường duy nhất đúng là phải quyết tâm để vươn lên, đưa đất nước phát triển bền vững, nhịp bước nhân loại không chờ đợi bất cứ ai, cuộc cạnh tranh toàn cầu luôn tiềm ẩn nguy cơ “mất còn”, không quốc gia, dân tộc nào là ngoại lệ, làm cho tương quan lực lượng và mối quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc ở các khu vực trên thế giới thường xuyên thay đổi. Việc tăng cường, phát huy nội lực, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam sẽ bảo đảm cho đất nước ta phát triển hài hòa, bền vững, không lệ thuộc vào nước ngoài, dần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Vì thế, với bản lĩnh, trí tuệ, tiềm năng đất nước và con người Việt Nam, cần phải tập trung xử lý, tháo gỡ những cản trở, ách tắc, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước thoát khỏi tình trạng suy giảm đã kéo dài, phục hồi và tăng cường nhịp độ tăng trưởng. Tăng cường và tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; hoàn thành tốt nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế để tạo ra một chất lượng mới, trình độ mới, cao hơn, toàn diện hơn cho sự phát triển kinh tế đất nước, phấn đấu trong thời gian gần đạt ngang tầm các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới.

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ KẾT HỢP GIỮA HUẤN LUYỆN VỚI XÂY DỰNG CHÍNH QUY, RÈN LUYỆN KỶ LUẬT

Kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật là hai nội dung song hành, có quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau, nên có vai trò quan trọng không thể thiếu trong nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của các cơ quan, đơn vị và toàn quân. Vì thế, cùng với làm tốt công tác huấn luyện, các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các văn bản liên quan về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, cùng với những bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn chỉ huy, quản lý bộ đội để có chủ trương, giải pháp phù hợp. Thời gian tới, việc xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật cần tập trung vào nâng cao trình độ chính quy trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; đặc biệt là quản lý con người và vũ khí, trang bị kỹ thuật, kết hợp chặt chẽ xây dựng chính quy với chấp hành kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước; phấn đấu giảm tỷ lệ vi phạm kỷ luật thông thường hằng năm dưới 0,3%; hạn chế thấp nhất các vụ vi phạm nghiêm trọng, mất an toàn trong huấn luyện.

Để làm được điều đó, toàn quân tiếp tục làm tốt công tác giáo dục, xây dựng động cơ, ý chí quyết tâm, tính tự giác của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện điều lệnh, điều lệ, chỉ thị, quy định; gắn giáo dục chính trị, pháp luật với các biện pháp hành chính và xử lý liên đới trách nhiệm của cán bộ các cấp. Thường xuyên rà soát, đánh giá tình hình, kết quả xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật của cơ quan, đơn vị để rút kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ huy, chấn chỉnh, xử lý sai phạm, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt, học tập, công tác; tăng cường biện pháp quản lý các mối quan hệ xã hội của quân nhân, nhất là kiểm soát chặt chẽ tình trạng quân nhân tham gia lô đề, cờ bạc, vay nặng lãi, v.v. Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp phân đội có đủ phẩm chất, năng lực chỉ huy, kinh nghiệm thực tiễn quản lý, rèn luyện, giáo dục bộ đội. Thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng trong thực hiện chính quy, rèn luyện kỷ luật, quản lý tư tưởng bộ đội; kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm ngay từ cơ sở. Phối hợp chặt chẽ với địa phương, gia đình trong nắm bắt, giải quyết kịp thời những vướng mắc về tư tưởng, đời tư,… của cán bộ, chiến sĩ; đồng thời, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, chủ động đấu tranh phòng, chống các tác động tiêu cực và văn hóa xấu độc.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VỀ KẾT HỢP QUỐC PHÒNG VỚI KINH TẾ, KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG

“Ngụ binh ư nông” là chính sách đưa quân sĩ vào tham gia lao động sản xuất nông nghiệp đã được nhiều triều đại phong kiến nước ta áp dụng và đã cho thấy tính hiệu quả trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tiếp nối truyền thống quý báu ấy, Quân đội nhân dân Việt Nam từ khi ra đời đã được giao 3 chức năng, trong đó có chức năng "đội quân sản xuất", tham gia xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng. Đây luôn là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta.

Ngày 9-2-2007, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ra Nghị quyết số 10-NQ/TW, trong đó có nêu: “Chuyển các doanh nghiệp chuyên làm kinh tế đơn thuần thuộc các cơ quan đảng, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội cho cơ quan nhà nước quản lý, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp”. Như vậy là theo nghị quyết nói trên, chỉ “chuyển các doanh nghiệp chuyên làm kinh tế đơn thuần...”, nhưng các đối tượng chống phá cố tình xuyên tạc để xã hội hiểu sai rằng quân đội sẽ không tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế nữa.

Sau đó chỉ hơn 9 tháng, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 105-QĐ/TW ngày 20-11-2007 “Về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam” đã nêu rõ một trong những chức năng của Quân ủy Trung ương là “Lãnh đạo quân đội lao động, sản xuất, làm kinh tế theo đúng chức năng, nhiệm vụ, đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đạt năng suất, chất lượng cao”. Văn bản này cũng nêu rõ: “Đảng ủy đơn vị sản xuất quốc phòng và làm kinh tế có nhiệm vụ: Lãnh đạo đơn vị thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ; quán triệt và thực hiện quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, quốc phòng, an ninh với kinh tế, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong mọi tình huống theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của quân đội; sản xuất, kinh doanh phát triển, đạt hiệu quả kinh tế-xã hội cao; góp phần cùng các doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân”; “Cấp ủy đảng trong các doanh nghiệp của quân đội liên doanh với nước ngoài có nhiệm vụ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các bên trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi, nhân phẩm người lao động”.

