Hiển thị các bài đăng có nhãn quản lý phát triển xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quản lý phát triển xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

QUAN ĐIỂM VỀ THỰC HIỆN TIẾN BỘ GẮN VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là một chủ trương lớn và nhất quán của Đảng ta. Qua 35 năm đổi mới đất nước. Quan điểm này thể hiện trên những nét cơ bản sau:

Thứ nhất, vấn đề công bằng thể hiện rõ trong mục tiêu, phương hướng và các mối quan hệ lớn trong sự nghiệp đổi mới. Mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội cùng với “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân” là 1 trong 8 phương hướng cơ bản để từng bước hiện thực hóa 8 đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN ở Việt Nam. Quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường là 1 trong 10 mối quan hệ lớn cần nắm vững và xử lý, giải quyết tốt để đổi mới thành công và xây dựng CNXH thắng lợi.

Thứ hai, vị trí cuẩ công bằng, chính sách xã hội được đặt ngang hàng với chính sách kinh tế; đồng bộ, tương thích với trình độ kinh tế và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ. Chính sách xã hội đúng đắn vì con người là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, quan điểm tổ chức thực hiện công bằng, bảo đảm “Công bằng trong phân phối các yếu tố sản xuất, tiếp cận và sử dụng các cơ hội, điều kiện phát triển. phân phối kết quả làm ra chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”.  Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa”; “nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội”. Xây dựng thể chế bảo đảm thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh, an toàn xã hội và bảo đảm an ninh con người theo tinh thần “Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội”.

Thứ tư, Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, các quan hệ lợi ích trong xã hội; giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội cụ thể, thiết thân đối với các giai cấp, tầng lớp, nhóm, thành phần xã hội (bảo đảm việc làm, thu nhập, các dịch vụ y tế, giáo dục, an toàn vệ sinh thực phẩm, giao thông, môi trường sống...). Thực hiện “quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh”...

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2021

VAI TRÒ CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO TRONG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN AN SINH XÃ HỘI BỀN VỮNG

Quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững là vấn đề chiến lược, có vị trí quan trọng trong tổng thể hệ thống quản lý phát triển xã hội bền vững của quốc gia nhằm xây dựng một xã hội ổn định, hài hòa, đồng thuận, bao trùm, không có sự loại trừ, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước. Đây cũng là chỉ báo thể hiện bản chất, tính ưu việt của một chế độ. Là quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp, để thực hiện hiệu quả quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững, việc xây dựng chính phủ kiến tạo và phát huy cao nhất vai trò của chính phủ kiến tạo là rất cấp thiết đối với Việt Nam. Xây dựng chính phủ kiến tạo trong quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững là bước chuyển mạnh từ chính phủ thực hiện chức năng quản lý là chính sang chính phủ vừa là chủ thể quản lý, vừa là chủ thể phục vụ nhân dân. Trong xây dựng chính phủ kiến tạo quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững, vấn đề cơ bản là phải xác định rõ vai trò của chính phủ và vai trò của thị trường, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội trong bảo đảm quyền an sinh xã hội của người dân. Chính phủ quản lý, đóng vai trò chủ đạo, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường phù hợp và phát huy tinh thần tự an sinh của người dân, mở rộng sự tham gia của cộng đồng, xã hội trong một thể chế “chính phủ nhỏ, xã hội lớn”. Đây chính là “phong cách mới quản trị xã hội” của chính phủ kiến tạo quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững một cách dân chủ, văn minh. Xây dựng chính phủ kiến tạo quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững sẽ đạt yêu cầu kép là chính phủ mạnh và thị trường mạnh, vừa phát huy vai trò, thế mạnh của chính phủ, vừa tăng cường vai trò, ưu thế của thị trường trong quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững.

