Hiển thị các bài đăng có nhãn quốc tế cộng sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quốc tế cộng sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2024

NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN LÀ GÌ?

 

Những nội dung chủ yếu trong hoạt động của Quốc tế Cộng sản đó là:

Một là, xác định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và các đảng cộng sản là đấu tranh thực hiện chuyên chính vô sản. Tại Đại hội I của Quốc tế Cộng sản, V.I.Lênin đã trình bày bản đề cương về “Dân chủ tư sản và dân chủ vô sản”, nhiệm vụ chuyên chính vô sản.

Hai là, xây dựng Quốc tế Cộng sản vững mạnh và tập trung giúp phong trào cách mạng thế giới tổ chức ra các đảng cộng sản và xây dựng các đảng đó vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thông qua Điều lệ của Quốc tế Cộng sản là lấy chủ nghĩa Mác là kim chỉ nam cho mọi hoạt động quốc tế. Xây dựng Quốc tê Cộng sản về mặt tổ chức theo nguyên tắc “tập trung dân chủ”; xác lập mối quan hệ giữa Quốc tế Cộng sản với các đảng cộng sản và các đảng cộng sản là chi bộ cơ sở của Quốc tế Cộng sản. Quốc tế Cộng sản chủ trương Bônsêvích hoá các đảng cộng sản theo hình mẫu của Đảng Bônsêvích Nga.

Ba là, Quốc tế Cộng sản quan tâm giải quyết vấn đề dân tộc và thuộc địa, tạo điều kiện giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc; xác định vị trí vai trò của phong trào giải phóng dân tộc trong tiến trình cách mạng thế giới và là một bộ phận của cách mạng vô sản; chỉ đạo các đảng cộng sản kiên quyết đấu tranh chống chính sách xâm lược của chính phủ nước mình và tích cực giúp đỡ các nước thuộc địa. Quốc tế Cộng sản chỉ rõ nhiệm vụ của các đảng cộng sản ở các nước thuộc địa là nắm vai trò lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Bốn là, Quốc tế Cộng sản tập trung chỉ đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và đấu tranh chống nguy cơ của chủ nghĩa phát xít, bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Năm là, Quốc tế Cộng sản đã phát triển những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng vô sản, như: xác định vấn đề nông dân và liên minh công nông trong đấu tranh giành chính quyền và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phát triển thêm một bước về sách lược lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù; hoàn chỉnh thêm nghệ thuật tiến công của cách mạng bằng việc bổ sung tư tưởng biết rút lui khi cần thiết.

NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH SỰ RA ĐỜI CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN LÀ GÌ?

 

Quốc tế Cộng sản ra đời xuất phát từ những yêu cầu đòi hỏi của khách quan và được quyết định bởi những yếu tố cơ bản sau:

Một là, xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi khách quan của thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và t yêu cầu của cao trào cách mạng lúc này cần phải có một trung tâm quốc tế mới để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, giúp cho các nước thành lập đảng cộng sản.

 Hai là, Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga tạo ra nhân tố quyết định cho việc thành lập trung tâm Quốc tế Cộng sản mới - Quốc tế Cộng sản. Lần đầu tiên những người cộng sản đã có tổ quốc, có căn cứ địa cách mạng riêng - Nước Nga Xôviết. Đây là điều kiện bảo đảm cho một số tổ chức quốc tế mới ra đời, hoạt động và làm tròn sứ mệnh lịch sử của nó. Mặt khác, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã thúc đẩy nhanh sự phân hóa của các đảng xã hội - dân chủ, tiến tới thành lập đảng cộng sản ở các nước.

Ba là, trước yêu cầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng các đảng cách mạng thực sự vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đủ sức đánh bại các trào lưu cơ hội, xét lại.

