Hiển thị các bài đăng có nhãn lấy dân làm gốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lấy dân làm gốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 5, 2021

“ĐƯỢC NƯỚC" LÀ BỞI “ĐƯỢC LÒNG DÂN”

Cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp vừa diễn ra thắng lợi, thực sự là ngày hội của toàn dân. Thành công của bầu cử tiếp tục chứng minh sức mạnh vĩ đại của nhân dân, nhân dân chính là người làm nên lịch sử và Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa xuất sắc bài học “lấy dân làm gốc” đã được cha ông ta tổng kết trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.

Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm qua, ông cha ta đã kiên cường đối chọi với nhiều kẻ thù hung bạo mạnh hơn mình gấp nhiều lần để giữ vững toàn vẹn chủ quyền quốc gia, lãnh thổ và để lại giang sơn gấm vóc cho con cháu hôm nay. Cũng bởi hàng nghìn năm phải chống chọi với ngoại xâm đô hộ, với thiên tai khắc nghiệt, cha ông chúng ta đã thấu hiểu một chân lí rằng sức mạnh vĩ đại nhất để chiến thắng kẻ thù, để khắc chế thiên tai chính là sức mạnh của lòng dân chứ không phải ở vũ khí tối tân hay ở thành cao, hào sâu, lũy dày…

Các anh hùng dân tộc, những cá nhân kiệt xuất trong lịch sử là những người đầu tiên thấy được vai trò của nhân dân trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Họ đã sớm nhận thấy vai trò của cá nhân anh hùng và quần chúng nhân dân gắn bó với nhau mật thiết, thống nhất lại thành một sức mạnh quyết định sự phát triển của lịch sử, như Nguyễn Trãi đã kết luận: “Lật thuyền mới biết sức dân như nước” cho nên “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, cùng với đó, triều đình cần phải có những chính sách đối nội, đối ngoại hợp lòng dân. Khi được vua Lê Thái Tông sai soạn lễ nhạc cung đình (nhã nhạc), Nguyễn Trãi tâu, xin nhà vua hãy chăm dân “Sao cho khắp thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận oán sầu” và ông cho rằng, đó chính là “gốc của nhạc”.

Thế kỷ thứ XIII, vó ngựa của quân Mông - Nguyên dày xéo, xâm chiếm hầu như khắp các châu lục thì quân dân Đại Việt nhà Trần đã 3 lần buộc đội quân hung bạo ấy phải dừng chân. Tổng kết cả 3 lần chiến thắng ấy, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã đúc kết đó là chiến thắng của “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước giúp sức”. Vì vậy, theo ông "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc ” là “thượng sách giữ nước” phải gắn bó với nhân dân và phát huy sức mạnh của nhân dân, phải coi trọng sức mạnh của cộng đồng.

Nguyễn Bỉnh Khiêm kế thừa tư tưởng thân dân của dân tộc, có cuộc sống gắn bó với nhân dân nên tư tưởng trị nước của ông có nội dung lấy dân làm gốc. Ông chỉ ra rằng: “Cổ lai quốc dĩ dân vi bản. Đắc quốc ưng tri tại đắc dân” (Xưa nay nước lấy dân làm gốc. Được nước nên hay bởi được dân.)

Từ xưa đến nay dân bao giờ cũng là gốc của nước, có dân mới có nước, có nước mới có vua, ý dân là ý trời, được lòng dân là được lòng trời. Lòng dân là yếu tố quyết định sự thịnh suy, tồn vong của vương triều. Trong nước, khi chính sự khắc nghiệt, thuế khóa nặng nề, quan lại tham nhũng, trăm họ phiêu bạt, dân tình đói khát khiến lòng dân bất an chính là cái thế nguy hiểm cho vương triều. Tuy nhiên, làm thế nào để có dân làm gốc là vấn đề không phải lúc nào người cầm quyền cũng có thể thực hiện được. Dưới chế độ tư hữu phong kiến, lợi ích vật chất gắn liền với địa vị, điều đó đã làm cho các bậc vua chúa, tầng lớp quan lại lợi dụng chức quyền, vơ vét của cải để làm giàu. Khái quát lịch sử, Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên nhà cầm quyền: không được tham lam; đừng vì tiền bạc mà mất lòng dân; phải quan tâm đến dân. Lê Thánh Tông quan tâm đến nhân dân thông qua chủ trương “quả dục”. “Quả dục” là phải tu dưỡng sao cho ít tham vọng cá nhân để khỏi làm hại đến lợi ích của dân, của nhà nước phong kiến.