Tại Quy định số 59-QĐ/TW của Bộ Chính trị ngày 22-12-2016 quy định về tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam cũng quy định rõ: Quân ủy Trung ương có nhiệm vụ "Lãnh đạo quân đội lao động sản xuất, làm kinh tế đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước". Văn bản cũng quy định: "Đảng ủy đơn vị sản xuất quốc phòng và làm kinh tế có nhiệm vụ: Lãnh đạo đơn vị thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ; quán triệt và thực hiện quan điểm kết hợp kinh tế-xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế-xã hội tạo thế quân sự, quốc phòng trong khu vực phòng thủ ở địa phương, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong mọi tình huống; sản xuất, kinh doanh phát triển, đạt hiệu quả kinh tế-xã hội cao theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của quân đội; góp phần cùng các doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân".

Như vậy, Đảng ta luôn coi trọng chức năng "đội quân sản xuất" của quân đội và luôn nhất quán chủ trương quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng. Trong rất nhiều văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong các văn kiện đại hội toàn quốc của Đảng, vấn đề kết hợp hiệu quả giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng-an ninh; xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế-quốc phòng; phát triển công nghiệp quốc phòng... thường xuyên được nhắc đến cả trong phần đánh giá kết quả đạt được và trong phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ. 

Điều 68 Hiến pháp cũng quy định rõ: “Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh...”. Thể chế hóa quan điểm của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp, nhiều văn bản pháp luật đã có những quy định về xây dựng nền công nghiệp quốc phòng; kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng.

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2019

QUỐC TẾ CỘNG SẢN ĐÃ KẾT HỢP CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỚI PHONG TRÀO CÔNG NHÂN TRÊN PHẠM VỊ TOÀN THẾ GIỚI


Với sự hoạt động của Quốc tế Cộng sản và V.I. Lênin, khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!” của C. Mác đã được phát triển thành “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Đó không chỉ thể hiện sự phát triển về mặt lý luận, mà còn phản ánh sự lớn mạnh của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trong thực tiễn. Điều đó làm cho Quốc tế Cộng sản ngày càng phát triển, trở thành người lãnh đạo, là lãnh tụ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Từ khi thành lập Quốc tế Cộng sản đến khi tuyên bố tự giải tán (năm 1943), phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, có bước tiến dài, vững chắc. Sự hình thành, phát triển, tiến bộ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của các đảng cộng sản theo lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin là dấu ấn nổi bật, thể hiện công lao không thể phủ nhận của Quốc tế Cộng sản.
Trong hơn 20 năm tồn tại và phát triển, Quốc tế Cộng sản đã tổ chức 7 kỳ đại hội. Qua mỗi kỳ đại hội, cuộc đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ngày càng tiến bộ, trưởng thành. Một loạt đảng cộng sản, đảng công nhân ở nhiều nước đã ra đời, trực tiếp lãnh đạo và đưa phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển ở mỗi nước. Năm 1919, chỉ có 10 đảng cộng sản tham gia Quốc tế Cộng sản, đến năm 1921, con số này đã lên đến 48. Quốc tế Cộng sản hoạt động theo những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong tổ chức cũng như khi thảo luận thông qua các văn kiện về nhiệm vụ chiến lược, cương lĩnh, luôn bảo đảm đoàn kết, nhất trí, ngăn ngừa những phần tử cơ hội, hữu khuynh, phần tử “phái giữa” chống phá và chui vào tổ chức; bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất và bản chất cách mạng của Quốc tế Cộng sản. Đó là yếu tố đảm bảo chắc chắn cho sự trong sạch, vững mạnh của các đảng cộng sản để các đảng đủ sức làm tròn sứ mệnh tiên phong lãnh đạo cách mạng.

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

CỐNG HIẾN LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG VIỆC KẾT HỢP CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỚI PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ PHONG TRÀO YÊU NƯỚC

V. I.Lênin đã nói, ở các nước tư bản phát triên, Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân.Còn ở Việt Nam, trong điều kiện một nước nông nghiệp, thuộc địa, nửa phong kiến, công nghiệp chưa phát triển, vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam đã ra đời, nhưng còn rất nhỏ bé (theo Nguyễn Ái Quốc, vào khoảng 2% dân số), làm thế nào để xây dựng một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân?
Bằng kinh nghiệm đã qua của bản thân mình: từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến một sáng tạo lớn: đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước để từng bước đi đến thành lập Đảng. Ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp những thanh niên yêu nước, giàu nhiệt huyết, có chí khí cách mạng…; mở các lớp huấn luyện chính trị, trang bị cho họ những kiến thức cơ bản về lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, về lịch sử phong trào cách mạng thế giới, về đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam,… rồi đưa họ về nước, đi vào phong trào công nhân, thực hiện “vô sản hóa” về tư tưởng và nếp sống, vừa tự rèn luyện trong thực tế, vừa tuyên truyền, giác ngộ quần chúng lên đấu tranh. Như vậy,  Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện được sứ mệnh là người gieo những hạt giống của chủ nghĩa Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội trên mảnh đất của chủ nghĩa yêu nước đã được chuẩn bị sẵn.
Chỉ trong thời gian ngắn từ những năm 1929, đến đầu 1930 đã xuất hiện ba tổ chức cộng sản, dù họ có tranh luận, chỉ trích nhau gay gắt nhưng với sự xuất hiện kịp thời của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thống nhất lại thành một đảng duy nhất. Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước dẫn đến việc thành lập Đảng ta là một cống hiến lịch sử, một sáng tạo độc đáo, có giá trị đóng góp vào lý luận xây dựng chính đảng giai cấp công nhân ở những nước thuộc địa và phụ thuộc có hoàn cảnh tương tự như nước ta.