Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổ quốc XHCN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tổ quốc XHCN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016

ĐẰNG SAU LUẬN ĐIỆU ĐỀ NGHỊ ĐỔI TÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hiện nay, có một số người lợi dụng tự do, dân chủ trong nghiên cứu khoa học, đề xuất đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng Dân chủ Việt Nam hoặc quay trở lại với tên gọi trước đây là Đảng Lao động Việt Nam; thực chất phía sau luận điệu đó là gì?
Chúng ta đều biết, ngày 3 tháng 2 năm 1930 dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với chủ trương hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Đông Dương theo chủ trương của Quốc tế Cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chính là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác –Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Ngay từ tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
 Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn dân tộc Việt Nam. Mục tiêu cao nhất của Đảng là giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đấu tranh vì độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và từng bước tiến tới xã hội cộng sản. Đảng là một tổ chức chặt chẽ thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh; đồng thời thực hiện các nguyên tắc tự phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới 15 tuổi, với hơn 5000 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng tháng Tám thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 2 tháng 9 năm 1945) – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Với sự quy tụ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành chiến thắng vĩ đại trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; thống nhất đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đạt được “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” trong công cuộc đổi mới, đưa đất nước vững bước hội nhập quốc tế và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Chủ nghĩa Mác – Lênin, là kết tinh ở tầm cao trí tuệ nhân loại, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ; là một học thuyết cách mạng, khoa học giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới, về những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy con người, về những con đường cách mạng để xóa bỏ chế độ bóc lột, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản.
 Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Hơn 86 năm qua, với đường lối lãnh đạo đúng đắn, nền tảng tư tưởng vững vàng,  đội ngũ cán bộ - đảng viên luôn kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đội ngũ đảng viên của chúng ta xứng đáng với tên gọi đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng luôn coi trọng  tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận để làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đảng ta luôn luôn kiên định những nguyên lý có tính nền tảng và vận dụng đúng đắn những học thuyết đó vào thực tiễn đất nước ta; kiên quyết sửa chữa sai lầm khuyết điểm nếu mắc phải, lắng nghe ý kiến của nhân dân, đấu tranh khắc phục khuynh hướng giáo điều, quan liêu xa dân. Thực tế, có một thời kỳ lịch sử, Đảng ta có tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam từ Đại hội II (năm 1951) đến trước Đại hội IV(năm 1976). Tuy tên gọi của Đảng khác nhau để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhưng bản chất của Đảng là đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân thì không hề thay đổi. Đại hội Đảng lần thứ IV, toàn thể các đại biểu đều nhất trí với tên gọi như thời kỳ đầu thành lập Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam; đó là sự phù hợp với mục tiêu, lý tưởng và bản chất của Đảng. Hiện nay, với tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam với những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử đã ghi sâu đậm trong trái tim nhân dân và bạn bè quốc tế. Do đó, việc đổi tên Đảng là sự không cần thiết, thậm chí còn gây lãng phí và tốn kém cho việc phải sửa chữa và hiệu đính lại các văn bản, giấy tờ, điều đó đi ngược lại với di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: điều gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, điều gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.
Thực chất đằng sau luận điệu đề nghị đổi tên Đảng là biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, xét lại dưới hình thức khác nhau, hòng làm mơ hồ ảo tưởng trong quần chúng nhân dân và xóa bỏ sự tồn tại mô hình đảng cộng sản thực chất là để tìm kiếm tuyên ngôn không cộng sản trong thế kỷ XXI. Từ việc đề nghị đổi tên Đảng đến việc từ bỏ hệ tư tưởng của Đảng là một việc làm trong gang tấc, rồi đến thay đổi điều 4 trong Hiến pháp quy định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Đây là những giọng điệu thể hiện một kịch bản rất sâu xa nằm trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ra sức kích động.

