Thứ Ba, 21 tháng 7, 2020

CẢNH GIÁC TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

Như thường lệ, sau khi cơ quan điều tra ra các quyết định tố tụng đối với những đối tượng có hành vi chống phá Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia thì những “người đồng hành” bên ngoài như Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF), tổ chức VOICE Trịnh Hội… lại ra rả điệp khúc vu cáo chính quyền Việt Nam “trấn áp nhân quyền”. Các trang mạng thù địch cũng nhân dịp này đẩy hàng loạt bài viết mặc sức tung hô, cổ suý đối tượng bị bắt giữ, kêu gọi trả tự do và xuyên tạc hoạt động theo pháp luật của cơ quan chức năng. 

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ THÚC ĐẨY THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CHÍNH TRỊ

Để khắc phục những rào cản và hạn chế từ chiều cạnh thể chế trong thực hiện quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, cần có sự chung tay của cả hệ thống chính trị, quán triệt và triển khai thực hiện đầy đủ, thực chất các quan điểm của Đảng và Nhà nước đề ra. Các nghị quyết, quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác phụ nữ nói chung, công tác cán bộ nữ nói riêng cần được triển khai ở tất cả các cấp, các ngành, các cơ quan trong hệ thống chính trị Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở.

TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

Quyền bình đẳng nam nữ đã được xác định ngay từ Hiến pháp đầu tiên (năm 1946). Tại Điều 9 quy định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”. Hiến pháp Việt Nam trong những năm tiếp theo tiếp tục phát triển các nội dung của bình đẳng giới nói chung, trong chính trị nói riêng; thể hiện rõ việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước. Hiến pháp năm 2013 hiến định: Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Khoản 1, Điều 14); không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Khoản 1, 2, Điều 16); nam, nữ bình đẳng về mọi mặt (Điều 26). Cùng với Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và thực hiện bình đẳng giới, như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Pháp lệnh Dân số,... Hệ thống luật pháp, chính sách về phụ nữ ngày càng được hoàn thiện, quyền của phụ nữ được khẳng định là động lực quan trọng để phát triển xã hội.

QUAN HỆ GIỮA THỂ CHẾ VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CHÍNH TRỊ

Bình đẳng giới về chính trị là việc nam giới và nữ giới có vị trí, vai trò ngang nhau trong điều kiện phát triển năng lực cũng như cơ hội tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Luật Bình đẳng giới quy định: nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước; hoạt động xã hội, hoạt động hương ước của cộng đồng; bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, vào các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội...

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ DUY TRI MỨC SINH THAY THẾ

Một là, Đảng đã xác định dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài. Cho dù Việt Nam duy trì được mức sinh thay thế đến năm 2030 thì sau đó vẫn cần được tiếp tục duy trì để bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững. Vì vậy, Chính phủ nên xem xét xây dựng chiến lược dân số với tầm nhìn dài hạn hơn, ít nhất là đến năm 2045.

KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DUY TRÌ VỮNG CHẮC MỨC SINH THAY THẾ

Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác dân số và kiên trì, quyết tâm chỉ đạo thực hiện các mục tiêu dân số đề ra. Tuy nhiên, mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Đó là:

DUY TRÌ VỮNG CHẮC MỨC SINH THAY THẾ VÀ ĐIỀU CHỈNH MỨC SINH PHÙ HỢP

Trong những thập kỷ qua, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trước năm 1975, mức sinh và tỷ lệ gia tăng dân số miền Bắc còn rất cao. Sớm nhận thức được nguy cơ tăng quy mô dân số quá nhanh ảnh thưởng tiêu cực đến điều kiện phát triển kinh tế và môi trường, Đảng và Nhà nước đã ban hành chính sách giảm sinh thông qua tuyên truyền, vận động sinh đẻ có kế hoạch, cung cấp và hướng dẫn sử dụng các biện pháp tránh thai. Mặc dù có không ít trở ngại cả về chủ quan và khách quan trong thời chiến, việc triển khai chính sách là yếu tố chủ yếu làm giảm mức sinh ở miền Bắc từ trên 6 con vào năm 1960 xuống còn khoảng 5,2 con mỗi phụ nữ vào năm 1975. Sau khi đất nước thống nhất, chính sách dân số vẫn nhằm mục tiêu chủ yếu là giảm sinh và được triển khai trên toàn quốc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976 tiếp tục chủ trương đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, kiên quyết giảm dần tốc độ tăng dân số. Chủ trương này một lần nữa được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng năm 1982. Đến năm 1985, mức sinh của Việt Nam giảm xuống còn khoảng 4,5 con, nhưng mục tiêu giảm tỷ lệ phát triển dân số đã không đạt được. Trước thực trạng đó, Đảng ta nhận định mức sinh và tỷ lệ gia tăng dân số cao vẫn là rào cản đối với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.