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2021

SỰ RA ĐỜI CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trong lúc xã hội Việt Nam đang khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước thì Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh xuất hiện. Trước cảnh nước mất nhà tan, cũng như bao người Việt Nam yêu nước thời đó, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước. Song, không giống với cụ Phan Bội Châu, dù đã “Nam bôn, Bắc tẩu, dấu chân in gần khắp nửa châu Á” mà “tự xét thấy chẳng việc gì nên”, để đến khi sức tàn, lực kiệt vẫn ôm mối hận mà than rằng “cuộc đời tôi trăm thất bại chẳng một lần thành công”. Nguyễn Ái Quốc không tìm đường cứu nước ở phương Đông lạc hậu, Người quyết định sang Pháp, hướng về các nước phương Tây để trước hết là tìm hiểu cho rõ những gì đang ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, xem vì sao các nước phương Tây lại trở nên phú cường, rồi sau đó sẽ trở về giúp đồng bào.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Việt Nam Nguyễn Tất Thành đã lên tàu Latusơ Tơrêvin rời Tổ quốc thân yêu, vượt trùng dương đi tìm chân lý cách mạng. Cuộc hành trình trong 6 năm từ Á sang Âu, Phi, Mỹ rồi lại trở về châu Âu năm 1917 giúp Nguyễn Ái Quốc nhận thức và khám phá nhiều điều mới mẻ. Khảo sát các cuộc cách mạng ở Pháp, Anh, Mỹ, Người cho rằng, đó là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản đã xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Người đi đến kết luận, chúng ta đã đổ xương máu để làm cách mạng, thì nên làm đến nơi, nghĩa là làm sao cho cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc.

Cách mạng Tháng Mưòi Nga năm 1917 thắng lợi là sự kiện chính trị lớn nhất của thế kỷ XX, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản.  Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đặt ra sự lựa chọn mới đối với những người cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc cho một số ít người hay cho đại đa số người? Độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa tư bản hay độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội?

Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba) ra đời, có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Năm 1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn ra quyết liệt trong nhiều đảng công nhân và ngay trong Đảng Xã hội Pháp: tiếp tục theo Quốc tế thứ hai tức là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc tế thứ ba, con đường cách mạng.

Những cuộc thảo luận sôi nổi trong Đảng Xã hội Pháp về lý luận cách mạng, về Quốc tế II và Quốc tế III vẫn chưa thể giúp Nguyễn Ái Quốc lựa chọn được học thuyết mà mình cần tiếp nhận. Cho đến cuối tháng tháng 7 năm 1920, lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin để trình bày tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản, Người mới tìm thấy ở đó cái cẩm nang giải phóng dân tộc Việt Nam.

Văn kiện trình bày rõ hướng đi và biện pháp lãnh đạo của Đảng Cộng sản đưa sự nghiệp đấu tranh của các dân tộc thuộc địa đi đến thắng lợi hoàn toàn. Lênin bóc trần thái độ lừa dối của chế độ dân chủ tư sản đối với những người bị bóc lột khi tuyên bố quyền bình đẳng nói chung, trong đó bao gồm cả quyền bình đẳng dân tộc. Do vậy, một trong những nhiệm vụ của đảng cộng sản là phải phân biệt rõ những dân tộc bị áp bức, phụ thuộc không được hưởng quyển bình đẳng, với những dân tộc đi áp bức, bóc lột được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi. Để đập lại sự lừa dối kiểu dân chủ tư sản đang che giấu việc tuyệt đại đa số nhân dân trên trái đất bị một thiểu số nhỏ bé những nước tư sản tiên tiến nô dịch về mặt thuộc địa và tài chính. Trên thực tế, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước tiên tiến và quần chúng lao động các nước thuộc địa và phụ thuộc sau chiến tranh thế giới thứ nhất đang làm tan rã ảo tưởng dân tộc tiểu tư sản về khả năng chung sống hoà bình và bình đẳng giữa các dân tộc dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.

Xuất phát từ những luận điểm trên, Lênin cho rằng: “Điều quan trọng nhất trong chính sách của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa là phải làm cho vô sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản. Bởi vì chỉ có sự gần gũi ấy mới bảo đảm việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản, nếu không có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng”. Đồng thời, Lênin cũng nêu lên những nhiệm vụ quan trọng của các đảng cộng sản là phải trực tiếp ủng hộ phong trào cách mạng của các dân tộc thuộc địa: giai cấp công nhân ở nước tư bản đang thống trị dân tộc chậm tiến trước tiên có nhiệm vụ ủng hộ tích cực nhất phong trào giải phóng các dân tộc ấy; phải đặc biệt ủng hộ phong trào nông dân ở các nước chậm tiến chống bọn địa chủ, chống chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất, chống chế độ phong kiến, phải liên minh chặt chẽ nhất giữa tất cả các phong trào giải phóng dân tộc với nước Nga Xôviết.

