Hiển thị các bài đăng có nhãn phụ nữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phụ nữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

LỜI DẶN CỦA BÁC VÀ BẢN SẮC MANG TÊN PHỤ NỮ VIỆT NAM

Trong thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ, Hồ Chủ tịch viết: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Nếu có một đề từ ngợi ca phụ nữ Việt Nam mang tính khái quát cao nhất, sinh động nhất, đẹp đẽ nhất thì đó chính là lời Hồ Chủ tịch đã viết trong thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Trong suốt hành trình của 79 năm tận hiến, trong cái “ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” thì giải phóng cho phụ nữ thật sự là một cuộc cách mạng. “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ mới một nửa” (bài nói chuyện của Hồ Chủ tịch tại hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959). Người khẳng định nam nữ bình quyền - “đó là một cuộc cách mạng khá to và khó”.

Bởi tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu thành tập quán, từ đó dẫn tới những hệ lụy xã hội nặng nề khác mà chính người phụ nữ, dù muốn, cũng không dễ thoát khỏi cái bóng định kiến bao phủ.

Ở con người-Ái-Quốc vĩ đại ấy, bậc văn nhân tầm vóc ấy, không phải chỉ đợi đến sau bao năm bôn ba nước ngoài, hấp thụ những tinh hoa văn minh, tiến bộ thì Người mới dành một sự tôn trọng bình quyền nam nữ mà trong mạch ngầm văn hóa dân tộc, Bác đã thấu cảm đức hy sinh, sức mạnh vô bờ của người phụ nữ Việt Nam. Đi qua những cuộc kháng chiến trường kỳ, sức mạnh ấy, lòng hy sinh không bờ bến ấy càng bền bỉ, thủy chung. Chính vì vậy, với Người, tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng là thực hiện cuộc cách mạng giải phóng người phụ nữ khỏi những tự ti, định kiến, áp bức tăm tối, đưa họ đến vùng ánh sáng của tự do, tiến bộ, tự chủ.

Một điểm đặc biệt văn minh trong tư tưởng của Hồ Chủ tịch về thực hiện bình quyền, đó chính là Người luôn đặt ra yêu cầu về sức mạnh tự thân của người phụ nữ. Muốn được giải phóng, trước hết chính chị em phải là người có nhận thức, có nhu cầu và khát khao tự do ấy. Từ đó, họ hành động trong sự tự chủ về lao động, về học tập, về chăm lo hạnh phúc cho mình và gia đình, xã hội. Người căn dặn: "Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh” (năm 1959). Hay “bản thân chị em phụ nữ phải có chí tự cường tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình” (năm 1960), “phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật” (năm 1961).

Tháng 5/1968, trong Di chúc, Người cũng để lại những dòng di huấn cho chị em phụ nữ, Người ân cần căn dặn "Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ".

Kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Người, biết ơn một cuộc đời đã hy sinh trọn vẹn cho non sông đất nước cũng là để nhìn lại hành trình “tự cường, tự lập, nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật” đã và đang ở những cột mốc nào. Kết nối, liên hiệp sức mạnh xã hội để cùng nhau hoàn thành sự nghiệp bình đẳng giới; tự tin, mạnh mẽ mà vẫn dịu dàng, nhân hậu nuôi dưỡng và truyền trao "tự cường, tự lập" trong mỗi bản thể và cho toàn thể - kết tinh thành bản sắc giới mang tên Phụ nữ Việt Nam. 

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2020

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ THÚC ĐẨY THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CHÍNH TRỊ

Để khắc phục những rào cản và hạn chế từ chiều cạnh thể chế trong thực hiện quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, cần có sự chung tay của cả hệ thống chính trị, quán triệt và triển khai thực hiện đầy đủ, thực chất các quan điểm của Đảng và Nhà nước đề ra. Các nghị quyết, quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác phụ nữ nói chung, công tác cán bộ nữ nói riêng cần được triển khai ở tất cả các cấp, các ngành, các cơ quan trong hệ thống chính trị Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở.

TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

Quyền bình đẳng nam nữ đã được xác định ngay từ Hiến pháp đầu tiên (năm 1946). Tại Điều 9 quy định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”. Hiến pháp Việt Nam trong những năm tiếp theo tiếp tục phát triển các nội dung của bình đẳng giới nói chung, trong chính trị nói riêng; thể hiện rõ việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước. Hiến pháp năm 2013 hiến định: Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Khoản 1, Điều 14); không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Khoản 1, 2, Điều 16); nam, nữ bình đẳng về mọi mặt (Điều 26). Cùng với Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và thực hiện bình đẳng giới, như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Pháp lệnh Dân số,... Hệ thống luật pháp, chính sách về phụ nữ ngày càng được hoàn thiện, quyền của phụ nữ được khẳng định là động lực quan trọng để phát triển xã hội.

QUAN HỆ GIỮA THỂ CHẾ VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CHÍNH TRỊ

Bình đẳng giới về chính trị là việc nam giới và nữ giới có vị trí, vai trò ngang nhau trong điều kiện phát triển năng lực cũng như cơ hội tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Luật Bình đẳng giới quy định: nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước; hoạt động xã hội, hoạt động hương ước của cộng đồng; bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, vào các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội...

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HƯỚNG THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH PHỤ NỮ, HÒA BÌNH VÀ AN NINH ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Năm 2009, tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã chủ trì cuộc Thảo luận mở về chương trình phụ nữ, hòa bình và an ninh; giới thiệu và vận động thông qua Nghị quyết số 1889 (tháng 10-2009) - nghị quyết đầu tiên của Hội đồng Bảo an tập trung vào đáp ứng nhu cầu của phụ nữ và trẻ em gái trong giai đoạn hậu xung đột. Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam soạn thảo, chủ trì thương lượng, thúc đẩy Hội đồng Bảo an đồng thuận thông qua Nghị quyết số 1889 về phụ nữ, hòa bình và an ninh.

SỰ THAM GIA TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH PHỤ NỮ, HÒA BÌNH VÀ AN NINH CỦA CÁC QUỐC GIA

Tại Liên hợp quốc nói chung và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nói riêng, các nước phát triển chủ yếu tập trung vào một số nội dung, như chống bạo lực tình dục trong chiến tranh, xung đột; trừng phạt các lực lượng vũ trang tại một số nước châu Phi (Xu-đăng, Công-gô, Ma-li...) vì những cáo buộc bạo lực tình dục đối với phụ nữ tại các khu vực có xung đột, chiến tranh, đề cao vai trò của Tòa án Hình sự quốc tế (ICC) trong điều tra, xét xử, thẩm quyền của Hội đồng Bảo an đưa vấn đề nêu trên ra ICC... Nhiều nước phương Tây, như Mỹ, Đan Mạch, Na Uy, Anh, Áo, Thụy Sỹ, Ca-na-đa... đã thông qua chương trình hành động quốc gia về phụ nữ, hòa bình và an ninh.

KẾT QUẢ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH PHỤ NỮ, HÒA BÌNH VÀ AN NINH

Ở cấp độ toàn cầu
Một là, số lượng lãnh đạo nữ tại các cơ quan về phụ nữ, hòa bình và an ninh Liên hợp quốc ngày càng tăng kể từ khi triển khai chương trình phụ nữ, hòa bình và an ninh. Tính đến tháng 12-2018, phụ nữ chiếm 35% vị trí cấp trưởng và 48% vị trí cấp phó tại các Phái bộ gìn giữ hòa bình và Phái bộ chính trị đặc biệt của Liên hợp quốc (năm 2017 là 26% và 35%)(10). Lần đầu tiên bổ nhiệm nữ Tổng chỉ huy các Phái bộ hòa bình Liên hợp quốc và Đại diện đặc biệt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc về bạo lực tình dục trong xung đột vũ trang. Thành lập Nhóm chuyên gia không chính thức (IEG) về phụ nữ, hòa bình và an ninh và Nhóm chuyên gia về pháp luật và bạo lực tình dục trong xung đột vũ trang.

