Hiển thị các bài đăng có nhãn công nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2024

QUỐC TẾ II RA ĐỜI TRONG BỐI CẢNH PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ NHƯ THẾ NÀO?

 

Sau khi Công xã Pari năm 1871 thất bại, chủ nghĩa tư bản phát triển trong điều kiện tương đối hoà bình đã chuyển dần thành chủ nghĩa đế quốc. Phương Tây lúc này những cuộc cách mạng dân chủ tư sản đã cơ bản hoàn thành; Phương Đông cách mạng dân chủ tư sản chưa tới.

Phong trào công nhân thời kỳ này có bước phát triển mới về chất, số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân được tăng lên. Nhưng, đời sống vật chất, tinh thần của họ lại vô cùng cực khổ, tỷ lệ nghịch với sự phát triển kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản.

Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh, bãi công kinh tế trở thành một hình thức đấu tranh quan trọng của phong trào công nhân cùng với đấu tranh nghị trường, đấu tranh hợp pháp là hình thức đấu tranh mới của phong trào công nhân thời kỳ này.

Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân tạo cơ sở xã hội cho sự hình thành, phát triển nhiều tổ chức công đoàn ở các nước với các quy mô từ cấp ngành, địa phương đến liên ngành, toàn quốc với tập trung, thống nhất cao. Sự phát triển công đoàn là một trong những nhân tố trực tiếp thúc đẩy sự ra đời các đảng xã hội dân chủ ở châu Âu, là cầu nối các mối liên hệ giữa đảng xã hội dân chủ với giai cấp công nhân.

Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và sự thâm nhập lý luận cách mạng chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân đã dẫn đến sự ra đời hàng loạt các đảng xã hội dân chủ.

Nắm bắt được yêu cầu của phong trào công nhân quốc tế, Ph.Ăngghen đã đứng ra tổ chức thành lập Quốc tế II vào ngày 14 tháng 7 năm 1889 tại Hội trường Pêtơren ở Pari thủ đô của Pháp với 390 đại biểu của 20 nước tham dự, chủ yếu là các nước châu Âu, Mỹ và Achentina.

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2024

TẠI SAO NÓI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ LUÔN GẮN LIỀN VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CHỐNG CỘNG?

 Sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa chống cộng, bởi vì:

Thứ nhất, ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - vũ khí lý luận của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã bị các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá. Các học giả tư sản đã không từ bất cứ thủ đoạn nào để xuyên tạc, bóp méo và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin. Cơ sở tư tưởng của chủ nghĩa chống cộng là những học thuyết chính trị - xã hội phản khoa học, xuyên tạc lí tưởng cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa … Vì vậy, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của phong trào công nhân, phải không ngừng đấu tranh với các quan điểm, hành động sai trái, thù địch.

Thứ hai, đấu tranh chống chủ nghĩa chống cộng là một trong những điều kiện để phát triển lực lượng cách mạng, bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Mục tiêu của chủ nghĩa chống cộng là chống phá phong trào giải phóng dân tộc; vu khống, khiêu khích, phá hoại, chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế; duy trì chế độ tư bản chủ nghĩa. Theo đó là những chính sách phản động như bao vây, cấm vận, ám sát, lật đổ, đảo chính, khủng bố, xâm lược. Trong cuộc đấu tranh của phong trào công nhân, để thực hiện mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, xóa bỏ chế độ bóc lột, bất công, bất bình đẳng, tăng cường đoàn kết giai cấp công nhân các nước đòi hỏi phải đấu tranh kiên quyết với chủ nghĩa chống cộng.

Thứ ba, cùng với sự vận động, phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, chủ nghĩa nghĩa chống cộng luôn biến tướng, điều chỉnh, các chính sách, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc ngày càng thâm hiểm, xảo quyệt. Chủ nghĩa chống cộng lợi dụng sự khủng hoảng, thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đưa ra các học thuyết chính trị - xã hội phản động phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước.


ĐẶC TRƯ¬NG CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI TRONG PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ LÀ GÌ?

 

Một là, thể hiện lập trường trung dung, giấu mặt, nhưng thực chất là ngả theo lập trường tư sản và tiểu tư sản.

Chủ nghĩa cơ hội trong lý luận cũng như trong thực tiễn rất khó phát hiện. Những người theo chủ nghĩa cơ hội luôn tìm cách thích nghi với mọi phía, mọi phái, làm vừa lòng mọi bên. Họ thường tránh thể hiện lập trường của mình trước công luận. V.I.Lênin từng gọi một cách hình ảnh những phần tử cơ hội là “người ngồi giữa hai chiếc ghế” hoặc như “con rắn giữa hai dòng nước xoáy”.

Hai là, say sưa chiến thắng nhưng dễ dao động, ngả nghiêng và cuối cùng rơi vào cực đoan.

Trong cuộc đấu tranh những người cơ hội luôn tìm cách “hạ mình, núp sau giai cấp”, nhưng đến khi giành được thắng lợi họ sẵn sàng đánh đổi mọi thứ, bằng mọi cách để nhảy lên đài danh dự nhận thành tích chiến thắng. Những người cơ hội thiếu quan điểm dứt khóat trước những cuộc tấn công sống còn, họ luôn né tránh những quyết định có tính bước ngoặt của lịch sử. Họ lo sợ trước những kẻ mạnh, trước chủ nghĩa đế quốc, thiếu lòng tin ở quần chúng và ở chính bản thân mình.

Ba là, khi buộc phải bộc lộ quan điểm, chủ nghĩa cơ hội thường biểu hiện dưới hai hình thứccơ hội hữu khuynh và cơ hội tả khuynh.

Cơ hội hữu khuynh thường biểu hiện sự run sợ trước sức mạnh kẻ thù, không dám hành động, thiếu quyết đoán. Những người theo chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh thường rơi vào bảo thủ, muốn giữ nguyên mọi thứ, không dám va chạm, không muốn có sự đảo lộn, đổ vỡ, dù đó là những việc làm có lợi cho cách mạng. Hậu quả làm cho cách mạng dậm chân tại chỗ, thậm chí thất bại.

Cơ hội tả khuynh thường biểu hiện bằng sự nôn nóng, muốn đốt cháy giai đoạn, muốn hành động ngay để đạt mục đích mà không tính đến những điều kiện, hậu quả của nó. Những người theo chủ nghĩa cơ hội tả khuynh thường dễ phạm sai lầm, dễ nóng vội, bộc lộ lực lượng sớm làm cho lực lượng dễ bị tiêu hao, tiêu diệt, làm cho cách mạng thất bại, không đạt được mục đích, do không chớp được thời cơ, không tận dụng được tình thế cách mạng.

Cả hai hình thức chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh hay chủ nghĩa cơ hội tả khuynh đều sai lầm và thực tiễn cho thấy: Hai quan điểm trên không bài trừ lẫn nhau, mà sớm hay muộn họ cũng hợp nhất lại dưới ngọn cờ của chủ nghĩa chống cộng.

VÌ SAO NÓI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ LUÔN GẮN VỚI ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI - XÉT LẠI?