Nhìn lại lịch sử, nhà Hồ là triều đại phong kiến đã xây dựng được đội quân đông đảo nhưng đây cũng là triều đình đã để nước Việt mất về tay quân thù nhanh nhất. Sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đặc biệt chú trọng đến việc tổ chức lại quân đội, mở xưởng rèn đúc vũ khí, đóng tàu thuyền, xây đắp hệ thống thành lũy, củng cố các nơi hiểm yếu để phòng thủ đất nước. Tuy nhiên, khi nhà Minh tiến hành xâm lược nước ta (1406), chưa đầy một năm chống giặc, mặc dù nhà Hồ đã có nhiều cố gắng xây thành cao, hào sâu, sản xuất nhiều vũ khí,.. để chống lại kẻ thù nhưng vẫn bị thất bại. Lấy được ngôi từ nhà Trần, nhà Hồ đã để mất lòng dân khi không dựa vào sức mạnh của nhân dân để chống giặc mà lại ỷ vào thành cao, hào sâu. Vì vậy, trong suốt cuộc chiến đấu ngắn ngủi ấy, “Nhà Hồ đánh giặc một mình” (Nguyễn Trãi). Dẫu nhà Hồ có thành cao hào sâu, có vũ khí tối tân là súng thần công thì cũng không thể ngăn được quân thù. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng - con trai cả của Hồ Quý Ly cũng nhận ra điều này, khi cay đắng mà thừa nhận “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Thua trận rồi mới hiểu cái gì là gốc, cái gì là ngọn, nguyên nhân thất bại của nhà Hồ chính là không được lòng dân, như Nguyễn Trãi đã đánh giá rất sâu sắc: “Vì họ Hồ chính sự phiền hà, để đến nỗi lòng người oán hận”.

Từ bài học thành công cũng như thất bại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, trong mọi hoạt động, người lãnh đạo phải quán triệt sâu sắc quan điểm dân là gốc, khơi dậy sức sáng tạo, sự ủng hộ của nhân dân, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

Ý thức sâu sắc về vai trò của nhân dân trong lịch sử, về bài học lòng dân là nhân tố quyết định thành công của cách mạng, với quan điểm chắc chắn về sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra vai trò là gốc, là chủ cách mạng của nhân dân, nó được thể hiện trong tất cả các mặt: trong lao động sản xuất, trong sáng tạo ra các giá trị văn hoá và tinh thần, trong đấu tranh cách mạng. Vì thế, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ phải luôn luôn gần gũi nhân dân, dựa vào lượng vô cùng tận của nhân dân, như lời Người đã dạy: “Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”, bởi vậy "Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh".

Những năm gần đây, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã giúp cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý xây dựng được phong cách làm việc ngày càng “gần dân, hiểu dân, hỏi dân” hơn. Phần lớn cán bộ lãnh đạo quản lý đã nhận thức rõ được vị trí, vai trò làm chủ của nhân dân, phát huy dân chủ, chú trọng chăm lo đời sống cho nhân dân, ý thức vì dân, tôn trọng nhân dân của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể có chuyển biến rõ nét. Nhiều người đứng đầu các tỉnh, thành phố, quận, huyện trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với dân, tháo gỡ nhiều vướng mắc. Các địa phương đồng loạt vào cuộc với tinh thần cải cách mạnh mẽ.

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo quản lý bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trong cách làm việc với nhân dân. Những hạn chế, yếu kém này đã được Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ chỉ rõ: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở; rồi “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.”