Bài học rút ra từ sự đổ vỡ của Liên Xô có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, trong đó có việc tự đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, làm cho chế độ bị sụp đổ nhanh chóng. Do vậy ở nước ta hiện nay, ai đó có vô tình hay hữu ý, là đảng viên hay không phải đảng viên, là người trong nước hay ở ngoài nước hãy thức tỉnh và có ý nghĩ đúng về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay cũng như mãi mãi về sau. Chúng ta có thể khẳng định rằng, không có một đảng phái chính trị mới nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo dân tộc, lãnh đạo nhân dân, đúng đắn và đạt được thành tựu vẻ vang như Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, giữ nguyên tên gọi: “Đảng Cộng sản Việt Nam”, vừa là tình cảm, vừa là trách nhiệm cao cả của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn là lương tri và hòn đá thử tình yêu với Đảng, với dân tộc của mỗi người dân Việt Nam. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã diễn ra và thành công tốt đẹp, tiếp tục đưa ra những quyết sách rất quan trọng để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn cách mạng mới và sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, trong đó có nội dung tiếp tục lãnh đạo công tác xây dựng Đảng. Đảng ta từ khi ra đời đến nay đã lãnh đạo dân tộc ta giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thực sự là một đảng “đạo đức và văn minh”, là “người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân”, đang ra sức thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN XẤU, XUYÊN TẠC VỀ CUỘC BẦU CỬ QUỐC HỘI KHÓA XIV VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2016-2021


Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, sẽ được tổ chức vào ch nhật (ngày 22/5/2016). Đây là một ngày hội lớn của toàn dân – ngày mà cử tri cả nước thực hiện quyền cao cả là bầu cử để lựa chọn ra các đại biểu có đủ phẩm chất, năng lực, để tham gia đảm nhiệm có hiệu quả đến công việc của đất nước, của cấp trung ương đến các địa phương. Tuy nhiên, gần đây, trên internet xuất hiện nhiều trang mạng núp bóng “truyền thông xã hội”, đưa tin, giật tít rầm rộ, như “giúp phổ biến kiến thức cho người tự ứng cử và cử tri”, “thúc đẩy quá trình dân chủ hóa”, “cung cấp các thông tin hữu ích về ứng cử, bầu cử dành cho các ứng viên tự do và cử tri”... Thực tế nội dung của các bài viết trên là những thông tin mang tính chủ quan cá nhân, thông tin không đúng sự thật... Như một phản ứng dây chuyền, có kịch bản từ trước, một số trang mạng và báo, đài hải ngoại của tổ chức phản động nước ngoài (Đối thoại, Đàn chim Việt, RFI, RFA..., đã từng đăng tải các tin bài xuyên tạc về Đại hội lần thứ XII của Đảng), tăng cường đăng tải những bài viết có nội dung sai trái, xuyên tạc về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.
          Một số người tự cho là “cấp tiến”, “yêu nước”, đã hô hào vận động tranh cử trên mạng, có nhóm lập facebook “Vận động ứng cử đại biểu Quốc hội 2016” nhưng hoạt động như một tờ báo điện tử, ngang nhiên cử người xưng là “phóng viên” đi phỏng vấn, viết bài “đánh bóng”, lăng xê một số người tự ứng cử thuộc nhóm “xã hội dân sự”. Các cá nhân này đã vi phạm các quy định của pháp luật: điều 20, Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý hoạt động thông tin điện tử trên internet; điều 65, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân: Về hình thức vận động bầu cử, có hai hình thức: Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử và thông qua phương tiện thông tin đại chúng (được quy định tại điều 67 của Luật này).
          Một s trang mạng và đài, báo nước ngoài đưa ra các luận điệu xuyên tạc: “Cuộc bầu cử này là không chính danh, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”. Họ bày tỏ rõ ý định phá hoại cuộc bầu cử, “Hãy tranh cử để ít nhất là làm cho Đảng phải mệt hơn, tốn tiền đối phó”(!). Trên trang của cái gọi là “Hội nhà báo độc lập Việt Nam” họ phát động “thảo luận đầu xuân” về tự ứng cử đại biểu Quốc hội và đưa ra tuyên bố yêu cầu “xóa cơ chế Đảng cử, dân bầu”...Thực tế chứng minh, chính những người đưa ra các luận điệu trên đã quên mất rằng, mỗi quốc gia có một thể chế chính trị khác nhau và ở Việt Nam, việc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc bầu cử đã được hiển định rõ ràng trong điểm 1, điều 4, Hiến pháp năm 2013 “Đảng Cộng sàn Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội ở một số các khóa gần đây cho thấy, tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII (năm 2007) có 30 người tự ứng cử, Quốc hội khóa XIII (năm 2011) có 82 người tự ứng cử. Số người tự ứng cử được lọt vào vòng chính thức để kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII (18%) cao hơn kỳ Quốc hội khóa XII (12%). Đáng chú ý là, có người 2 lần liền tự ứng cử đại biểu Quốc hội đều trúng. Tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV này, cả nước đã có 154 người tự ứng cử, tăng nhiều hơn so với các nhiệm kỳ trước. Điều đó đã bác bỏ một số ý kiến quy chụp cho rằng, bầu cử đại biểu Quốc hội ở Việt Nam chỉ là sân chơi “độc diễn” của Đảng, không có cửa cho các ứng cử viên tự đo (!).