Những luận điểm cách mạng của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc mà qua 9năm tìm kiếm (1911-1920) Người mới bắt gặp. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đê thuộc địa của Lênin đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc nhận biết một tổ chức chính trị cần tham gia là Quốc tế III do Lênin sáng lập và lãnh đạo thực sự giúp đỡ các dân tộc bị áp bức đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc giành độc lập tự do. Từ đó, Người nhận thức được là trong thời đại ngày nay, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, con đường do Lênin và Quốc tế Cộng sản vạch ra. Sau này nhớ lại thời điểm được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đê thuộc địa của V.I.Lênin, Người đã viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.

Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế ba”.

Niềm tin của Nguyễn Ái Quốc ở lý luận của V.I.Lênin về cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa và lập trường đúng đắn của Quốc tế Cộng sản là cơ sở để Người xác định thái độ ủng hộ việc gia nhập Quốc tế Cộng sản tại Đại hội Tua (Tours) tháng 12 năm 1920 và đây cũng là sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Chính Người đã nói rõ điều đó khi trả lời nữ đồng chí Rôsơ câu hỏi vì sao lại bỏ phiếu cho Quốc tế III: “Rất đơn giản. Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Quốc tế III nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Còn Quốc tế II không hề nhắc tới vận mệnh các thuộc địa vì vậy tôi bỏ phiếu tán thành Quốc tế III. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Qua 10 năm sống và làm việc ở những nước tư bản phát triển, Nguyễn Ái Quốc không choáng ngợp trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà lại nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật. Người khẳng định dứt khoát chủ nghĩa tư bản không cứu được nước, không cứu được dân. Thắng lợi của Cách Tháng Mười Nga năm 1917 đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra chân lý thời đại: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam. Sản phẩm của quá trình chuẩn bị đó chính là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước, mở ra thời đại mới cho cách mạng Việt Nam.

Đi theo đường hướng của Lênin, của Quốc tế Cộng sản, từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 90 năm qua, Việt Nam từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Đồng thời, những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua còn góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Quốc tế Cộng sản, cổ vũ giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới đứng lên đấu tranh vì các mục tiêu tiến bộ của thời đại.

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2019

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ VÀ GIÁ TRỊ CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN

Công lao, vai trò to lớn và giá trị trường tồn của Quốc tế Cộng sản trong lịch sử hiện đại sau Cách mạng Tháng Mười là không thể phủ nhận. Không thể lợi dụng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết mà cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời, lạc hậu; Quốc tế Cộng sản đã mất đi giá trị. Chính học thuyết này đã tạo nên những hiện thực làm biến đổi thế giới, thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của lịch sử hiện đại và có sức lôi cuốn, tầm ảnh hưởng sâu rộng toàn nhân loại. Sự tổn thất to lớn của chủ nghĩa xã hội từ gần 3 thập niên trước đã chứng minh rằng, đảng nào kiên định và đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, thì cách mạng thành công, đảng đó giữ được vai trò lãnh đạo. Mọi sự vi phạm những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, thực hiện sai đường lối mà Quốc tế Cộng sản đã vạch ra, thì đều dẫn đến hậu quả nguy hại đối với chính sự tồn vong của đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Cách mạng Việt Nam sớm trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới do có sự ảnh hưởng và đóng góp to lớn của Quốc tế Cộng sản. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho nhân dân Việt Nam, thông qua đường lối và chương trình hành động của Quốc tế Cộng sản; tạo điều kiện thuận lợi cho những người Cộng sản Việt Nam nghiên cứu, khảo sát thực tế, học tập kinh nghiệm của các đảng cộng sản và phong trào cách mạng ở các nước. Đồng thời, tích cực giúp đỡ, chuẩn bị các điều kiện thuận lợi cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đào tạo cho cách mạng Việt Nam đội ngũ cán bộ vững vàng,… là những đóng góp to lớn của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam.
Kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Quốc tế Cộng sản, chúng ta một lần nữa khẳng định giá trị trường tồn của Quốc tế Cộng sản; tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, thúc đẩy cách mạng tiến lên, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới. Đó là câu trả lời rõ ràng của chúng ta trước mưu đồ của các thế lực thù địch mưu toan chống phá, phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin và giá trị to lớn của Quốc tế Cộng sản.