Với quan điểm "lấy dân làm gốc", dân làm nên thắng lợi vĩ đại của các cuộc cách mạng, dân xây dựng và bảo vệ đất nước, dân xây dựng Đảng… kể từ khi ra đời, Đảng ta đã luôn thấu suốt và vận dụng bài học ấy trong suốt hơn 90 năm qua, nó trở thành quan hệ máu thịt, sự sống còn của Đảng và của dân tộc. Bài học lòng dân - vận nước cần phải được khắc sâu, ghi nhớ, phát huy và giữ gìn trên cơ sở Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh, phải vì dân, vì nước. Biết lấy dân làm gốc Đảng sẽ trường tồn, đất nước sẽ thịnh vượng, nhân dân hạnh phúc.

Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, bài học về sức mạnh của lòng dân vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay để các tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở cần phát huy dân chủ rộng rãi, thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” gắn với tăng cường kỷ cương, pháp luật. Đặc biệt, để nhân dân tin Đảng, đi theo Đảng cần phải lựa chọn và xây dựng được đội ngũ cán bộ thật sự tài năng, tâm huyết; phải chống được quan liêu, tham nhũng, lãng phí thì mới góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” CỦA HỒ CHÍ MINH

Từ sự trưởng thành trong tư duy lý luận và sự kiểm chứng trên thực tế, các Đại hội Đảng trong thời kỳ Đổi mới đều khẳng định bài học: Đổi mới phải luôn quán triệt tư tưởng “Lấy dân làm gốc”; phải thực sự dựa vào dân, vì lợi ích của dân. Đảng muốn đồng hành và lãnh đạo dân thì Đảng phải tin vào dân và quan trọng hơn là phải được dân tin.

Tuy nhiên, phải thắng thắn thừa nhận thực tế, một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên vẫn chỉ biết vun vén, thậm chí vơ vét cho bản thân mà thờ ơ, vô cảm trước dân. Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sơ vẫn còn nhiều hạn chế; phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chủ yếu mới dừng ở “dân làm”. Căn bệnh độc đoán, chuyên quyền, dân chủ hình thức còn ở đâu đó… Những khuyết điểm trên đã làm ảnh hưởng tới lòng tin của dân vào Đảng và chế độ.

Do đó, thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh về “Lấy dân làm gốc” để khôi phục lại lòng tin của dân, là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay. Tuy nhiên, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ là nhắc lại những câu nói mang tầm chân lý của Người mà là nghĩ sâu, nhìn thẳng và làm tốt một số việc sau đây.

Một là, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao nhận thức, thấm nhuần bài học “Lấy dân làm gốc” một cách sâu sắc nhất để vì dân một cách thiết thực nhất. Khi giải quyết công việc, cán bộ phải luôn tận tâm, nhiệt tình, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, phải tránh thói “miệng nói dân chủ nhưng làm theo lối “quan chủ””.

Hai là, phải hoàn thiện thể chế, cơ chế để đảm bảo quyền làm chủ của dân trên thực tế. Theo Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII, nguyên tắc “dân biết, dân làm, dân kiểm tra” được bổ sung thêm nội dung “dân giám sát và dân thụ hưởng”. Điều này hoàn toàn đúng nhưng quan trọng hơn là phải nhanh chóng thể chế hóa, cụ thể hóa nguyên tắc đó bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Tôn trọng lợi ích của dân thì trước khi ban hành pháp luật, chính sách, cần đánh giá kỹ lưỡng tác động của nó đến đời sống nhân dân, phải thăm dò dư luận, đẩy mạnh việc đối thoại với dân - những người chịu tác động của chính sách ban hành.

Ba là, cán bộ phải lắng nghe dân và mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước phải hướng tới việc bảo vệ quyền lợi của dân. Cho dù không phải mọi ý kiến của dân đều xác đáng, nhưng đúng như Hồ Chí Minh đã nói, “nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích”(14).