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH PHỤ NỮ, HÒA BÌNH VÀ AN NINH

Từ năm 2000 đến nay, tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, chương trình phụ nữ, hòa bình và an ninh được trao đổi, thảo luận xoay quanh các vấn đề: 1- Tăng cường vai trò và sự tham gia của phụ nữ trong tiến trình phòng ngừa, giải quyết xung đột, xây dựng và gìn giữ hòa bình. 2- Từ năm 2008, Hội đồng Bảo an đã thông qua các Nghị quyết số 1820, 1888, 1960, 2106, 2467, nhìn nhận các hình thức bạo lực tình dục đối với phụ nữ được coi là tội ác chiến tranh, tội ác chống lại loài người; các quốc gia có vai trò và trách nhiệm giải quyết nguồn gốc bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái; nhấn mạnh vai trò của Hội đồng Bảo an trong tăng cường giám sát việc thực thi của các bên tham gia xung đột. 3- Thiết lập và tăng cường sử dụng các biện pháp đánh giá, theo dõi việc thực hiện các nội dung của chương trình phụ nữ, hòa bình và an ninh. 4- Đào tạo, tăng cường năng lực cho lực lượng phòng ngừa và giải quyết tình trạng bạo lực tình dục trong xung đột vũ trang; kêu gọi hình thành các nhóm chuyên gia tại nơi xảy ra bạo lực tình dục; tăng cường ngân sách dành cho đào tạo, phân tích và các chương trình giới. 5- Vai trò của phụ nữ trong các hoạt động gìn giữ hòa bình và phòng ngừa bạo lực tình dục trong xung đột vũ trang. 6- Vai trò của các tổ chức khu vực, tiểu khu vực trong củng cố chính sách, tăng cường vai trò, sự tham gia của phụ nữ và trẻ em gái trong tiến trình hướng tới bảo đảm lợi ích của phụ nữ và trẻ em gái bị ảnh hưởng bởi bạo lực tình dục trong xung đột vũ trang. 7- Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội (CSO) trong thúc đẩy sự tham dự của phụ nữ giải quyết xung đột, giải quyết bạo lực tình dục, xây dựng hòa bình...

VẤN ĐỀ PHỤ NỮ, HÒA BÌNH VÀ AN NINH TẠI HỘI ĐỒNG BẢO AN LUÊN HỢP QUỐC

Có thể nói, vai trò và sự tham gia của phụ nữ trong công tác gìn giữ hòa bình được Liên hợp quốc nhìn nhận kể từ khi tổ chức này ra đời thông qua sự thành lập Ủy ban địa vị phụ nữ vào năm 1946. Nỗ lực bảo đảm bình đẳng giới cũng ngày càng được củng cố với việc Liên hợp quốc thông qua Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (năm 1979), Tuyên bố về việc tham gia của phụ nữ trong thúc đẩy hòa bình và hợp tác quốc tế (năm 1982) và tổ chức các Hội nghị quốc tế về phụ nữ tại Thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc, năm 1995). Đặc biệt, năm 2000, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 1325 về chương trình phụ nữ, hòa bình và an ninh, theo đó vấn đề phụ nữ, hòa bình và an ninh trở thành một trong những chương trình thảo luận chính tại Hội đồng Bảo an, sau đó được thúc đẩy tại nhiều cơ chế khác của Liên hợp quốc. Đây được coi là văn kiện quan trọng mang tính lịch sử, đánh dấu lần đầu tiên Hội đồng Bảo an ghi nhận ảnh hưởng của xung đột vũ trang đối với phụ nữ và trẻ em gái; thừa nhận những giá trị và đóng góp của phụ nữ đối với gìn giữ hòa bình, giải quyết xung đột và kiến tạo hòa bình. Nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ là những chủ thể năng động trong vấn đề hòa bình và an ninh.