Quá trình hình thành, phát triển phong trào cộng sản và công nhân quốc tế luôn gắn liền với đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội - xét lại, chủ nghĩa chống cộng là một trong những vấn đề có tính quy luật, bởi vì:

Về khách quan, trong quá trình phát triển, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp đã thu nạp mọi thành phần trong xã hội vào đội ngũ của mình. Những tân binh đó chưa gột rửa được gốc rễ thành phần xuất thân nên bị lung lạc, lay chuyển và biến thành tay sai cho giai cấp tư sản. Do chính sách hai mặt của kẻ thù (cây gậy và củ cà rốt), dùng quyền lực để ép buộc, đàn áp và dùng lời lẽ để dụ dỗ, mua chuộc một bộ phận tầng lớp công nhân quý tộc, “cổ trắng, cổ cồn”, biến bộ phận này thành “kẻ đầy tớ giữ nhà” cho giai cấp tư sản, phá hoại phong trào cộng sản  và công nhân quốc tế.

Bên cạnh đó, trong những điều kiện lịch sử cụ thể, khi giai cấp tư sản còn đóng vai trò tiến bộ, chủ nghĩa tư bản phát triển trong điều kiện tương đối hoà bình, các hình thức đấu tranh nghị trường công khai, hợp pháp ít nhiều mang lại hiệu quả cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, làm cho một số lãnh tụ phong trào công nhân say sưa và tuyệt đối hoá những hình thức đấu tranh đó, dẫn đến vô tình hay hữu ý rơi vào những quan điểm tả, hữu khuynh trong quá trình lãnh đạo cách mạng và phải trả bằng những giá đắt.

Về mặt chủ quan: Trước hết là do các đảng cộng sản và công nhân đánh giá không đúng tình hình thế giới, khu vực, trong nước và âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, từ đó đưa ra đường lối lúc tả, lúc hữu làm tổn thất cho cách mạng. Trước những bước ngoặt của lịch sử, các đảng cộng sản và công nhân không nhận thức đúng để có chiến lược, sách lược kịp thời. Trong công tác xây dựng đảng không tuân thủ những nguyên tắc mác xít mà học thuyết xây dựng đảng kiểu mới của V.I.Lênin đã đề ra; sai lầm trong công tác tổ chức, cán bộ và sự rèn luyện, tu dưỡng của đội ngũ cán bộ, đảng viên không thường xuyên, nghiêm túc. Họ đã không gạt bỏ được những tàn dư tư tưởng tiểu tư sản, không chiến thắng được chính mình nên đã gục ngã trước cám dỗ và những viên đạn bọc đường của kẻ thù.

Về phía giai cấp công nhân, là cơ sở chính trị- xã hội của đảng cộng sản, nhưng do điều kiện cuộc sống, lao động vất vả, một bộ phận không được giáo dục chủ nghĩa  Mác - Lênin đầy đủ, không được giác ngộ sứ mệnh lịch sử của mình, bị kẻ thù mua chuộc, lôi kéo, chia rẽ, mất đoàn kết làm cho phong trào công nhân suy yếu và rơi vào các khuynh hướng cơ hội tả khuynh hoặc hữu khuynh.

Ngoài ra, bên cạnh góc độ tiếp cận trên, còn có phương pháp tiếp cận chủ nghĩa cơ hội - xét lại dưới từ nguồn gốc kinh tế, lịch sử và xã hội. Song, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì chủ nghĩa cơ hội - xét lại xuất hiện đều có nguồn gốc bên ngoài, bên trong; nguồn gốc khách quan và chủ quan của nó. Sự ra đời, tồn tại, phát triển của chủ nghĩa cơ hội - xét lại phản ánh tính chất đấu tranh gay go, quyết liệt giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản ngay trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Sự xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, xét lại và tác hại của nó đến đâu tùy thuộc vào sự phát triển phong trào cách mạng, của mỗi đảng cộng sản và công nhân ở những thời điểm lịch sử, cụ thể.


Thứ Hai, 27 tháng 5, 2024

TẠI SAO NGHIÊN CỨU MÔN LỊCH SỬ PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ PHẢI DỰA VÀO PHƯƠNG PHÁP LUẬN DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ DUY VẬT LỊCH SỬ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN?

 

Cũng như các môn học khoa học xã hội và nhân văn khác, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lấy phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận nghiên cứu. Bởi vì, chỉ có dựa vào phương pháp này mới cho phép nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện, lịch sử và cụ thể về quá trình phát sinh, hình thành, phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong suốt tiến trình lịch sử.

Như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội - cơ cấu do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại; cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử”1. Nghiên cứu lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phải quán triệt sâu sắc các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biên chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các sự kiện lịch sử về hoạt động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phải được xem xét dựa trên các điều kiện, hoàn cảnh khách quan, xem xét một cách toàn diện trong mối liên hệ với các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong cả tiến trình phát triển và từng giai đoạn cụ thể.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1995, tr. 523.

MÔN HỌC LỊCH SỬ PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ CÓ MỐI LIÊN HỆ VỚI MÔN HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI NHƯ THẾ NÀO?

 

Giữa môn học Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế với môn Lịch sử thế giới có mối liên hệ ràng buộc, gắn kết chặt chẽ với nhau. Trong đó, môn Lịch sử thế giới nghiên cứu tiến trình phát triển của xã hội loài người kể từ khi hình thành và phát triển cho đến ngày nay; phản ánh sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách khách quan từ xã hội nguyên thủy, xã hội cổ đại, xã hội trung đại cho đến xã hội hiện đại, trải qua các nền văn minh phát triển từ thấp đến cao, từ xã hội nông nghiệp đến xã hội công nghiệp.

Trong hệ thống kiến thức của khoa học lịch sử thế giới rất đa dạng, đề cập đến nhiều phương diện liên quan đến con người và xã hội loài người nói chung; trên cơ sở đó, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nghiên cứu chuyên sâu những lát cắt, các chiều cạnh xoay quanh quá trình ra đời của giai cấp công nhân, các đảng cộng sản và công nhân và những hoạt động của nó, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội liên quan đến phong trào công nhân, phong trào cộng sản quốc tế. Mặt khác, lịch sử thế giới cung cấp các tư liệu về hoàn cảnh lịch sử thế giới, khu vực và các nước về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa trong mỗi giai đoạn, thời kỳ xác định; thực trạng tình hình giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản; các quan hệ giai cấp; các nhân tố xã hội và thời đại, các sự kiện lịch sử quan trọng… là cơ sở khách quan, trực tiếp của sự phát triển phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, qua đó góp phần làm sâu sắc, phong phú thêm lịch sử thế giới.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA MÔN LỊCH SỬ PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ VÀ MÔN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CÓ GÌ GIỐNG VÀ KHÁC NHAU?

 

Giống nhau:

Môn Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều thuộc khoa học lịch sử, vì thế đối tượng nghiên cứu của hai môn khoa học này là quá trình hình thành, phát sinh, phát triển của những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những hoạt động chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các lực lượng cách mạng thế giới trong mối quan hệ với giai cấp bóc lột, trào lưu cơ hội, xét lại trên phạm vi quốc tế, cũng như từng quốc gia dân tộc trong những giai đoạn lịch sử nhất định, khẳng định tính thống nhất, khác biệt, tính muôn màu, muôn vẻ và tính phức tạp của nó.

Môn Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa nghiên cứu quá trình phát triển của các hiện tượng lịch sử theo một trình tự và nhiều mặt trong mối liên hệ với các sự kiện hiện tượng khác; đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện; xem xét các điều kiện xuất hiện và hình thành ra chúng. Đặc biệt, cả hai môn học này đều làm rõ quá trình ra đời, phát triển từ thấp đến cao các hiện tượng xã hội, chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến bộ, dưới tác động tích cực của các lãnh tụ cộng sản, các đảng cộng sản, đảng công nhân trong mối liên hệ đa diện với các lực lượng và trào lưu tư tưởng phi mác xít và đối lập.