Điều quan trọng nhất để có được lòng tin của dân chính là: Toàn bộ hoạt động của Đảng và Nhà nước phải xuất phát và hướng tới lợi ích của dân. Trong thời kỳ đất nước có chiến tranh, cơ sở để tạo ra sự gắn kết giữa “lòng dân” và “ý Đảng” chính là mục tiêu giải phóng dân tộc. Trong thời bình, cơ sở quan trọng nhất để tạo dựng niềm tin của dân vào Đảng chính là lợi ích của dân. Đây không phải là sự ban ơn mà là trách nhiệm, là hành động đúng quy luật của Đảng. Nếu không mang lại lợi ích cho dân thì có nói bao nhiêu về dân chủ cũng đều vô nghĩa.

Bốn là, phải tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, “lợi ích nhóm”. “Lấy dân làm gốc” thì phải huy động nhân dân vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cho dù hình thức dân chủ trực tiếp ngày càng được chú trọng nhưng dân chủ đại diện vẫn là một phương thức cơ bản để hiện thực hóa quyền làm chủ của dân.

Muốn được dân tin yêu thì người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu về mọi mặt. Đặc biệt, phải quyết liệt chống tiêu cực thì nhân tố tích cực mới có chỗ đứng, giống như muốn lúa tốt, phải nhổ sạch cỏ. Vì thế, biểu hiện rõ nhất, tập trung nhất của tư tưởng “lấy dân làm gốc” hiện nay chính là nói “không”với tham nhũng và đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, triệt tiêu“lợi ích nhóm.

Mỗi cán bộ, đảng viên đều có trách nhiệm “tiếp nhiệt” cho “lò” chống tham nhũng rực cháy.

Thực hiện tư tưởng “Lấy dân làm gốc” thì còn phải phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết trong dân, xây dựng “thế trận lòng dân” trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Phải làm tốt công tác dân vận để huy động tối đa “tài dân, sức dân, của dân để mưu cầu hạnh phúc cho dân”.

Cổ nhân từng đúc kết: “Dân vi bang bản thiên niên sách/ Công tại nhân tâm vạn cổ trường”( Lấy dân làm gốc, đó là sách lược ngàn năm/ Công lao ở lòng người sẽ ghi tạc muôn đời). Kỳ tích của dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử đều bắt nguồn từ sự thực hành tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của các bậc anh minh, trong đó có Hồ Chí Minh. Sinh ra từ dân, sống và hoạt động trong lòng dân, luôn tin tưởng và biết phát huy sức mạnh vô tận của dân để vì dân, Hồ Chí Minh trở thành tượng đài bất tử trong tình yêu của nhân dân. Bí quyết thành công của Người chính là bài học sâu sắc mà hậu thế phải noi theo./.

“NƯỚC LẤY DÂN LÀM GỐC”

“Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc” là tư tưởng và phương châm hành động của các bậc hiền minh từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim. Trên tinh thần kế thừa và phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng “Lấy dân làm gốc” lên một tầm cao mới. Tư tưởng của Người vừa có sự chung đúc với tiền nhân, vừa có nét độc đáo, sáng tạo. Đáng chú ý nhất là một số quan điểm sau đây.

Thứ nhất, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm mới về quần chúng nhân dân. Nói đến dân là nói đến những người đứng ngoài bộ máy cai trị, chịu tác động từ chính sách của nhà cầm quyền. Nếu trong quan niệm của giai cấp phong kiến, dân chỉ là “thần dân”, “thảo dân”, tức tầng lớp “bị trị” thấp hèn thì đối với Hồ Chí Minh, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Quan niệm về nhân dân của Hồ Chí Minh có điểm khác biệt so với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu Lênin nhấn mạnh tính giai cấp khi coi “quần chúng là đa số, và hơn thế nữa chẳng những đa số công nhân, mà là đa số những người bị bóc lột” thì Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính dân tộc khi định nghĩa: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước khác”(3). Việc mở rộng nội hàm “Nhân dân” của Hồ Chí Minh hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của xã hội Việt Nam. Mặt khác, quan niệm của Người về nhân dân cũng khác biệt so với ông cha khi Người đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để khẳng định “công - nông là gốc của cách mạng”.