QUỐC TẾ CỘNG SẢN ĐỊNH RA CHIẾN LƯỢC, SÁCH LƯỢC ĐÚNG ĐẮN CHO PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

Minh chứng cho điều này là, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản thông qua cương lĩnh, kêu gọi nhân dân toàn thế giới kiên quyết đấu tranh chống phát-xít, ngăn chặn bàn tay đẫm máu của chúng. Đồng thời, đề ra các đối sách bảo vệ Liên Xô, bảo vệ thành trì cách mạng và nền hòa bình thế giới trước sự tấn công hủy diệt của chủ nghĩa phát-xít và nguy cơ chiến tranh thế giới xảy ra. Sự đối mặt của Quốc tế Cộng sản với chủ nghĩa phát-xít đã làm nổi bật tính chất cách mạng, nhân đạo, hòa bình và sự dũng cảm của tổ chức quốc tế này. Quốc tế Cộng sản cũng góp phần quyết định đến chất lượng bồi dưỡng, giáo dục các thế hệ cán bộ lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhất là các đảng cộng sản trẻ tuổi và làm cho các đảng đó trở thành đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, các đảng cộng sản phát triển và trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tích lũy được nhiều kinh nghiệm, giá trị trong đấu tranh cách mạng, chống chiến tranh đế quốc và phát-xít, vạch mặt bọn cơ hội, xét lại; bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin.
Quốc tế Cộng sản đã phát triển toàn diện vấn đề dân tộc, thuộc địa, vạch ra con đường, chiến lược đấu tranh cho các dân tộc thuộc địa, lệ thuộc; phối hợp hành động giữa phong trào cộng sản, công nhân quốc tế với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; tích cực giúp đỡ các dân tộc trong đấu tranh vì độc lập, tự do. Trọng tâm trong sự nghiệp của mình là Quốc tế Cộng sản đã rất quan tâm đến vấn đề cách mạng thuộc địa, nhìn rõ mối quan hệ giữa phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc; ủng hộ phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh, trong đó có Việt Nam; qua đó, góp phần làm gắn bó giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng thuộc địa. Cùng với sự chiếu rọi từ ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, sự quan tâm giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản là nhân tố rất quan trọng làm thức tỉnh nhân dân các dân tộc thuộc địa, bị áp bức đứng lên chống đế quốc, thực dân, giành độc lập, đưa đất nước phát triển theo xu hướng mới. Đó vừa là thành tựu về thực tiễn, vừa là giá trị về tư tưởng, lý luận của Quốc tế Cộng sản.

QUỐC TẾ CỘNG SẢN ĐÃ KẾT HỢP CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỚI PHONG TRÀO CÔNG NHÂN TRÊN PHẠM VỊ TOÀN THẾ GIỚI


Với sự hoạt động của Quốc tế Cộng sản và V.I. Lênin, khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!” của C. Mác đã được phát triển thành “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Đó không chỉ thể hiện sự phát triển về mặt lý luận, mà còn phản ánh sự lớn mạnh của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trong thực tiễn. Điều đó làm cho Quốc tế Cộng sản ngày càng phát triển, trở thành người lãnh đạo, là lãnh tụ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Từ khi thành lập Quốc tế Cộng sản đến khi tuyên bố tự giải tán (năm 1943), phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, có bước tiến dài, vững chắc. Sự hình thành, phát triển, tiến bộ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của các đảng cộng sản theo lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin là dấu ấn nổi bật, thể hiện công lao không thể phủ nhận của Quốc tế Cộng sản.
Trong hơn 20 năm tồn tại và phát triển, Quốc tế Cộng sản đã tổ chức 7 kỳ đại hội. Qua mỗi kỳ đại hội, cuộc đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ngày càng tiến bộ, trưởng thành. Một loạt đảng cộng sản, đảng công nhân ở nhiều nước đã ra đời, trực tiếp lãnh đạo và đưa phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển ở mỗi nước. Năm 1919, chỉ có 10 đảng cộng sản tham gia Quốc tế Cộng sản, đến năm 1921, con số này đã lên đến 48. Quốc tế Cộng sản hoạt động theo những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong tổ chức cũng như khi thảo luận thông qua các văn kiện về nhiệm vụ chiến lược, cương lĩnh, luôn bảo đảm đoàn kết, nhất trí, ngăn ngừa những phần tử cơ hội, hữu khuynh, phần tử “phái giữa” chống phá và chui vào tổ chức; bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất và bản chất cách mạng của Quốc tế Cộng sản. Đó là yếu tố đảm bảo chắc chắn cho sự trong sạch, vững mạnh của các đảng cộng sản để các đảng đủ sức làm tròn sứ mệnh tiên phong lãnh đạo cách mạng.