Chính phủ kiến tạo được xây dựng và phát triển phải có đủ năng lực quản lý phát triển an sinh xã hội bền vững trên cơ sở xác định đúng, khoa học vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức. Đây là giải pháp vĩ mô quan trọng và muốn thành công phải thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp, như có quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc, hành động quyết liệt của cả hệ thống chính trị; nghiên cứu, đổi mới tư duy lý luận về mô hình chính phủ kiến tạo, có lộ trình chuyển từ mô hình chính phủ quản lý là chính sang mô hình chính phủ quản lý và phục vụ trên cơ sở kế thừa, phát triển những yếu tố tích cực của Chính phủ trong các giai đoạn trước, đặc biệt chú ý đến tính ưu việt của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền văn hóa Việt Nam. Trong đó, ưu tiên xây dựng một nền hành chính công hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, nói không với tham nhũng quyền lực; phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao trong bộ máy hành chính; hiện đại hóa hoạt động của hệ thống chính phủ, bảo đảm các bộ, ngành chức năng ở Trung ương và địa phương, cơ sở liên quan đến quản lý an sinh xã hội bền vững đáp ứng yêu cầu của xây dựng chính phủ kiến tạo, chính phủ điện tử, chính phủ số.

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2020

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở THÁI LAN

Cũng như nhiều quốc gia khác trong ASEAN thường xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội theo các giai đoạn. Đáng chú ý là từ Kế hoạch lần thứ 9 ( giai đoạn 2002-2007) xác định rõ: Kết hợp phát triển con người với phát triển cân bằng về kinh tế, xã hội, chính trị và môi trường, xây dựng hạnh phúc cho mọi người, tự lực và theo kịp thực tế toàn cầu đang thay đổi, duy trì và bảo vệ đ bản sắc văn hóa Thái Lan. Sau khủng hoảng, quan điểm và cách tiếp cận về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội được chính phủ Thái xây dựng với mục đích cốt lõi  là: “Cố gắng giảm nghèo khổ và nâng cao chất lượng cuộc sống của đa số nhân dân Thái Lan nhằm đạt được “sự phát triển bền vững và thịnh vượng cho tất cả người Thái”. Để thực hiện được mục đích trên, Thái Lan đã đề ra 3 nhiệm vụ sau: 1) Củng cố nền tảng xã hội vững mạnh bằng cách phát triển tiềm năng của con người và bảo vệ xã hội; Tái  cấu trúc phát triển đô thị; quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường. 2) Thiết lập quản trị tốt, theo đó các chiến lược cai quản tốt được tăng cường ở mọi cấp. 3) Tái cơ cấu kinh tế thông qua quản lý kinh tế vĩ mô, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia và phát triển khoa học công nghệ. Hoặc, giai đoạn 2007-2016 ( KHPTKT-XH lần thứ 10 và 11): Tăng tính sáng tạo dựa trên triết lý “Nền kinh tế đầy đủ” của Quốc vương Thái Lan.

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở PHILIPPIN

Trong kế hoạch Phát triển trung hạn giai đoạn 2006-2010 và 2011-2016 được cụ thể hóa ở 11 nội dung, trong đó từ nội dung 2-5 tập trung giải quyết các vấn đề xã hội: 1) Trực tiếp cung cấp vốn tiền mặt cho người nghèo với các điều kiện kèm theo nhằm giúp họ có được kế sinh nhai ổn định và bền vững, góp phần vào chiến lược xóa đói giảm nghèo do chính phủ đề ra; 2) Đạt được sự đảm bảo tương đối về mức độ cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục cơ bản cho hầu hết người dân trong cả nước; 3) Áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào cộng đồng để mọi thành viên có thể tham gia và góp sức mình vào quá trình phát triển và quản lý phát triển xã hộ; 4) Hội tụ các chương trình bảo trợ xã hội cho các đối tượng và khu vực ưu tiên: nghèo đói và dễ tổn thương trong xã hội, các khu vực chậm phát triển, ít có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ cơ bản của chính phủ.. Đáng chú ý là ngày 18/4/2017 Philippin đã công bố chiến lược phát triển mang tên Dutertenomics trong đó tập trung tạo sự đột phá cho phát triển hạ tầng. Mục tiêu chiến lược Dutertenomics nằm trong chương trình cải cách kinh tế 10 điểm mà ông khởi xướng. Ngoài các cam kết trong việc tiến hành cải cách trong năm 2017 Philippin sẽ giảm thuế thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp, trợ cấp, tăng gấp đôi thu nhập cho một số đối tương đang làm việc trong các cơ quan hành chính. Trong chiến lược Dutertenomics đã đề ra mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói xuống 14% vào năm 2022 so với 21,6% năm 2015 và thông qua biện pháp tạo việc làm và đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Dự kiến từ nay đến 2020 Philippin tập trung vào thực hiện 55 dự án nhằm tạo ra những đột phá mới hướng tới mục tieu phát triển bền vững đất nước.