Thứ haiHồ Chí Minh luận giải một cách khoa học “vì sao dân là gốc của nước”. Dân là “gốc” của nước bởi “lực lượng của dân rất to”, rất đông, rất mạnh. Dân là “gốc” của nước bởi “dân rất tốt”, trong mỗi người dân đều có phẩm chất cao quý nhất là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Dân là “gốc” của nước còn bởi “dân rất thông minh”, biết “giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Chính của cải, sức mạnh, đạo đức, tài năng, lòng tin của dân đã tạo nên “cái gốc” của nước. Nhận thức sâu sắc về cái “gốc” đó, Hồ Chí Minh đúc kết: “Nước lấy dân làm gốc… Gốc có vững, cây mới bền/Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Như vậy, lòng dân chính là “vận nước”.

Thứ baHồ Chí Minh khẳng định vai trò của dân trong sự nghiệp cách mạng và vị thế của dân trong chế độ mới. Nếu giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản coi nhân dân chỉ là động lực, phương tiện cần huy động cho các cuộc đấu tranh thì Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân là chủ thể và là mục tiêu của cách mạng. Người nhấn mạnh: Làm cách mạng phải dựa vào dân nhưng làm cách mạng để mang lại hạnh phúc cho dân.

Người còn nâng quan điểm “Dân vi bản” và truyền thống “thân dân” thành quan điểm “dân là chủ và làm chủ”. Người khẳng định: Trong chế độ dân chủ, nhân dân mới là chủ sở hữu mọi quyền lực. Nếu cụm từ “Dân là chủ” nói đến địa vị cao nhất của dân trong xã hội thì cụm từ “Dân làm chủ” nói đến trách nhiệm và nghĩa vụ làm chủ của dân. Sự nghiệp cách mạng không chỉ của dân mà còn do dân; cho nên, bản thân quần chúng nhân dân phải có đạo đức và trách nhiệm công dân.

Mặt khác, khi dân đã là chủ thì tất cả cán bộ, kể cả Chủ tịch nước, đều là đầy tớ của dân. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ vai trò “kép” của mình: Vừa là người đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh đạo sáng suốt nhưng “lãnh đạo là làm đày tớ cho nhân dân và phải làm cho tốt”.

Thứ tư, Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu tất cả cán bộ, đảng viên phải gần dân, trọng dân, học dân, thật thà trước dân và yêu dân. Dân tộc Việt Nam đã tồn tại hàng ngàn năm nhưng Đảng thì mới ra đời vào năm 1930. Điều đó có nghĩa là “lòng dân” có trước “ý Đảng”. Dân là “gốc” của nước, là cội nguồn sức mạnh của Đảng nên muốn lãnh đạo dân, Đảng phải gần dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân để đề ra chủ trương, chính sách hợp lòng dân. Coi xa dân, quan liêu là những căn bệnh lớn nhất của đảng cầm quyền nên Hồ Chí Minh đã viết: “Đề nghị các vị Bộ trưởng nên luyện cho mình đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi bàn giấy, theo kiểu “đạo nhân phòng thủ”. Không chỉ nhấn mạnh phương thức hoạt động của Đảng là “phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, Người còn cảnh báo: Nếu xa cách dân chúng thì nhất định thất bại. Sự “gần dân” trong quan niệm của Hồ Chí Minh không chỉ là gần về khoảng cách địa lý, tức là cán bộ phải bám sát cơ sở mà còn phải “gần” về lối sống, mức sống, thậm chí là cán bộ, đảng viên phải có tinh thần “tiên ưu hậu lạc”. Chỉ như thế nhân dân mới thấy đây là người đại diện của mình và cán bộ cũng mới hiểu rõ dân sinh, dân ý, dân tình.