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

PHỤ NỮ QUÂN ĐỘI ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CHỈ THỊ 05 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ KHÓA XII

Quán triệt sâu sắc Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phụ nữ Quân đội đã triển khai thực hiện nghiêm túc, kịp thời, trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả với nhiều phong trào, mô hình cụ thể và đạt hiệu quả thiết thực.
Được sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các đơn vị trong toàn quân, việc triển khai học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” giai đoạn 2016 - 2021 của cán bộ, hội viên phụ nữ Quân đội đã được lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thống nhất, phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị.
Ban (trợ lý) công tác phụ nữ và Ban Chấp hành các Hội Phụ nữ trong toàn quân luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất, hướng dẫn và tổ chức thực hiện Chỉ thị 05 gắn với tu dưỡng, rèn luyện theo các phẩm chất đạo đức “Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang” và các tiêu chí “bốn tốt”. Việc học tập và làm theo Bác đã trở thành việc làm thường xuyên, ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng, thiết thực, hiệu quả. Trong quá trình thực hiện, tổ chức phụ nữ các cấp thường xuyên đổi mới, đa dạng các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền (sinh hoạt hội viên, tọa đàm, diễn đàn, hội thi, thi tìm hiểu, giao lưu nghệ thuật,…), tạo sự hấp dẫn, thuyết phục, làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức, tư tưởng, tình cảm và trách nhiệm của mỗi hội viên trong suy nghĩ, lời nói, hành động, ứng xử hằng ngày. Đồng thời, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm ảnh hưởng tới hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Qua đó, xây dựng người phụ nữ Quân đội phát triển toàn diện, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tổ chức Hội Phụ nữ trong toàn quân luôn bám sát đặc điểm, tình hình và nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị để xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, các phong trào, mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả, như: “Làm theo Bác thực hành tiết kiệm”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”; “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ khó khăn”; “Tổ, nhóm phụ nữ tiết kiệm”; “Tiết kiệm của bản thân để phần người khó”; “Mỗi tuần (ngày, tháng) một việc tốt”; “Nói lời hay, làm việc tốt”... Ở các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chị em phụ nữ luôn chấp hành nghiêm mệnh lệnh của người chỉ huy; tích cực học tập và làm theo phong cách, tác phong làm việc của Bác, không ngừng rèn luyện nâng cao sức khỏe, trình độ; tham gia huấn luyện, diễn tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu; chấp hành tốt chế độ trực ban, trực nghiệp vụ. Vận dụng sáng tạo các mô hình, điển hình là: “Vào phòng máy là vào vị trí chiến đấu”, “Trạm là nhà, đường dây là trận tuyến”, “Phiên ban, kíp ban kiểu mẫu”, “Phụ nữ Thông tin làm theo lời Bác”, “Sáng tạo huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao”, “Bát nước thao trường”… góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu của các cơ quan, đơn vị và toàn quân.
Có thể nói, trên khắp các lĩnh vực hoạt động của phụ nữ Quân đội đều có những mô hình, điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được biểu dương, khen thưởng1. Mỗi mô hình, mỗi phương thức là một kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cao đóng góp vào kinh nghiệm nghiên cứu, chỉ đạo, tổ chức thực hiện phong trào phụ nữ, công tác phụ nữ trong thời kỳ mới.