Khác nhau:

Môn Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tập trung nghiên cứu những sự kiện lịch sử liên quan đến việc hình thành, phát sinh, phát triển về tổ chức và hoạt động của phong trào công nhân, phong trào cộng sản quốc tế, các cuộc vận động và các cuộc cách mạng vô sản điển hình, tiêu biểu trên phạm vi quốc tế; các hình thức liên hệ, quan hệ mang tính quốc tế của các đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân.

Còn môn Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa nghiên cứu quá trình phát sinh, hình thành, phát triển và tính quy luật sự hình thành, phát triển tư tưởng xã hội chủ nghĩa; phê phán, đấu tranh với những trào lưu tư tưởng phi mác xít, phản mác xít, tư tưởng đối lập để bảo vệ, phát triển những tư tưởng, lý luận mác xít, trở thành hệ tư tưởng khoa học và cách mạng dẫn dắt, soi đường giai cấp công nhân, nhân loại tiến bộ đấu tranh xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi thế giới.

PHƯƠNG PHÁP PHÂN CHIA CÁC GIAI ĐOẠN CỦA LỊCH SỬ PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ NHƯ THẾ NÀO?

 

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được phân chia theo phương pháp cơ bản sau: Một là, theo tiến trình lịch sử (lịch đại), phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được phân thành các giai đoạn phát triển tương ứng với các giai đoạn đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, gắn với tiến trình lịch sử thế giới. Hai là, theo tính chất, trình độ của phong trào, như phong trào đấu tranh mang tính tự phát hay tự giác, tính chất kinh tế, hay tính chất chính trị, tính độc lập về tư tưởng, chính trị và tổ chức, đỉnh cao là các cuộc cách mạng vô sản.

Việc phân loại theo lịch đại hay theo trình độ phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể và mang tính tương đối. Vì thế, không tuyệt đối hóa phương pháp phân chia nào, mà chỉ nên coi đó là phương pháp chủ yếu, cơ bản nhất.

Khi phân loại để nghiên cứu, cần chú ý đến các sự kiện quan trọng, đánh dấu bước trưởng thành, chuyển biến về chất của phong trào. Đây được coi là phương pháp phân chia thích hợp nhất và là cơ sở để tiến hành khảo sát, đánh giá sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ LÀ GÌ?

 

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là tập hợp những tổ chức, lực lượng và hoạt động của giai cấp công nhân quốc tế, các đảng cộng sản và công nhân cùng các lực lượng tiến bộ, dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến hành đấu tranh cách mạng chống chế độ áp bức, bóc lột, thực hiện lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới và các mục tiêu của thời đại hiện nay.

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là sự tập hợp có tổ chức những người cộng sản ưu tú, các đảng cộng sản, đảng công nhân, giai cấp công nhân và các tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân thế giới; xác định tôn chỉ, mục đích hoạt động, dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến hành đấu tranh chống chế độ áp bức, bóc lột, giành lấy lợi ích trực tiếp, trước mắt, cũng như lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến bộ và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Phong trào là sự gắn kết chặt chẽ giữa các tổ chức, các lực lượng có chung mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân thế giới, thực hiện sứ mệnh lịch sử giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng nhân loại thoát khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội cộng sản văn minh. 

Quá trình ra đời, phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế gắn với quá trình hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học; đồng thời dựa vào nền tảng tư tưởng ấy để thúc đẩy phong trào tiến lên, vì mục tiêu sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Mặt khác, sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân dẫn đến sự ra đời và phát triển các đảng cộng sản và các tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân thế giới, tiếp tục lãnh đạo phong trào công nhân đấu tranh vì các mục tiêu của thời đại.

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2020

DI SẢN VỀ TRÍ TUỆ CỦA PH.ĂNGGHEN TRONG VIỆC XÂY DỰNG LÝ LUẬN CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN

V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: “Từ ngày mà vận mệnh đã gắn liền Các Mác với Phri-đrich Ăng-ghen thì sự nghiệp suốt đời của hai người bạn ấy trở thành sự nghiệp chung của họ. Cho nên muốn hiểu Phri-đrich Ăng-ghen đã làm gì cho giai cấp vô sản thì phải nhận rõ ý nghĩa của học thuyết và hoạt động của Mác đối với sự phát triển của phong trào công nhân hiện đại”. Trong lĩnh vực này, Ph.Ăngghen là người đã cùng C.Mác và độc lập với C.Mác xây dựng thành công cả ba bộ phận cấu thành lý luận của giai cấp vô sản, gồm: triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học.

Về triết học, triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Với chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngoài những tác phẩm viết chung với C.Mác, những tác phẩm Ph.Ăngghen viết độc lập như “Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên”, “Lút vích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, v.v. đã để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc về thế giới quan duy vật biện chứng khi Ông khẳng định: Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất; thế giới thống nhất ở tính vật chất; vận động, không gian, thời gian là những phương thức tồn tại của vật chất; mọi vận động trong thế giới vật chất đều tuân theo những quy luật chung nhất, vốn có của nó như “Quy luật về sự chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng và ngược lại”, “Quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập”, “Quy luật về sự phủ định của phủ định”, v.v.  Ph.Ăngghen cũng là người đầu tiên đã vận dụng những quy luật này vào việc nhận thức sự vận động của giới tự nhiên, luận giải rõ mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên - con người - xã hội…

Với chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác phẩm “Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị” - công trình lớn đầu tiên của Ph.Ăngghen về kinh tế được viết trong năm 1843 và đầu năm 1844 - giữ vai trò rất quan trọng đối với quá trình hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong tác phẩm này, ngoài việc phê phán các nhà kinh tế học tư sản, Ph.Ăngghen đã nhìn nhận sâu sắc cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh, nội dung kinh tế và ảnh hưởng xã hội của nó. Tác phẩm cung cấp nhiều tư liệu quan trọng cho “Hệ tư tưởng Đức”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị - Lời tựa” và một số tác phẩm khác của C.Mác và Ph.Ăngghen sau này; trong đó “Hệ tư tưởng Đức” là tác phẩm viết chung của hai Ông, thể hiện những quan điểm duy vật mang tính nền tảng cho việc nhận thức lịch sử - xã hội. Theo đó, sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại của xã hội và tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đạt được quyết định trạng thái của xã hội; không phải ý thức quyết định đời sống của con người mà chính đời sống của con người quyết định ý thức của họ… Những tư liệu này được C.Mác hệ thống, khái quát thành tư tưởng cơ bản nhất quan điểm duy vật về lịch sử, thể hiện trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị - Lời tựa” của Ông là: Sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, sự phát triển này là quá trình lịch sử - tự nhiên, tuân theo những quy luật khách quan, trong đó trước hết và quan trọng nhất là quy luật về lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất, quy luật về cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng.

Sự hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đã xác lập một thế giới quan khoa học và một phương pháp luận khoa học, nó không chỉ giải thích thế giới mà còn là công cụ định hướng cho con người cải tạo thế giới.

Về kinh tế chính trị, Ăngghen đã cùng Các Mác xây dựng lên một học thuyết kinh tế mới, đem lại một cuộc cách mạng trong kinh tế học chính trị.