Dân là “gốc” của nước nên Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thực hành văn hóa trọng dân, trước hết là tôn trọng ý nguyện và quyền làm chủ của dân. Người căn dặn “ý dân là ý trời”, dân muốn gì ta phải làm nấy. Sự tín nhiệm của dân luôn thể hiện chính xác năng lực, phẩm chất của cán bộ nên Đảng phải tôn trọng đánh giá của dân về từng cán bộ để làm tốt công tác tổ chức.

Do lực lượng của dân rất đông, trí tuệ của dân là vô tận nên cán bộ, đảng viên phải thực sự cầu thị, khiêm tốn, học hỏi dân chúng. Dân chính là người chịu tác động của mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên việc xây dựng đường lối phải dựa trên ý nguyện của dân, tuyệt đối không được chủ quan, duy ý chí; nếu “nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì đề nghị họ sửa chữa”.

Trong công tác lãnh đạo dân chúng, nếu cán bộ “có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình”. Sự thành thực của cán bộ không chỉ làm dân thông cảm, tin yêu mà còn là cơ sở để Đảng khắc phục hạn chế, ngày càng trưởng thành hơn. Mọi tình cảm bền vững phải dựa trên nguyên tắc 2 chiều nên Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ là, “chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Thứ năm, cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực sự dựa vào dân để vì dân“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” vì vậy, cho dù Đảng Cộng sản là lực lượng dẫn đường nhưng “những người cộng sản chỉ là một giọt nước trong đại dương, một giọt nước trong đại dương nhân dân”. Muốn thực hiện bất cứ chiến lược nào, Đảng đều phải bàn bạc với dân, dựa vào dân, huy động sức mạnh trong nhân dân.

Không chỉ dựa vào dân, quan trọng hơn là Hồ Chí Minh đã coi lợi ích của dân là mục tiêu của cách mạng, lý tưởng của Đảng. Người nói rõ “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Vì dân là “gốc” nên việc gì có lợi cho dân dù nhỏ nhất vẫn phải làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ nhất cũng phải tránh. “Dân dĩ thực vi thiên”, khi trở thành Đảng cầm quyền, tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng đều phải nhằm vào mục tiêu nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành.

Thứ Năm, 4 tháng 3, 2021

GIẢI PHÁP LẤY DÂN LÀM GỐC KẾT HỢP VỚI XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ LÀM CÔNG TÁC LÝ LUẬN TRÊN ĐỊA HẠT KHÔNG GIAN MẠNG

Chúng ta luôn tâm niệm phải lấy dân làm gốc, vậy “dân” trên không gian mạng có phải là gốc không? Dù trong tình huống nào đi nữa, nhất là trên không gian mạng, chúng ta càng phải tuân thủ nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, nghĩa là chúng ta cần cần có sự ủng hộ của những người quản trị (Admin), người điều hành (Smod), người điều tiết (Moderator), người gây ảnh hưởng (Kol),… cũng như của toàn thể cư dân mạng. Chúng ta phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta.

Chúng ta cần phải chủ động chiếm lĩnh không gian mạng, tăng cường sức ảnh hưởng của hệ tư tưởng chính thống bằng các hoạt động tuyên truyền, giáo dục tư tưởng đối với cư dân mạng. Công tác giáo dục tư tưởng, chính trị cho nhân dân cần gắn với giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, lịch sử, văn hóa, tình cảm, đạo đức. Đối với cán bộ, đảng viên, cần tăng cường giáo dục lý tưởng, niềm tin và quan trọng hơn là nâng cao nhận thức về các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên không chỉ không được có những biểu hiện trái với quan điểm của Đảng, mà còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tuyên truyền, bảo vệ quan điểm của Đảng trên không gian mạng.
Định hướng tư tưởng bằng công tác lý luận không thể tách rời việc xây dựng đội ngũ những người làm công tác lý luận. Định hướng tư tưởng, lãnh đạo dư luận bằng chuyên gia và học giả là xu thế tất yếu. Mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống” chính là thể hiện ở đây. 