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2016

VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM


Nói đến vị thế của người phụ nữ trong gia đình gia trưởng không thể không đề cập đến nguồn gốc tạo ra những quan hệ thiếu bình đẳng của gia đình Việt Nam truyền thống, trong đó yếu tố văn hóa là nguyên nhân căn bản hình thành lối sống, cách ứng xử, quan hệ giữa các thành viên gia đình, đặc biệt là quan hệ đối với phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Có thể hiểu khái niệm và các đặc trưng của văn hóa gia đình như sau:
“Văn hóa gia đình là hệ thống các giá trị, chuẩn mực được thừa nhận nhằm tạo ra phương thức ứng xử trong quan hệ giữa các thành viên gia đình và quan hệ với xã hội, môi trường”.
- Văn hóa gia đình được hình thành có chọn lọc, được trải nghiệm, lưu truyền và được bổ sung qua các thế hệ;
- Văn hóa gia đình là sự biểu đạt trung thực nhất bản sắc văn hóa dân tộc.

Sự tồn tại lâu dài của Gia đình Việt Nam truyền thống:

Người Việt Nam từ xa xưa vẫn tôn vinh triết lý sống, "an bần lạc đạo" (chấp nhận sống nghèo, mà giữ lấy cái đạo làm người), nghĩa là vợ chồng cùng nhau thỏa mãn sống trong cảnh "một túp lều tranh với hai trái tim vàng". Do nhận thức còn hạn chế và chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, các triều đại phong kiến dựa vào triết lý sống này để đưa ra những chính sách cai quản đất nước theo chế độ khép kín kiểu "bế quan tỏa cảng", lấy "nông vi bản" (nghề trồng lúa nước làm căn bản) để phát triển kinh tế và duy trì văn hóa làng xã làm nền tảng cho sự ổn định xã hội. Cho đến ngày nay, tư duy người Việt vẫn coi gia đình không chỉ gồm những người có liên kết với nhau bằng huyết thống (cha con, anh chị em) và nghĩa tình (vợ chồng, con nuôi, bố mẹ nuôi) mà còn có sự hiện diện vô hình của tổ tiên, của những người ruột thịt đã khuất nhưng vẫn thường xuyên tham dự vào mọi sinh hoạt gia đình như một thành viên quan trọng, gần gũi mà thiêng liêng, có vai trò rất lớn đối với đời sống tinh thầncủa các thành viên khác).

Vị trí địa lý đặc thù tạo cho dân tộc Việt Nam những đợt tiếp xúc, giao lưu, kể cả các cuộc xâm lược từ bên ngoài đã làm nên diện mạo đời sống văn hóa của dân tộc có nhiều biến động trong lịch sử. Văn hóa và triết lý Phật giáo bằng con đường từ Ấn Độ được người Việt Nam tiếp cận từ rất sớm và đã mau chóng đi vào đời sống của tầng lớp bình dân trong không gian văn hóa làng xã một cách hồn nhiên, hòa bình. Tư tưởng nhà Phật rất dễ đi vào lòng người và được cảm nhận, tiếp biến một cách sâu sắc, nội dung thuyết giáo nhà Phật được biểu hiện một cách tự nhiên qua mọi lề thói, nếp sống của các thành viên gia đình (theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp). Chính vì thế, gia đình truyền thống của người Việt đã sớm hình thành Đạo thờ Mẫu và Đạo thờ cúng tổ tiên. Tiếp theo sau là sự ngự trị của văn hóa Hán – Nho, sản phẩm tinh thần có sức mạnh và là trợ thủ đắc lực cho chế độ quân chủ trong nền kinh tế tự cung tự cấp của xã hội nông nghiệp, Nho giáo rất thích hợp với giai cấp thống trị trong việc áp đặt và duy trì các chính sách “thủ cựu” vào đời sống văn hóa – xã hội của Việt nam qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, nho giáo cũng đã có những đóng góp quan trọng trong vấn đề giáo dục con người với cái gốc xuất phát từ “giáo dục gia đình” dựa trên những định chế cụ thể, mang tính thiết thực trong đời sống hàng ngày, vì thế nhiều nội dung luân lí của nho giáo vẫn còn giá trị trong đời sống hiện đại và được nhiều nước Châu Á chọn lọc khai thác như Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam...