QUỐC TẾ CỘNG SẢN CÓ CÔNG LAO TO LỚN TRONG BẢO VỂ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Ngay sau khi Ph. Ăngghen qua đời (năm 1895), các phần tử cơ hội, xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác đã lên nắm quyền lãnh đạo và lũng đoạn Quốc tế II (1889 - 1914), đòi “hạ bệ chủ nghĩa Mác”; muốn thay chủ nghĩa Mác bằng hệ tư tưởng tư sản. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền hệ tư tưởng phản động trong phong trào cộng sản và công nhân; đưa ra luận thuyết ảo tưởng “hòa bình giai cấp” và chủ trương “chủ nghĩa tư bản hòa bình nhập vào chủ nghĩa xã hội”. Nguy hiểm hơn, họ còn công khai đứng về phía giai cấp tư sản - kẻ thù của giai cấp công nhân, ủng hộ cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa, chống lại những người Bôn-sê-vích.
Năm 1919, Quốc tế Cộng sản ra đời đã đập tan những ảo tưởng đó của bọn cơ hội, xét lại. Những quan điểm tiến bộ, cách mạng, đứng vững trên lập trường mác-xít khoa học và cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã từng bước lấn át, đẩy lùi, khắc phục những quan điểm “lầm đường, lạc lối” của phái “tả khuynh”, cơ hội, xét lại; giảm bớt tác hại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Điều đó không những làm trong sạch phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển mới và đúng hướng của phong trào. Lịch sử ra đời và tồn tại của Quốc tế Cộng sản cũng đồng thời là lịch sử đấu tranh không ngừng nghỉ chống các phần tử cơ hội, xét lại dưới mọi màu sắc, để khẳng định, bảo vệ và phát huy những giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thực tiễn. Đó là công lao to lớn đầu tiên của Quốc tế Cộng sản.

NHẬN DIỆN SỰ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CÁCH MẠNG CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN

Ngày 02-3-1919, tại Mát-xcơ-va, Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) - tổ chức cách mạng của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới - được thành lập. Chỉ tồn tại hơn 20 năm, song với những hoạt động sôi nổi và phong phú của mình, Quốc tế Cộng sản đã để lại những giá trị to lớn, không thể phủ nhận đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời, phát triển của nhiều đảng cộng sản trên thế giới là những tiền đề cơ bản, trực tiếp cho sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, thể hiện yêu cầu khách quan, bức thiết của phong trào công nhân và cách mạng thế giới lúc bấy giờ. Quốc tế Cộng sản là sự kế tiếp hợp quy luật, phản ánh kết quả đấu tranh của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế suốt hàng thế kỷ được soi sáng và dẫn dắt bởi học thuyết khoa học và cách mạng - chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự ra đời và hoạt động của Quốc tế Cộng sản đã để lại những giá trị lịch sử không thể phủ nhận đối với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào cách mạng thế giới.
Tuy vậy, các thế lực thù địch và chủ nghĩa cơ hội, xét lại dưới mọi màu sắc vẫn ra sức xuyên tạc, công kích vào những tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân - các tổ chức truyền bá, bảo vệ, phát triển và đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng. Đặc biệt là, họ phủ nhận những giá trị của Quốc tế Cộng sản đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Sự chống phá càng gia tăng sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Hiện nay, sự chống phá đó tiếp tục diễn ra quyết liệt khi các nước xã hội chủ nghĩa còn lại dù gặp nhiều khó khăn, thử thách, song vẫn kiên định con đường, mục tiêu chủ nghĩa xã hội, thực hiện đổi mới, cải cách và tiếp tục phát triển. Họ rêu rao rằng, Quốc tế Cộng sản cũng như chuyên chính vô sản ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa là chuyên chế cá nhân, là sự thống trị bằng bạo lực, tước đoạt quyền tự do cá nhân, vi phạm nhân quyền. Họ đổ lỗi cho Quốc tế Cộng sản đã đề ra chiến lược, sách lược sai lầm do dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, dẫn đến sự sai lầm của các đảng cộng sản và công nhân ở nhiều nước trong xác định đường lối đấu tranh và nhiệm vụ cách mạng. Họ cố tình phủ nhận tính cách mạng của Quốc tế Cộng sản, rằng đó không phải là tổ chức theo chủ nghĩa Mác – Lênin.
Vậy là, họ vừa đổ lỗi cho những sai lầm, hạn chế của Quốc tế Cộng sản vì tổ chức này là của chủ nghĩa Mác – Lênin; lại vừa đối lập về bản chất giữa Quốc tế Cộng sản với chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là sự xuyên tạc vô lối về bản chất, tính chất cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và Quốc tế Cộng sản.