Từ những tác phẩm đầu tay của mình như “Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị”, “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh” cùng nhiều bài viết khác, Ph.Ăngghen đã vạch rõ sự khốn cùng của người lao động, kịch liệt phê phán kinh tế chính trị tư sản biện hộ cho hệ thống tư bản chủ nghĩa, từ đó Ông chỉ ra nguyên nhân sâu xa của những bất bình đẳng, bất công xã hội, nguyên nhân sâu xa của sự khốn cùng mà giai cấp công nhân và người lao động đang gánh chịu là chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, nhất là chế độ sở hữu tư sản. Chính những phát hiện ban đầu mang tính khoa học này của Ph.Ăngghen đã gợi mở cho Các Mác một hướng nghiên cứu mới về xã hội tư bản chủ nghĩa - hướng nghiên cứu chuyển từ triết học và luật học sang nghiên cứu kinh tế chính trị. Đúng như V.I.Lênin đã  nhận định: “Rõ ràng là mối quan hệ với Ăngghen đã thúc đẩy Mác bắt tay vào nghiên cứu chính trị kinh tế học, là khoa học trong đó những tác phẩm của Mác đã gây ra cả một cuộc cách mạng”. Cuộc cách mạng mà V.I.Lênin đề cập đến là sự ra đời của Học thuyết giá trị thặng dư - Học thuyết được coi là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lý luận về kinh tế chính trị của C.Mác vì nó đã phát hiện ra quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, làm sáng tỏ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Về chủ nghĩa xã hội khoa học - lĩnh vực “thể hiện về mặt lý luận của phong trào vô sản” được V.I.Lênin khái quát: “Có thể vắn tắt nêu công lao của Mác và Ăngghen đối với giai cấp công nhân như sau: hai Ông đã dạy cho công nhân tự nhận thức được mình và có ý thức về mình, và đã đem khoa học thay thế cho mộng tưởng”. Ngay trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” - văn kiện cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản khoa học do C.Mác và Ph.Ăngghen viết được công bố vào đầu năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ những quy luật phát triển của xã hội dẫn đến sự thay thế nhau của các phương thức sản xuất để luận chứng cho sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản, chỉ rõ những con đường xây dựng chế độ xã hội mới là chủ nghĩa cộng sản. Cũng trong chương này, các tác giả đã giải thích sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản với tư cách là lực lượng thực hiện cuộc cách mạng xã hội, để “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Với bản thân Ph.Ăngghen, có thể nói suốt cả cuộc đời, Ph.Ăngghen đã gắn bó chặt chẽ với giai cấp công nhân và phong trào công nhân từ tri thức, sự cảm thông, tấm lòng trung thành vô hạn và từ lập trường kiên định cách mạng của mình. Ngay cả khi ở trung tâm công nghiệp của Anh là Mansetxtơ, nơi Ph.Ăngghen đến một hãng buôn mà cha Ông có cổ phần, Ph.Ăngghen cũng không phải chỉ làm việc ở văn phòng mà Ông còn thường xuyên đi vào các khu phố bẩn thỉu - nơi công nhân sống chen chúc, thấy tận mắt sự khốn cùng và những nỗi khổ đau của họ.. Những chuyến đi này giúp Ph.Ăngghen trực tiếp nhận thấy nhu cầu bức thiết của một giai cấp bị áp bức, bị bóc lột tàn bạo nhất trong chủ nghĩa tư bản và phát hiện ra sức mạnh to lớn ở giai cấp này với tư cách là một một lực lượng xã hội đóng vai trò chủ đạo thực hiện cuộc cách mạng xóa bỏ mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng một xã hội mới vì sự phát triển của con người. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra một lực lượng bị buộc phải hoàn thành cuộc cách mạng ấy, nếu không sẽ bị diệt vong”, “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới …, - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

Nhìn nhận quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học, V.I.Lênin khẳng định: “Ăngghen là người đầu tiên đã nói rằng giai cấp vô sản không phải chỉ là giai cấp đau khổ, rằng chính địa vị kinh tế nhục nhã của giai cấp vô sản thúc đẩy, một cách không gì ngăn cản nổi, nó tiến lên và buộc nó phải đấu tranh cho sự giải phóng cuối cùng của nó. Và giai cấp vô sản đấu tranh sẽ tự mình giúp bản thân mình. Phong trào chính trị của giai cấp công nhân nhất định sẽ dẫn công nhân đến chỗ hiểu rằng đối với họ, không có lối thoát nào khác hơn là chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, chủ nghĩa xã hội chỉ sẽ là một sức mạnh, khi nó đã trở thành mục tiêu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân. Đó là những tư tưởng chủ chốt trong cuốn sách của Ăngghen viết về tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh”.

Có thể khẳng định rằng: Kho tàng lý luận định hướng cho giai cấp vô sản nhận thức và hoạt động được hình thành và phát triển trong thế kỷ XIX in rất đậm dấu ấn trí tuệ và tình cảm của Ph.Ăngghen, kể cả trong triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nghiên cứu toàn bộ kho tàng lý luận ấy, V.I.Lênin đã nhận định: Sau C.Mác, không ai khác, Ăngghen chính là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG

Điểm nổi bật thể hiện sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng lực lượng cách mạng trong toàn dân tộc. Trong quan niệm của C. Mác, Ph. Ăngghen, lực lượng cách mạng trong cách mạng vô sản là công nhân; từ sau Công xã Paris là công nhân và nông dân. Với V. I. Lênin, trong Cách mạng Tháng Mười Nga là công nhân, nông dân và binh lính, trong chủ trương thành lập xô viết trong công nhân, nông dân và binh lính. Với Hồ Chí Minh, từ sự phân tích xã hội Việt Nam, khi độc lập dân tộc bị cướp mất, thì cả dân tộc Việt Nam, bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp đều là người nô lệ, "vong quốc nô”. Trừ một số phản động, tay sai cho ngoại bang, tất cả mọi người dân Việt Nam đều có mâu thuẫn đối với sự cai trị của thực dân Pháp. Từ niềm tin về "hễ là người Việt Nam thì ai ai cũng ít nhiều đều có lòng yêu nước”, Người chủ trương xây dựng lực lượng cách mạng trong toàn dân tộc. Trong lực lượng cách mạng toàn dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định nòng cốt, chủ lực là công - nông và lao động trí óc (trí thức). Theo Người đó là những lực lượng trung kiên nhất của cách mạng, gan góc đấu tranh, không sợ hy sinh gian khổ. Từ lực lượng chủ lực, nòng cốt của cách mạng lôi cuốn toàn dân tộc tham gia cuộc đấu tranh giải phóng. Đó là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lực lượng cách mạng ở Việt Nam. 