Ngày nay, vẫn còn trên 70% người dân Việt Nam làm nghề nông và vẫn sống ở nông thôn, tuy kiểu gia mở rộng (từ 3 thế hệ) không chiếm tỷ lệ đa số như trước đây, nhưng lối sống và những phong tục, tập quán dựa trên mối liên hệ huyết thống, từ trực hệ với ông bà đến quan hệ dòng họ (cùng một ông tổ sinh ra) và rộng hơn nữa là qua hệ làng xã, cộng đồng dân tộc (đại gia đình theo nghĩa rộng nhất) vẫn được duy trì. Sự tồn tại của tổ chức gia đình mở rộng với những qui định ràng buộc chặt chẽ theo dòng họ và bị chi phối bởi chế độ “gia trưởng” ngày nay không còn phù hợp với cuộc sống công nghiệp; đây là mâu thuẫn ẩn chứa nhiều yếu tố tiêu cực, trở thành lực cản trước sự tiến bộ xã hội. Điều này cũng giải thích được lý do mặc dù vấn đề bình đẳng giới và không bạo hành phụ nữ được đảm bảo trong luật pháp Việt Nam, nhưng hiện tượng bất bình đẳng và bạo lực vẫn tồn tại, thậm chí còn đang có chiều hướng gia tăng. Vì ảnh hưởng của lối sống kiểu gia đình truyền thống nên trong nhà có xảy ra bạo lực hay các hành vi thiếu bình đẳng thì các thành viên thường dấu kín, không nói với cha mẹ, bạn bè, không thông báo cho chính quyền địa phương với lối nghĩ “không muốn vạch áo cho người xem lưng” .

Phụ nữ Việt Nam trong gia đình truyền thống:

Theo tư tưởng Nho giáo, mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi năm mối quan hệ: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh - em, bạn - bè; năm mối quan hệ này phản ánh hiện thực hai mặt của cuộc sống là quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ gia đình được củng cố bằng chế độ tông pháp (họ tộc) và chế độ gia trưởng, còn các quan hệ xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trị đẳng cấp. Đi cùng với các mối quan hệ đó là những qui định giao tiếp bắt buộc mà mỗi thành viên trong xã hội phải thực hiện. Quan niệm về một gia đình có trật tự, kỷ cương lại càng trở nên chặt chẽ và khắc nghiệt hơn, trong đó quyền hành của người cha, người chồng là tuyệt đối, vị thế của người phụ nữ, người vợ rất hạn chế.

Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến bị chèn ép theo những chế ước hết sức ngặt nghèo, một trong các đạo qui định người phụ nữ phải tuân thủ là “Đạo Tam tòng - Tứ Đức”. Tam tòng là tại gia tòng Phụ; xuất giá Tòng Phu; Phu tử tòng Tử (con gái còn ở trong gia đình  phải nghe theo Cha, đi lấy chồng phải phụ thuộc vào Nhà Chồng, khi Chồng chết phải ở vậy và phụ thuộc vào người Con Trai). Theo Hán ngữ, chữ Tử nghĩa là con nói chung, nhưng trong Đạo Tam tòng, người con gái không được xếp ứng với nghĩa là con trong trường hợp này (Phu tử tòng Tử chỉ con trai) ; cách ứng xử như vậy đủ nói lên sự bất bình đẳng đối với phụ nữ trong xã hội phong kiến; ngày nay hiện tượng này tồn tại không nhiều nhưng vẫn tiềm ẩn trong ý thức của các thệ hệ còn ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo. Tứ Đức là Công – Dung – Ngôn – Hạnh; đây là 04 đức tính thiết yếu phải được dạy và học - hành đối với phụ nữ ngay từ khi còn nhỏ ở gia đình. Thực hành tứ đức có mặt tích cực là giúp người phụ nữ chăm chỉ và khéo léo trong lao động (công); biết giữ gìn thân thể, vẻ đẹp vốn có (dung); biết cách ứng xử giao tiếp qua ngôn ngữ, cử chỉ “lời ăn tiếng nói” (ngôn); và giữ được tư cách, đạo đức cần có ở người phụ nữ (hạnh). Mục đích của giáo dục Công – Dung – Ngôn – Hạnh trong xã hội cũ chủ yếu nhằm trang bị cho phụ nữ những kiến thức, kỹ năng hướng tới việc thực hiện bổn phận làm vợ, làm dâu khi lấy chồng. Nếu lược bỏ đi những mặt hạn chế ở tính mục đích và phương pháp giáo dục ngặt nghèo ở chế độ cũ thì Tứ Đức vẫn còn tác dụng tốt, duy trì được tố chất "nữ tính" của người phụ nữ Việt Nam.