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở MALAYSIA

Malaysia xây dựng chiến lược phát triển đất nước dài hạn và trung hạn. năm 2010, Chính phủ đưa ra Tầm nhìn Quốc gia 2020 (NV 2020) và Chính sách Chuyển đổi Quốc gia (NTP). Mục tiêu đặt ra cho chính sách này là đưa Malaysia trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2020. Nói cụ thể hơn, đó là xây dựng ngôi nhà có mái là một nước Malaysia thống nhất, các bức tường là Chương trình Chuyển đổi Chính phủ (GTP) và Chương trình Chuyển đổi Kinh tế (ETP) dựa trên nền tảng Kế hoạch Malaysia thứ 10 (KM10). Ngày 10/6/2010 Thủ tướng Najib Razak đệ trình Quốc hội Kế hoạch Malaysia thứ 10 (KM10), được thực hiện trong giai đoạn 2011-2015, với 5 định hướng chiến lược, trong đó có các vấn đề xã hội (trong kế hoạch này chi ngân sách  được dành cho lĩnh vực xã hội 69 tỷ RM chiếm 30%). Sự phân bổ trên cho thấy lĩnh vực xã hội chiếm vị trí đáng kể trong kế hoạch phát triển và với cách tiếp cận trên sẽ đảm bảo công bằng xã hội cho các nhóm thực sự cần giúp đỡ và không ai cảm thấy bị thiệt thòi.

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở INDONESIA

Quản lý phát triển xã hội được tiếp cận theo nghĩa hẹp, điều đó có nghĩa là tập trung giải quyết các nội dung: 1. Lao động việc làm, hưu trí, thu nhập 2. Bảo hiểm 3. Phúc lợi xã hội và 4. Trợ giúp xã hội. Hầu hết các nước Indonesia, Malaysia, Philippin, Thái Lan đều đã xây dựng chiến lược phát triển đất nước dài hạn và trung hạn. Đây chính là cơ sở quan trọng để xác định chiến lược, chính sách, thể chế và tổ chức hệ thống thực hiện quản lý xã hội. Chẳng hạn, năm 2004, chính phủ Indonesia đã đưa ra chiến lược phát triển dài hạn cho thời kỳ 2005-2025 với các sứ mệnh nhằm hiện thực hóa xã hội Indonesia tự cường, tiên tiến, công bằng và thịnh vượng thông qua 4 kế hoạch phát triển trung hạn, mỗi kế hoạch sẽ hoàn thành các mục tiêu cho từng thời kỳ bao gồm: kế hoạch 2004-2009, thực hiện cải cách và phát triển trên tất cả các lĩnh vực; kế hoạch 2010-2014, củng cố hơn nữa những cải cách của Indonesia trên tất cả các lĩnh vực; kế hoạch 2015-2019, nhằm mục tiêu phát triển theo cách thức toàn diện và kế hoạch 2021-2025 hiện thực hóa mục tiêu của cả thời kỳ như đã nêu trên.