Trong xây dựng lực lượng cách mạng, sáng tạo của Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong sự quan tâm xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là hai hai lực lượng chủ yếu tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng. Sự phối hợp chặt chẽ và bổ sung cho nhau của hai lực lượng đó tạo nên sức mạnh tổng hợp của khởi nghĩa giành chính quyền và chiến tranh cách mạng bảo vệ nền độc lập.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2019

GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO CÔNG NHÂN TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân là một nội dung quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, nhằm truyền bá lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những giá trị chuẩn mực đạo đức mới, kiến thức chuyên môn, kinh tế, lịch sử, truyền thống, văn hoá - xã hội cho công nhân lao động; thông qua  đó nâng cao kiến thức, xây dựng thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn và niềm tin cộng sản. Nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng phẩm chất, đạo đức cách mạng, trình độ năng lực hoạt động thực tiễn cho công nhân lao động giúp họ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao.
Bản chất của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của một đảng, một giai cấp, một tổ chức của quần chúng, nhằm giác ngộ nâng cao nhận thức tư tưởng của họ về quan điểm, đường lối chính trị, để quy tụ tập hợp quần chúng tham gia các quá trình đấu tranh cách mạng để giành và bảo vệ, thực thi quyền lực chính trị nhằm đáp ứng, thoả mãn các nhu cầu về lợi ích. Những lợi ích đó có thể là lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế... Trong đó, lợi ích kinh tế là mục đích sâu xa nhất, cốt lõi nhất phản ánh quan hệ đấu tranh giữa các giai cấp, nhưng lại được thể hiện ở mục tiêu trực tiếp trước mắt là lợi ích chính trị.
Trong tình hình hiện nay, việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng. Biểu hiện vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và phương châm giáo dục chính trị tư tưởng cho công nhân trên các nội dung đó là: Giáo dục chính trị, tư tưởng trực tiếp góp phần xây dựng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mới cho công nhân lao động; Giáo dục chính trị, tư tưởng góp phần xây dựng thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản cho công nhân lao động; Giáo dục chính trị, tư tưởng trực tiếp trang bị kiến thức, nâng cao năng lực thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, nhiệm vụ của người công nhân lao động; Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân góp phần đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng; Trong tình hình hiện nay, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho công nhân có nhiệm vụ ngày càng trở lên càng trở nên cấp thiết. Góp phần nâng cao vị thế, vai trò của công nhân nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng./.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

GIẢI PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

Thứ nhất, tổ chức đảng, tổ chức chính trị-xã hội phải thường xuyên chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ công nhân, người lao động.
Đây là một hoạt động quan trọng nhằm trực tiếp trang bị kiến thức, bồi dưỡng nhận thức, lập trường chính trị, góp phần hình thành bản lĩnh chính trị, ý thức chính trị cho giai cấp công nhân và người lao động. Nội dung tuyên truyền giáo dục tập trung vào giáo dục cho công nhân hiểu rõ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của lực lượng mình trong công cuộc đổi mới đất nước. Giáo dục, tuyên truyền những nội dung cơ bản về chủ trường, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước, nhất là những chính sách, quy định liên quan trực tiếp, sát sườn tới quyền lợi, lợi ích thiết thực của đội ngũ công nhân và người lao động. Đồng thời, cũng cần chú trọng đúng mức tới giáo dục truyền thống dân tộc, lịch sử hào hùng của dân tộc cho công nhân, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, trách nhiệm với vận mệnh của đất nước ở đội ngũ công nhân. Có nhiều chính sách khuyến khích, động viên, cổ vũ công nhân vươn lên trong lao động, sản xuất, kinh doanh, giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo tích cực làm giàu cho bản thân, quê hương, xây dựng đất nước giàu mạnh, hùng cường.
Thứ hai, tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho giai cấp công nhân.
Nhà nước cần có hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ và tương đối hoàn thiện để kịp thời điều chỉnh quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, bảo đảm cho họ có quyền tự chủ và tự do sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, có thu nhập tương xứng với công sức lao động bỏ ra. Hiện nay, vấn đề nơi ăn, chốn ở của đội ngũ công nhân và người lao động ở một số khu vực, doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, các điều kiện sinh hoạt không bảo đảm. Do đó, cần phải tiếp tục đầu tư, củng cố cải thiện về điều kiện sinh hoạt, điều kiện lao động cho công nhân. Theo đó, Nhà nước và các cấp chính quyền cần chủ động phối hợp với các doanh nghiệp, các cụm công nghiệp tiến hành đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân, thường xuyên hỗ trợ công nhân về đời sống sinh hoạt để họ yên tâm tập trung lao động, sản xuất. Bên cạnh đó, cũng cần phải quan tâm đúng mức tới xây dựng và không ngừng nâng cao đời sống văn hóa-tinh thần cho giai cấp công nhân. Bởi khi đời sống văn hóa-tinh thần của công nhân được nâng cao nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến sự hình thành, phát triển ý thức chính chị của họ. Muốn vậy, Nhà nước và các doanh nghiệp cần có các biện pháp hỗ trợ đảm bảo công nhân và người lao động có điều kiện tiếp cận với các nguồn sách, báo, tập chí, các phương tiện thông tin, đặc biệt cần thiết đầu tư các khu vui chơi, giải trí tại nơi sản xuất, có chế độ cụ thể và thường xuyên trong hoạt động thể thao, văn nghệ góp phần tích cực nâng cao mọi mặt đời sống cho người lao động.
Thứ ba, thúc đẩy nhanh chóng việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, hoàn thiện các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đội ngũ công nhân.
Hiện nay đang tồn tại một thực tế đáng buồn, đó là giới chủ (chủ yếu là người nước ngoài) đang tận dụng “bóc lột” quá mức đối với đội ngũ công nhân, người lao động ở những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là vấn đề gây ra không ít những bức xúc xã hội, trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống, làm suy giảm đời sống văn hóa, ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức chính trị của đội ngũ công nhân. Hiện nay, trong nhiều thỏa thuận lao động, trong nhiều tình huống có “trục trặc” xảy ra trong quá trình sản xuất thì phần lớn người phải chịu thiệt thòi vẫn là đội ngũ công nhân, người lao động làm thuê. Lý do là trong ký kết các thỏa ước lao động rất nhiều công nhân không được dân chủ tham gia đóng góp, hoặc khi ký kết thì quyền và lợi ích thường nghiêng hẳn về giới chủ… Do đó, Nhà nước cần sớm hoàn thiện về cơ chế, chính sách, buộc giới chủ phải cùng với người lao động tự nguyện ký kết thỏa ước lao động tập thể, chấm dứt tình trạng nhiều người lao động không được ký kết vào bản thỏa ước. Đặc biệt, cần phải có cơ chế, hình thức xử phạt nghiêm khắc với những người chủ nước ngoài mạt sát người lao động, xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm của họ. Bởi nếu không sớm chấm dứt các hiện tượng tiêu cực trên thì chắc chắn tâm tư, tình cảm và ý thức chính trị của người lao động nói chung và đội ngũ công nhân nói riêng ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng xấu.
Thứ tư, sớm xây dựng, hoàn thiện và kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng, tổ chức chính trị-xã hội, nhất là tổ chức công đoàn góp phần xây dựng, phát triển ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân.
Việc sớm xây dựng, kiện toàn các tổ chức ở đây chủ yếu muốn nói tới các doanh nghiệp ngoài nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bởi trên thực tế tại các doanh nghiệp này các tổ chức đảng, công đoàn thường ít phát huy được vai trò của mình trong đấu tranh, bảo vệ quyền lợi, lợi ích cho người lao động. Trên thực tế, các tổ chức chính trị- xã hội ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động hoạt động có chất lượng, hiệu quả rất thấp, thường bị giới chủ mua chuộc, lợi dụng, không phát huy được vai trò trong bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người lao động. Do vậy, Đảng và Nhà nước cần sớm có các chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với những cán bộ, viên chức thuộc các tổ chức chính trị-xã hội, để giúp họ yên tâm công tác, hết lòng với người lao động trong sản xuất và đấu tranh đảm bảo công bằng về quyền và nghĩa vụ. Đồng thời, Nhà nước nên sớm nghiên cứu, ban hành Luật Đình công, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu điều chỉnh và quản lý hoạt động đình công của người lao động hiện nay. Bởi đây là vấn đề đang diễn ra thường xuyên hiện nay, ảnh hưởng không nhỏ tới tâm tư, tình cảm và ý thức chính trị của giai cấp công nhân và người lao động.
Tóm lại, để xây dựng và phát triển ý thức chính trị cho giai cấp công nhân và người lao động trong thời buổi hiện nay cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức, ban ngành đoàn thể, sự quyết liệt của Đảng và Nhà nước trong ban hành, hoàn thiện chế độ, chính sách, văn bản pháp luật nhằm xây dựng khung pháp lý rõ ràng trong duy trì, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động. Đây cũng chính là “nhân tố” quan trọng để xây dựng và phát triển ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân hiện nay có chất lượng, hiệu quả.

Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

Ý thức chính trị thuộc phạm trù hình thái ý thức xã hội bao gồm những nét đặc trưng của ý thức xã hội nói chung. Theo đó, bao hàm những thái độ chính trị, tình cảm, tư tưởng chính trị hay lý luận chính trị của cộng đồng xã hội. Từ đó, có thể suy ra ý thức chính trị của giai cấp công nhân chính là những tình cảm, thái độ chính trị, quan điểm, tư tưởng chính trị, được hình thành, phát triển trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong quá trình đấu tranh giải phóng giai cấp, xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Ý thức chính trị trong quá trình hình thành, phát triển chịu sự tác động của nhiều điều kiện, hoàn cảnh đặc thù-trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội Xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, giai cấp công nhân vốn xuất thân chủ yếu từ nông thôn, nông nghiệp nên chịu chi phối nặng nề bởi những tập quán, sản xuất manh mún, tự phát, thái độ tự ti, tư tưởng bảo thủ, ngại thay đổi… Đây thực sự là những “rào cản” lớn, gây khó khăn trong quá trình xây dựng, nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân trong tình hình mới của sự nghiệp cách mạng.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay (năm 1986), nhìn chung đại bộ phận giai cấp công nhân Việt Nam có ý thức chính trị, nhận thức tương đối rõ về vị trí, vai trò của lực lượng mình đối với công cuộc đổi mới đất nước, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Giai cấp công nhân đã nhận thức sâu sắc được vai trò nòng cốt của lực lượng mình trong công cuộc kiến thiết đất nước, đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng. Không những thế, đa số công nhân đều tỏ rõ thái độ tự hào, trận trọng những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước và xu thế mở cửa hội nhập; tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng nước nhà.
Tuy nhiên, trong thời buổi tình hình trong nước, khu vực và thế giới luôn có sự biến động phức tạp khó lường về tình hình kinh tế, chính trị như hiện nay, nhất là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã khiến cho một bộ phận không nhỏ công nhân biểu hiện tư tưởng dao động, hoài nghi, thiếu tin tưởng vào công cuộc đổi mới đất nước, sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trong ý thức chính trị của giai cấp công nhân hiện nay còn có những biểu hiện yếu kém, hạn chế, cụ thể như: không ít công nhân chưa nhận thức đúng vị trí, vai trò của mình trong thời đại mới, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; một bộ phận công nhân nhận thức rằng, giai cấp mình không còn giữ vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn hiện nay; một số công nhân thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, khả năng quản lý của Nhà nước. Nhiều công nhân tỏ ra thiếu tin tưởng vào vị trí, vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ lợi ích cho mình; không ít công nhân nắm không vững các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền lợi, lợi ích của lực lượng mình; một bộ phận không nhỏ công nhân ít hiểu biết về đặc điểm, tình hình thế giới, thiếu tin tưởng vào tiền đồ của chủ nghĩa xã hội, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; một số khác lại ít quan tâm, tỏ ra kém hiểu biết về lịch sử dân tộc, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới đất nước; ngoài ra, có một số ít công nhân thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức, tay nghề, quá coi trọng giá trị vật chất, sống buông thả, chạy theo dục vọng và tiền tài… tất cả những vấn đề trên cho thấy một bộ phận không nhỏ của giai cấp công nhân đã và đang có sự yếu, kém về ý thức chính trị, không nhận thấy rõ vị trí, vai trò sứ mệnh của mình, từ đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, suy giảm tinh thần đấu tranh cho mục tiêu mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, song những nguyên nhân trực tiếp, quan trọng làm suy giảm ý thức chính trị của một bộ phận không nhỏ công nhân hiện nay phải kể đến như: sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và của lực lượng sản xuất ở các nước tư bản, sự khủng hoảng hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới gây ra sự dao động trong ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta; trong quá trình phát triển nền kinh tế trí thức ở nước ta, vấn đề tri thức hóa, trí tuệ hóa lao động ngày càng có xu hướng tăng lên, vai trò của trí thức được coi trọng, chính điều này đã phần nào tác động đến nhận thức của bộ phận công nhân tay nghề thấp; thực tiễn đời sống sinh hoạt tinh thần và vật chất của công nhân ở nhiều doanh nghiệp còn thấp kém, cường độ lao động tăng cao, dẫn tới một số nhận thức sai lệch, việc đáp ứng các nhu cầu văn hóa của công nhân cũng hạn chế; các tệ nạn xã hội tiêu cực, sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức xã hội, suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên cũng là yếu tố tác động xấu đến tình cảm, thái độ, quan điểm, tư tưởng của giai cấp công nhân hiện nay…
Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng “nòng cốt” trong công cuộc đổi mới đất nước, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Họ cũng là lực lượng tiên phong, “chủ công” của sự nghiệp cách mạng nước nhà, đảm nhiệm vai trò “sứ mệnh” lịch sử của mình với dân tộc-xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Để đảm nhiệm được vị trí, vai trò quan trọng đó, “đủ sức” thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của dân tộc đòi hỏi giai cấp công nhân Việt Nam phải thường xuyên được xây dựng và phát triển vững mạnh về ý thức chính trị, góp phần hình thành bản lĩnh, lập trường kiên định, nguyện trung thành với mục tiêu và con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

PHẢI CHĂNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY KHÔNG CÒN SỨ MỆNH LỊCH SỬ?

Không phải như vậy. Một câu trả lời dứt khoát cho những quan điểm sai trái, phản động.
Bởi lẽ, sự vận động tất yếu của lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua chính là bằng chứng chân thật để phủ nhận tuyên bố đó. Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn tồn tại và ngày càng phát triển trong cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.
Ngược dòng lịch sử, việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là công lao của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, năm 1917, cùng với sự phát triển phong trào cách mạng thế giới thế kỷ XX đã chứng minh một tất yếu không thể phủ nhận vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân: Xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Trong khi đó, bước vào đầu thập niên 1970, thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã có những bước phát triển mới do tận dụng được những thành tựu mới của cách mạng khoa học - công nghệ vào phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhưng bản chất bóc lột giá trị thặng dư của người lao động làm thuê trong nền sản xuất tư bản không hề thay đổi và ngày càng khắc nghiệt hơn, làm cho giai cấp công nhân ngày càng bần cùng hóa cùng với mỗi bước phát triển của chủ nghĩa tư bản. Do vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản cũng bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời chống lại “sự bóc lột công nhân, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn” của giai cấp tư sản.
Hiện nay, thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng học thuyết Mác vẫn sáng ngời, khẳng định giá trị của nó trong nhận thức chủ nghĩa tư bản hiện đại. Với niềm tin vững chắc vào tính tất yếu thắng lợi của sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đảng ta đã chỉ rõ “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới từ những thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra những bước phát triển mới, theo quy luật tiến hóa của lịch sử loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

NHẬN DIỆN DIỄN BIẾN HÒA BÌNH ĐỐI VỚI GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY

Đất nước ta đang trong cuộc tiến hành CNH, HĐH và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa -xã hội… Đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt - nhất là đời sống văn hóa của công nhân. Nhưng các thế lực, thù địch lợi dụng lợi dụng ở một số doanh nghiệp, công đoàn chưa làm tròn nhiệm vụ đại diện, bảo vệ lợi ích công nhân, lao động để công kích, bóp méo, xuyên tạc, kích động để chống phá Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Nội dung "diễn biến hòa bình" và tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch đối với giai cấp công nhân, tập trung vào một số nội dung chính sau đây:
1. Chúng phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH về đảng cầm quyền, cho rằng Hồ Chí Minh thích chiến tranh, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện; tiếp thu học thuyết Mác - Lênin một cách mù quáng...
2. Ở Việt Nam, công nghiệp chưa phát triển, số lượng, chất lượng công nhân hạn chế. Đảng Cộng sản Việt Nam không thể là Đảng của giai cấp công nhân được, vì trong Đảng có rất ít công nhân nên Đảng không mang tính chất giai cấp công nhân mà mang đậm tính chất nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. Với những điều kiện như vậy, giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo xây dựng CNXH được.
3. Để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, các thế lực thù địch đã đưa ra các luận điệu như: giai cấp công nhân bị hạn chế về trình độ học vấn, lãnh tụ của giai cấp công nhân có trình độ học vấn không cao nên có chăng chỉ có thể lật đổ xã hội cũ chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp.
4. Các thế lực phản động còn ra sức tuyên truyền, đề cao vai trò của đội ngũ trí thức trong thời đại hiện nav, thời đại ngày nay là thời đại của khoa học và công nghệ, của nền văn minh trí tuệ, cho nên chỉ có trí thức mới là lực lượng đủ sức lãnh đạo xã hội, lực lượng tiên phong của mọi cuộc cách mạng xã hội. Đó là quan điểm không đúng cả về khoa học và thực tiễn.
Trên đây là một số thủ đoạn âm mưu của các thế lực thù địch  dùng chiêu bài “DBHB” đối với giai cấp công nhân Việt Nam để tiến hành các hoạt động phá hoại sự nghiệp phát triển của đất nước. Vì vậy, đối với mỗi người dân đất Việt, đặc biệt là các bạn trẻ khi tham gia vào không gian mạng cần phải nêu cao cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh lật tẩy những mưu đồ đen tối, những kẻ đeo mặt nạ trá hình trước ánh sáng công lý và pháp luật. Đồng thời phải tỉnh táo nhận biết trước các thông tin, các luận điệu, thủ đoạn trên của những kẻ phá hoại. Mỗi chúng ta hãy là một người thông thái và có trách nhiệm khi tham gia không gian mạng!

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY ĐANG BỊ “TEO ĐI” CÓ PHẢI KHÔNG?

Như chúng ta đã biết: Ngày nay trong điều kiện mới, khoa học công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, giai cấp công nhân không chỉ bao gồm những người lao động chân tay mà còn cả trong các lĩnh vực khác.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức lao động thế giới (ILO) cho thấy: Năm 1900, trên thế giới mới có 80 triệu công nhân, năm 1990 có 615 triệu thì đến năm 2003 con số đó đã lên đến 800 triệu người. Hiện nay công nhân có khoảng 1,2 tỷ người. Như vậy, GCCN vẫn liên tục phát triển chứ không "teo" đi. Cùng với sự biến đổi về cơ cấu và thành phần, trong nội bộ GCCN cũng nảy sinh sự phân hóa không chỉ về thu nhập, mức sống, mà còn cả về lập trường, quan điểm chính trị do thay đổi nhu cầu về lợi ích, quan niệm, hệ giá trị. Điều này đặt ra những vấn đề mới cần phải giải quyết cho các Đảng Cộng sản, đồng thời xuất hiện xu hướng nổi bật - sự đa dạng của các hình thức đấu tranh mới của GCCN.
Tuy cơ cấu GCCN biến động mạnh mẽ, nhưng nó không xóa bỏ sự phân chia cơ bản về giai cấp xã hội trong chủ nghĩa tư bản – bán sức lao động vẫn là phương thức tồn tại của GCCN hiện đại. Đồng thời, GCCN vẫn luôn là người trực tiếp sản xuất, tham gia vào quá trình tạo ra những giá trị vật chất, những của cải to lớn của xã hội hiện nay, bao gồm những người lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, những nhà nghiên cứu, sáng chế, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ phục vụ cho sản xuất, những kỹ sư, kỹ thuật viên. GCCN có mặt trong các ngành kinh tế: Công nghiệp, Nông nghiệp, Lâm nghệp, Ngư nghiệp, Giao thông vận tải, trong đó công nhân công xưởng, nhà máy sản xuất công nghiệp hiện đại là bộ phận nòng cốt.
Trong giai đoạn hiện nay, GCCN vẫn đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ sản xuất. Họ vẫn là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử xã hội quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, với sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Như vậy, nhiều người khi hiểu về GCCN, họ quan niệm công nhân là người lao động chân tay, là người làm việc trong nhà máy, xí nghiệp, vất vả, "lấm lem". Đó là cách hiểu sai, hoặc chưa đầy đủ về GCCN hiện đại, và cũng là lý do khiến họ nghĩ rằng GCCN hiện nay đang bị "teo" đi./.

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

CỐNG HIẾN LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG VIỆC KẾT HỢP CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỚI PHONG TRÀO CÔNG NHÂN VÀ PHONG TRÀO YÊU NƯỚC

V. I.Lênin đã nói, ở các nước tư bản phát triên, Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân.Còn ở Việt Nam, trong điều kiện một nước nông nghiệp, thuộc địa, nửa phong kiến, công nghiệp chưa phát triển, vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam đã ra đời, nhưng còn rất nhỏ bé (theo Nguyễn Ái Quốc, vào khoảng 2% dân số), làm thế nào để xây dựng một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân?
Bằng kinh nghiệm đã qua của bản thân mình: từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến một sáng tạo lớn: đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước để từng bước đi đến thành lập Đảng. Ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp những thanh niên yêu nước, giàu nhiệt huyết, có chí khí cách mạng…; mở các lớp huấn luyện chính trị, trang bị cho họ những kiến thức cơ bản về lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, về lịch sử phong trào cách mạng thế giới, về đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam,… rồi đưa họ về nước, đi vào phong trào công nhân, thực hiện “vô sản hóa” về tư tưởng và nếp sống, vừa tự rèn luyện trong thực tế, vừa tuyên truyền, giác ngộ quần chúng lên đấu tranh. Như vậy,  Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện được sứ mệnh là người gieo những hạt giống của chủ nghĩa Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội trên mảnh đất của chủ nghĩa yêu nước đã được chuẩn bị sẵn.
Chỉ trong thời gian ngắn từ những năm 1929, đến đầu 1930 đã xuất hiện ba tổ chức cộng sản, dù họ có tranh luận, chỉ trích nhau gay gắt nhưng với sự xuất hiện kịp thời của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thống nhất lại thành một đảng duy nhất. Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước dẫn đến việc thành lập Đảng ta là một cống hiến lịch sử, một sáng tạo độc đáo, có giá trị đóng góp vào lý luận xây dựng chính đảng giai cấp công nhân ở những nước thuộc địa và phụ thuộc có hoàn cảnh tương tự như nước ta.