Mặt hạn chế trong nội dung giáo dục của Nho giáo nêu trên tạo ra một xã hội với những con người hoặc là bảo thủ, trì trệ, lạc hậu hoặc là nhẫn nhục, cam chịu và như vậy khó mà thi hành được sự bình đẳng trong quan hệ giữa phụ nữ và nam giới. Những quan hệ "ấm cúng" kiểu gia đình gia trưởng là tác nhân kìm hãm năng lực phát triển của con người cá nhân cả về trí tuệ và sự tham gia công việc xã hội; nó góp phần vào việc duy trì sự tồn tại lâu dài của kiểu gia đình truyền thống.

Bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình thời kỳ công nghiệp hóa.
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tạo cho gia đình Việt Nam điều kiện tiếp thu những giá trị văn hóa mới của xã hội hiện đại, sự biến đổi về quy mô, cơ cấu và chức năng của gia đình trong cuộc sống công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực ở một số giá trị văn hóa gia đình; nhận thức về tình yêu, hôn nhân có nhiều biến đổi trong những năm gần đây, tuổi kết hôn lần đầu của thanh niên, nhất là ở phụ nữ đã được nâng cao, làm cho thiếu niên có nhiều cơ hội và thời gian học tập, tích lũy để chuẩn bị cho cuộc sống gia đình tương lai.Tỉ lệ số phụ nữ được thực hiện quyền bình đẳng về kinh tế, việc làm và được thụ hưởng thành quả lao động ngày càng cao; tự do trong tình yêu và hôn nhân được tôn trọng trên cơ sở bình đẳng giới và được pháp luật bảo vệ, góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.

Mặc dù ngày càng có nhiều công cụ và các điều kiện giúp con người giảm nhẹ sức lao động, nhưng người phụ nữ ngoài việc tham gia công việc, đóng góp ngày càng nhiều vào nguồn thu nhập, vẫn phải đảm nhiệm hầu hết các công việc trong cuộc sống gia đình, do vậy họ có ít thời gian chăm sóc bản thân, tham gia công tác xã hội và hoạt động vui chơi giải trí. Một nghịch lý đang tồn tại là việc nội trợ, nuôi dạy con, chăm sóc các thành viên gia đình của phụ nữ thường bị coi là không có giá trị kinh tế, điều này được bộc lộ rõ chỉ từ khi xã hội thừa nhận sự hiện diện của "dịch vụ giúp việc gia đình" (ô shin). Ngoài ra, phụ nữ còn là nạn nhân chủ yếu của sự phân biệt đối xử, phải gánh chịu những lạm dụng về thể xác, tinh thần từ phía người đàn ông.