Giống như Bác Hồ trước đây nói ai cũng hiểu, ai cũng thấm thía, những người làm công tác tư tưởng, lý luận cũng phải học theo phương pháp diễn ngôn đó. Nói một cách hình ảnh, lý luận không chỉ như một món ăn cầu kỳ dành cho khách sành ăn trong nhà hàng sang trọng, mà cần thiết hơn, nó còn phải là món ăn đường phố cho người lao động, món ăn hằng ngày trong mỗi gia đình. Những vấn đề lý luận mà quần chúng quan tâm cần được giải thích rõ ràng, cặn kẽ bằng ngôn ngữ của quần chúng; người làm lý luận phải nắm vững cách nói của quần chúng, sử dụng ngôn ngữ sinh động, gần gũi với nhiều hình thức đa dạng để dễ được quần chúng chấp nhận, để lý luận thực sự bén rễ và đi vào suy nghĩ, cũng như trở thành hành động cụ thể, thiết thực của người dân.

Thực tiễn cần được tổng kết, đúc rút kinh nghiệm. Vì vậy, một đặc thù của hoạt động tư tưởng, lý luận là không thể nhanh chóng có kết quả như một số hoạt động thực tiễn khác. Sáng tạo lý luận là một hoạt động đặc biệt, đòi hỏi phải có thời gian. Immanuel Kant, một trong những triết gia vĩ đại nhất thế giới, cả đời chỉ đọc sách và nghiên cứu, thế mà cũng phải đến khi ông 57 tuổi mới có thể cho ra mắt cuốn Phê phán lý tính thuần tuý, một trong bộ ba tác phẩm phê phán nổi tiếng của ông. Bản thân C.Mác cũng mất 20 năm để viết cuốn Tư bản, song vẫn chưa thể hoàn thành. Sáng tạo lý luận đòi hỏi sự đầu tư rất lớn cả về công sức lẫn thời gian như vậy, song hoạt động chống phá về tư tưởng trên không gian mạng lại diễn ra từng phút, từng giây, đây là một trong những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Không thể để những người làm công tác lý luận liên tục trả lời, đối thoại hoặc phản bác mọi thông tin sai trái, điều này vừa lãng phí tài nguyên trí tuệ, vừa có thể kéo lùi các nhà khoa học xuống những điều vụn vặt. Cần khai thác tối đa trí tuệ, công sức của những người làm công tác lý luận để đấu tranh ở những luận điểm lớn, những luận điểm nền tảng mang tính then chốt, mang tính nguyên tắc của Đảng, của chế độ, của dân tộc; đấu tranh với những trường phái, những nhân vật đại diện mang tính tiêu biểu của thế lực thù địch trong và ngoài nước.

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC DÂN VẬN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân(19) làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Điều đặc biệt là lần đầu tiên trong Hiến pháp, tại Điều 4, khi nói về Đảng Cộng sản Việt Nam, điểm 2 viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Nội dung này ghi rõ trong Cương lĩnh 2011 là tất yếu, đương nhiên, bình thường vì đó là một trong những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng. Nhưng điều này thể hiện trong Hiến pháp với ý nghĩa là bộ luật căn bản của một nước thì hết sức đặc biệt. Điều đó tỏ rõ rằng Đảng không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của Nhân dân lao động và của cả dân tộc; là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, mà còn thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân; có bổn phận, trách nhiệm với dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.

Cùng với Hiến pháp, trong những năm gần đây, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản mang tính chiến lược liên quan đến công tác dân vận, tin tưởng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở như Nghị quyết Trung ương khóa VIII về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” (6/1997); Chỉ thị 30 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cở sở” (18/2/1998); Kết luận 120 về “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (7/1/2016); Hội nghị toàn quốc đánh giá kết quả thực hiện Kết luận số 120-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” (16/7/2018). Đó là những kết quả rất quan trọng, ít nhất là về mặt ban hành nghị quyết, văn bản quy định, rất đáng khích lệ. Để tiếp tục thực hiện tốt công tác dân vận trong tình hình hiện nay, cần tập trung vào hai nhóm giải pháp sau đây:

Một là, hiểu thấu, quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa những nghị quyết, quy định, kết luận, văn bản liên quan đến chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về công tác dân vận, thực hành dân chủ.