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN CÔNG LAO, VAI TRÒ VÀ GIÁ TRỊ CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN

Không thể lợi dụng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết mà cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời, lạc hậu; Quốc tế Cộng sản đã mất đi giá trị. Chính học thuyết này đã tạo nên những hiện thực làm biến đổi thế giới, thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của lịch sử hiện đại và có sức lôi cuốn, tầm ảnh hưởng sâu rộng toàn nhân loại. Sự tổn thất to lớn của chủ nghĩa xã hội từ gần 3 thập niên trước đã chứng minh rằng, đảng nào kiên định và đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, thì cách mạng thành công, đảng đó giữ được vai trò lãnh đạo. Mọi sự vi phạm những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, thực hiện sai đường lối mà Quốc tế Cộng sản đã vạch ra, thì đều dẫn đến hậu quả nguy hại đối với chính sự tồn vong của đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Cách mạng Việt Nam sớm trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới do có sự ảnh hưởng và đóng góp to lớn của Quốc tế Cộng sản. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho nhân dân Việt Nam, thông qua đường lối và chương trình hành động của Quốc tế Cộng sản; tạo điều kiện thuận lợi cho những người Cộng sản Việt Nam nghiên cứu, khảo sát thực tế, học tập kinh nghiệm của các đảng cộng sản và phong trào cách mạng ở các nước. Đồng thời, tích cực giúp đỡ, chuẩn bị các điều kiện thuận lợi cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đào tạo cho cách mạng Việt Nam đội ngũ cán bộ vững vàng,… là những đóng góp to lớn của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam.
Kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Quốc tế Cộng sản, chúng ta một lần nữa khẳng định giá trị trường tồn của Quốc tế Cộng sản; tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, thúc đẩy cách mạng tiến lên, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới. Đó là câu trả lời rõ ràng của chúng ta trước mưu đồ của các thế lực thù địch mưu toan chống phá, phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin và giá trị to lớn của Quốc tế Cộng sản.

QUỐC TẾ CỘNG SẢN ĐỊNH RA CHIẾN LƯỢC, SÁCH LƯỢC ĐÚNG ĐẮN CHO PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

Minh chứng cho điều này là, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản thông qua cương lĩnh, kêu gọi nhân dân toàn thế giới kiên quyết đấu tranh chống phát-xít, ngăn chặn bàn tay đẫm máu của chúng. Đồng thời, đề ra các đối sách bảo vệ Liên Xô, bảo vệ thành trì cách mạng và nền hòa bình thế giới trước sự tấn công hủy diệt của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh thế giới xảy ra. Sự đối mặt của Quốc tế Cộng sản với chủ nghĩa phát xít đã làm nổi bật tính chất cách mạng, nhân đạo, hòa bình và sự dũng cảm của tổ chức quốc tế này. Quốc tế Cộng sản cũng góp phần quyết định đến chất lượng bồi dưỡng, giáo dục các thế hệ cán bộ lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhất là các đảng cộng sản trẻ tuổi và làm cho các đảng đó trở thành đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, các đảng cộng sản phát triển và trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tích lũy được nhiều kinh nghiệm, giá trị trong đấu tranh cách mạng, chống chiến tranh đế quốc và phát xít, vạch mặt bọn cơ hội, xét lại; bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin.
Quốc tế Cộng sản đã phát triển toàn diện vấn đề dân tộc, thuộc địa, vạch ra con đường, chiến lược đấu tranh cho các dân tộc thuộc địa, lệ thuộc; phối hợp hành động giữa phong trào cộng sản, công nhân quốc tế với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; tích cực giúp đỡ các dân tộc trong đấu tranh vì độc lập, tự do. Trọng tâm trong sự nghiệp của mình là Quốc tế Cộng sản đã rất quan tâm đến vấn đề cách mạng thuộc địa, nhìn rõ mối quan hệ giữa phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc; ủng hộ phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh, trong đó có Việt Nam; qua đó, góp phần làm gắn bó giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng thuộc địa. Cùng với sự chiếu rọi từ ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, sự quan tâm giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản là nhân tố rất quan trọng làm thức tỉnh nhân dân các dân tộc thuộc địa, bị áp bức đứng lên chống đế quốc, thực dân, giành độc lập, đưa đất nước phát triển theo xu hướng mới. Đó vừa là thành tựu về thực tiễn, vừa là giá trị về tư tưởng, lý luận của Quốc tế Cộng sản.