Những quan niệm và hành vi không đúng đắn về tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình được xuất hiện, phổ biến hoặc đưa tin hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng và mạng internet ở tất cả các quốc gia có điểm xuất phát là đề cao, coi trọng lối sống thực dụng cá nhân, chối bỏ các chuẩn mực tốt đẹp của gia đình trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, điều này làm cho đời sống gia đình hiện nay ẩn chứa nhiều mâu thuẫn với mức độ ngày càng phức tạp và diễn biến dưới nhiều hình thức. Tình trạng ngoại tình, kết hôn bất hợp lý, bạo lực gia đình, ly thân, ly hôn đang có chiều hướng gia tăng mà nạn nhân trước hết và chủ yếu vẫn là phụ nữ và trẻ em gái; các kiểu sống gia đình không bình thường so với lối sống truyền thống đang nảy sinh và trở thành vấn đề xã hội nan giải như sống chung không kết hôn, không muốn sinh con, lối sống thử, sống độc thân hoặc kết hôn đồng tính mà hậu quả của nó để lại nhiều tiêu cực đối với việc ổn định thiết chế gia đình.

Tại các nước công nghiệp phát triển, các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình không phải không có những vấn đề mâu thuẫn cần phải giải quyết cho hiện tại và trong tương lai:
Ở Mỹ vào những năm 1990, người dân đã phải lên tiếng về tình trạng là khi trẻ đi học về nhà, đã thưa dần những tiếng chào bố, hoặc chào mẹ vì tỉ lệ ly dị ngày càng cao; nam giới Hàn quốc hiện đang gặp khó khăn trong việc lập gia đình vì thiếu phụ nữ trong lứa tuổi kết hôn; vào khoảng năm 2020, Trung Quốc sẽ có tới 30 triệu thanh niên không lấy được vợ vì không có "đối tác", có nghĩa là tuổi trẻ khi đó sẽ gặp khủng hoảng trong việc tạo lập ra một thế hệ gia đình mới; trong khi đó các nhà quản lý và xã hội học khuyến cáo rằng không thể giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính của quốc gia bằng cách khuyến khích lấy vợ người nước ngoài một cách ồ ạt, thiếu thận trọng về các yếu tố văn hóa và thực hiện bình đẳng giới; hiện tại Phần Lan có đến 40% thanh niên sống độc thân, không lấy vợ, lấy chồng; điều này cho thấy khả năng tái tạo nguồn lao động trong tương lai sẽ bị gián đoạn và hậu quả để lại không chỉ dừng ở phạm vi một quốc gia; vì thế 50% trong tổng số hơn 5 triệu dân Phần Lan đang là lực lượng lao động để nuôi sống mình và duy trì đời sống xã hội; còn đất nước Nhật Bản rút ra được bài học kinh nghiệm muộn mằn là sau mấy chục năm thực hiện công nghiệp hóa thì cũng chính thời gian đó nước Nhật đã phá gần xong nền Văn hóa Dân tộc Phù tang.

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký kết các công ước quốc tế về thực hiện quyền phụ nữ và quyền trẻ em; việc đưa những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới vào gia đình ở một quốc gia vốn chịu ảnh hưởng của Nho giáo có thể được coi là một bước tiến bộ lớn, tạo điều kiện về mặt pháp lý để nâng cao vị trí và vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Đời sống xã hội ở thời kỳ công nghiệp và hậu công nghiệp đang vận động, biến đổi hết sức phức tạp và đa dạng theo chiều hướng: nhiều giá trị văn hóa gia đình truyền thống không còn phù hợp, trong khi những giá trị mới lại chưa được định hình; đây là mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết và là vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý xã hội.
Việc kết hợp hài hòa các giá trị văn hóa truyền thống với các giá trị hiện đại trên cơ sở bảo tồn bản sắc văn hóa và chủ động giao lưu với bên ngoài là giải pháp tích cực đưa dân tộc Việt Nam vượt qua những khó khăn, thách thức, khơi dậy được vai trò động lực của các giá trị truyền thống cho sự phát triển và tiến bộ xã hội, và ở trong hoàn cảnh đó, phụ nữ Việt Nam mới hoàn toàn có quyền bình đẳng trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình, có cơ sở pháp lý để tự tin bước ra ngoài cánh cửa gia đình, tham gia và đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước./.

 Nguồn: phunu.hochiminhcity.gov.vn