Hai là, các tổ chức và cá nhân những người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải làm đúng, làm tốt và khéo công tác dân vận, thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng có bài viết quan trọng với tiêu đề “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”. Bài viết nêu lại những bài học kinh nghiệm, trong đó bài học thứ năm khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn luôn xác định “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền lợi và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Đảng phải chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích của Nhân dân; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với Nhân dân; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của Nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

Ý kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đích thực trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay. Thực hiện tốt, có chất lượng, hiệu quả những điều đó chính là sự vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” trong sự nghiệp đổi mới hiện nay./.

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

“LẤY DÂN LÀM GỐC” PHẢI LUÔN LÀ YẾU TỐ VĂN HÓA THẨM THẤU TRONG MỌI HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN

Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là đề cao tuyệt đối chữ dân. Trong một nước dân chủ thì nhân dân là chủ, làm chủ. Văn hóa đó được thể hiện rất rõ qua thực hành văn hóa trong Đảng, trong Nhà nước, trong các đoàn thể, trong thể chế, bộ máy, trong con người và qua hành vi của đội ngũ cán bộ, đảng viên, lấy nhân dân làm hệ quy chiếu trong mọi chủ trương, chính sách. 
Người cho rằng, cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra cái mới mẻ, tươi tốt... là cuộc chiến đấu khổng lồ, vì vậy, cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của nhân dân. Dân là gốc của nước, của cách mạng. “Nước lấy dân làm gốc”, “gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Là “gốc của nước”, nên nhân dân cũng là người quyết định thành bại của cách mạng. Hồ Chí Minh quan niệm, nhân dân là nguồn gốc sức mạnh, là nguồn trí tuệ, sáng kiến vô tận. Người viết: “Kinh nghiệm trong nước và các nước chứng tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”, “Không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy cũng làm không xong”. Muốn vậy, Đảng cầm quyền phải luôn quan tâm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; thường xuyên chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách nhằm bảo đảm mưu cầu lợi ích tối cao của nhân dân. “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”.
Quán triệt sâu sắc quan điểm đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, nhận thức về dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những sự phát triển vượt bậc trong thời kỳ đổi mới. Tại Đại hội VI (1986), Đảng ta chỉ rõ: “Thực tiễn cách mạng chứng minh: ở đâu, nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”, vì vậy Đảng ta rút ra bài học kinh nghiệm: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Phương thức tổ chức vận động nhân dân và cũng là phương châm, khẩu hiệu cơ chế thực hiện dân chủ bước vào thời kỳ đổi mới được Đại hội VI của Đảng xác định: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đảng ta cho rằng, đó là nền nếp hằng ngày của dân chủ của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động làm chủ, tham gia quản lý nhà nước của mình. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011), Đảng chỉ rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”. 
Con người là nguồn vốn của mọi nguồn vốn, là nguồn lực quan trọng nhất của mọi nguồn lực, giá trị cao nhất của mọi giá trị. Con người Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là sức sống của đổi mới, là trung tâm của sự nghiệp đổi mới. Trải qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có những nhận thức mới ngày càng sâu sắc, cụ thể hơn về vị trí, vai trò của nhân dân, của dân chủ và phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Một trong bốn bài học lớn được Đảng rút ra trong tổng kết sự nghiệp đổi mới hơn 30 năm qua là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo. Trong cơ chế dân chủ một đảng cầm quyền, ý Đảng trước hết phải từ ý dân và lòng dân, vì vậy, ý Đảng lòng dân là một, thống nhất hữu cơ, biện chứng, không thể tách rời. Lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh con người Việt Nam đã trở thành bài học và cấu thành hệ giá trị của đổi mới.