QUỐC TẾ CỘNG SẢN ĐÃ KẾT HỢP CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỚI PHONG TRÀO CÔNG NHÂN TRÊN PHẠM VI TOÀN THẾ GIỚI

Với sự hoạt động của Quốc tế Cộng sản và V.I. Lênin, khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!” của C.Mác đã được phát triển thành “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Đó không chỉ thể hiện sự phát triển về mặt lý luận, mà còn phản ánh sự lớn mạnh của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trong thực tiễn. Điều đó làm cho Quốc tế Cộng sản ngày càng phát triển, trở thành người lãnh đạo, là lãnh tụ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Từ khi thành lập Quốc tế Cộng sản đến khi tuyên bố tự giải tán (năm 1943), phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, có bước tiến dài, vững chắc. Sự hình thành, phát triển, tiến bộ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của các đảng cộng sản theo lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin là dấu ấn nổi bật, thể hiện công lao không thể phủ nhận của Quốc tế Cộng sản.
Trong hơn 20 năm tồn tại và phát triển, Quốc tế Cộng sản đã tổ chức 7 kỳ đại hội. Qua mỗi kỳ đại hội, cuộc đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ngày càng tiến bộ, trưởng thành. Một loạt đảng cộng sản, đảng công nhân ở nhiều nước đã ra đời, trực tiếp lãnh đạo và đưa phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển ở mỗi nước. Năm 1919, chỉ có 10 đảng cộng sản tham gia Quốc tế Cộng sản, đến năm 1921, con số này đã lên đến 48. Quốc tế Cộng sản hoạt động theo những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong tổ chức cũng như khi thảo luận thông qua các văn kiện về nhiệm vụ chiến lược, cương lĩnh, luôn bảo đảm đoàn kết, nhất trí, ngăn ngừa những phần tử cơ hội, hữu khuynh, phần tử “phái giữa” chống phá và chui vào tổ chức; bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất và bản chất cách mạng của Quốc tế Cộng sản. Đó là yếu tố đảm bảo chắc chắn cho sự trong sạch, vững mạnh của các đảng cộng sản để các đảng đủ sức làm tròn sứ mệnh tiên phong lãnh đạo cách mạng.

QUỐC TẾ CỘNG SẢN CÓ CÔNG LAO TO LỚN TRONG VIỆC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Ngay sau khi Ph. Ăngghen qua đời (năm 1895), các phần tử cơ hội, xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác đã lên nắm quyền lãnh đạo và lũng đoạn Quốc tế II (1889 - 1914), đòi “hạ bệ chủ nghĩa Mác”; muốn thay chủ nghĩa Mác bằng hệ tư tưởng tư sản. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền hệ tư tưởng phản động trong phong trào cộng sản và công nhân; đưa ra luận thuyết ảo tưởng “hòa bình giai cấp” và chủ trương “chủ nghĩa tư bản hòa bình nhập vào chủ nghĩa xã hội”. Nguy hiểm hơn, họ còn công khai đứng về phía giai cấp tư sản - kẻ thù của giai cấp công nhân, ủng hộ cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa, chống lại những người Bonsevich.
Năm 1919, Quốc tế Cộng sản ra đời đã đập tan những ảo tưởng đó của bọn cơ hội, xét lại. Những quan điểm tiến bộ, cách mạng, đứng vững trên lập trường mác-xít khoa học và cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã từng bước lấn át, đẩy lùi, khắc phục những quan điểm “lầm đường, lạc lối” của phái “tả khuynh”, cơ hội, xét lại; giảm bớt tác hại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Điều đó không những làm trong sạch phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển mới và đúng hướng của phong trào. Lịch sử ra đời và tồn tại của Quốc tế Cộng sản cũng đồng thời là lịch sử đấu tranh không ngừng nghỉ chống các phần tử cơ hội, xét lại dưới mọi màu sắc, để khẳng định, bảo vệ và phát huy những giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thực tiễn. Đó là công lao to lớn đầu tiên của Quốc tế Cộng sản.