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY

Hiện nay, mặc dù thế giới có nhiều thay đổi, tiềm ẩn những bất trắc, khó lường, nhưng những tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân sống mãi
Giai cấp công nhân đã, đang biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu cả số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, nhưng địa vị kinh tế - xã hội của họ không hề thay đổi. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự hiện diện ngày càng lớn của kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, quốc tế hóa... đã làm thay đổi sâu sắc các yếu tố nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng: Nếu vào cuối thế kỷ XIX số lượng công nhân trên thế gới chỉ có khoảng trên 10 triệu thì đến đầu thế kỷ XX là 119 triệu, đến cuối thế kỷ XX đã tăng lên đến trên 660 triệu và đến năm 2003 số lượng GCCN khoảng trên 800 triệu, đến nay số lượng công nhân chắc chắn cao hơn thế. Kết cấu giai cấp công nhân cũng có những biến động: tỷ trọng công nhân trong tổng số lao động chung của xã hội tăng lên; cơ cấu trong giai cấp công nhân có thay đổi, tỷ lệ công nhân trong ngành dịch vụ, công nghệ cao ở Mỹ hơn 71%, Nhật hơn 59%, Đức hơn 58%, Anh hơn 69%, Pháp hơn 66%.
Chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng phát triển nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có không những không được khắc phục mà còn tăng lên, chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay thế bằng CNXH, chủ nghĩa cộng sản. Các mâu thuẫn cơ bản trong chủ nghĩa tư bản biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc với những nước phụ thuộc ngày càng tăng lên. Đặc biệt, sự tích tụ tư bản với một khối lượng khổng lồ đang ngày càng tập trung vào tay một số ít các nhà tư sản, là điều kiện cho phép các nhóm tư bản và cá nhân thu được lợi nhuận kếch sù. Ở nhiều nước tư bản, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800%. Ở Mỹ, 1% người giàu nhất đã làm chủ 40% tài sản, trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ. Năm 2011, tại Liên minh châu Âu có 120 triệu người sống trong cảnh nghèo đói. Tổ chức phi chính phủ Oxfam có trụ sở tại Anh, ngày 12 tháng 9 năm 2013 cảnh báo, tới năm 2015, sẽ có thêm 25 triệu người châu Âu rơi vào cảnh đói nghèo. Thực chất sự phát triển của chủ nghĩa tư bản những năm qua chỉ hướng tới phục vụ cho một bộ phận giàu có nhất. Chính điều đó đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gây gắt, làm bùng phát nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân và người lao động chống lại giới chủ tư sản với quy mô rộng khắp. Khởi nguồn là từ “phố Wall” - trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất nước Mỹ (nổ ra vào ngày 14 tháng 9 năm 2012), sau đó, lan rộng ra hàng chục thành phố của Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu để phản đối các biện pháp khắc khổ và tỉ lệ thất nghiệp, đói nghèo đang ngày càng gia tăng. Sự phản kháng xã hội mạnh mẽ càng làm bộc lộ bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Khẩu hiệu “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. Sự thật này một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững của chủ nghĩa tư bản. Đúng như Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao độngtài nguyên.
Mặc dù, hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển, đời sống của giai cấp công nhân và người lao động đã được cải thiện, một bộ phận công nhân đã là chủ nhân của một số lượng cổ phiếu nhất định trong công ty và trở thành tầng lớp trung lưu trong xã hội. Đó là kết quả của các cuộc đấu tranh quyết liệt liên tục, bền bỉ của chính bản thân giai cấp công nhân và người lao động chống lại sự quản lý hà khắc và sự áp bức, bóc lột của giới chủ trong suốt nhiều thế kỷ. Nhưng so với tỷ suất bóc lột và những món lợi nhuận kếch xù mà giai cấp tư sản có được thì sự điều chỉnh về chế độ phúc lợi xã hội, an sinh xã hội tiến bộ cho công nhân và người lao động cũng vô cùng nhỏ bé, chỉ tựa như giọt nước trong đại dương lợi nhuận mà nhà tư bản thu được. Suy cho cùng những điều chỉnh của giới chủ theo hướng thỏa mãn ngày càng nhiều hơn những đòi hỏi chính đáng của giai cấp công nhân và người lao động cũng trước hết là vì lợi ích của chính giai cấp tư sản. Sự điều chỉnh, thích nghi chỉ làm dịu đi những mâu thuẫn xã hội, chứ không làm thay đổi bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện ở mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản vẫn tồn tại và ngày càng gay gắt, tất yếu chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ bị CNXH, CNCS thay thế trong tương lai.
Hiện nay, các nước XHCN còn lại không những không bị sụp đổ mà còn đổi mới, cải cách thành công và tiếp tục vững bước đi lên CNXH. Thành công của công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam, cải cách kinh tế ở Lào, kết quả bước đầu của chính sách “cập nhật hoá mô hình kinh tế” ở CuBa,... đã đưa các nước này không chỉ vượt qua được giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, mà còn tạo được những bước đột phá phát triển, là những bằng chứng rõ ràng về sự phục hồi của CNXH.
Đồng thời, sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh trong gần hai thập niên qua là bằng chứng sống động về sự bền bỉ của lý tưởng XHCN. Rõ ràng, mặc dù con đường đi lên CNXH đã và đang trải qua những khó khăn, thử thách, nhưng “theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”. Chủ nghĩa xã hội là hiện thực sinh động, tương lai tươi sáng của nhân loại tiến bộ đang nỗ lực hướng tới...
Trung thành với học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn kiên định với con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên đã lập nên những kỳ tích vẻ vang. Hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Giai cấp công nhân Việt Nam thực hiện đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu lịch sử. Cương lĩnh (bổ sung phát triển) năm 2011 của Đảng, Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước và nhiều văn kiện các Đại hội Đảng đã khẳng định "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động". Sự khẳng định đó phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam qua hơn 85 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên phải kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, xuất hiện trên mạng internet và một số ấn phẩm in, tán phát những quan điểm sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin để từ đó phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong giai đoạn hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mang tính cấp bách, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của chế độ, của dân tộc ta. Vì lý do thứ nhất là, từ vai trò quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Thứ hai, thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề rất mới đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để nó thực sự theo kịp đòi hỏi của cuộc sống mới, công cuộc xây dựng xã hội mới. Thứ ba, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch điên cuồng tiến công chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho Đảng ta “biến chất” chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Nhận diện và đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái không chỉ là trách nhiệm của Đảng ta mà cũng là trách nhiệm của mỗi cán bộ đảng viên, của mỗi nhà khoa học và mỗi giảng viên làm công tác giảng dạy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh...

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam đối với nhiệm vụ đấu tranh, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ bản chất cách mạng, khoa học và vận dụng sáng tạo của các nguyên lý cách mạng vào thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam trong sạch vững mạnh cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức để bảo đảm ngang tầm với yêu cầu lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Thường xuyên đổi mới công tác lãnh đạo mọi mặt của đời sống xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội để đạt nhiều thành tựu trên thực tế. Đồng thời, từ thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta trước đây và trong gần 30 năm đổi mới để bổ sung, phát triển các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với điều kiện mới. Tăng cường giáo dục chính trị xã hội cho cán bộ, đảng viên và cho công nhân có chiến lược vũ trang tư tưởng cho toàn dân để phòng chống đòn phản công của các thế lực thù địch muốn thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tự diễn biến và tự chuyển hóa trong nội bộ nhân dân ta. Trực tiếp lãnh đạo và tập hợp các lượng xã hội tham gia cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận vạch trần mục đích chính trị và bản chất phản khoa học và vô hiệu hóa những luận điểm sai trái để giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng ta.