        Trong thời gian gần đây, trên mạng xã hội và đài, báo nước ngoài xuất hiện nhiều thông tin về việc những người tự ứng cử bị “gây khó dễ”, “phân biệt đối x; thậm chí có người còn cho rằng “đang có một chiến dịch “tẩy chay”, “đấu tố” những người tự ứng cử”... Vậy, sự thực là gì? Một số cá nhân tự ứng cử đại biểu Quốc hội khỏa XIV kỳ này mà họ muốn tham gia, có người là thành viên Đảng Dân chủ Việt Tân, đã tham gia phiên điều trần tại Hạ viện Mỹ; và đã tụ tập đông người trái pháp luật (vi phạm Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 18-3-2005 của Chính phủ)... Ngoài ra, còn có người tự ứng cử có nhiều phát ngôn, bài viết trên mạng xã hội có nội dung thiếu văn hóa, phản cảm, cổ vũ các đối tượng nhân danh và lợi dụng bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ môi trường… tụ tập đông người gây rối nơi công cộng. Việc làm của họ được chính quyền nơi cu trú ghi nhận xét vào lý lịch, được nhân dân nơi cư trù đóng góp, phê bình và không tín nhiệm, không thể coi là bị phân biệt đối xử, bị đấu tố.
Cần phải khẳng định rằng, tiến trình bầu cử Quốc hội ở nước ta tuân thủ một quy trình chặt chẽ, dân chủ, bình đẳng, khách quan, với tinh thần “thượng tôn pháp luật”. Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn bầu cử của Bộ chính trị (khóa XI), thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các ban ngành, đoàn thể Trung ương… đến nay, công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đã hoàn tất, đảm bảo đúng tiến độ, tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật. Sau khi kết thúc ba vòng hiệp thương, ngày 26/4/2016, Văn phòng Quốc hội đã họp báo công bố danh sách 870 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV. Trong đó, đại biểu do Trung ương chiếm tỷ lệ 38,97%; 204 người dân tộc thiểu số, chiếm 23,34%; 268 người dưới 40 tuổi, chiếm 30,80%; 97 người ngoài Đảng chiếm 11,155; 11 người tự ứng cử.
Niềm vui của toàn Đảng, toàn dân ta trên khắp mọi miền Tổ quốc, không khí náo nức đợi chờ ngày hội lớn đã thể hiện, lan tỏa trong mỗi người dân Việt Nam. Thành công của cuộc bầu cử sẽ tạo cơ sở vững chắc để nhân dân ta tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời, đó cũng là bằng chứng thuyết phục nhất để bác bỏ các luận điểm sai trái, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rằng, trong thời gian trước ngày bầu cử và sau bầu cử, các thể lực thù địch sẽ vẫn tiếp tục xuyên tạc chống phá cuộc bầu cử với nhiều hình thức, thủ đoạn… với tinh thần cảnh giác và kiên quyết của mỗi người dân Việt Nam thì những âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch sẽ bị vạch trần và không thể thực hiện được mưu đồ xấu xa của chúng. Thực tế cho chúng ta thấy, với lịch sử 70 năm phát triển và không ngừng hoàn thiện, Quốc hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng với kỳ vọng của nhân ta. Qua XIV lần bầu cử đã diễn ra trong lịch sử dân tộc, luôn thể hiện sự tôn trọng quyền tự do dân chủ của mỗi cử tri, các quy trình theo đúng luật pháp; do vậy, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 tất yếu thành công tốt đẹp, là một bước tiến để đi đến mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC CỦA TƯ TƯỞNG “TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” CỦA LÊNIN

Tư tưởng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Lênin với những nét lớn nêu trên có giá trị thực tiễn lịch sử to lớn. trước hết là công phá tư duy cũ về Tổ quốc - tư duy đã kìm giữ các giai cấp, tầng lớp xã hội bị áp bức trong khuôn khổ “bảo vệ Tổ quốc tư sản”, để các Đảng cộng sản không ủng hộ các nhà nước tư sản trong cuộc chiến tranh đế quốc, mà kiên quyết trong hành động cách mạng lật đổ các chế độ chuyên chế phong kiến và tư sản. Có thể nói không có quan niệm đó của Lênin thì khó có thể ra đời chính thể cộng hòa  xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga, sản phẩm của cuộc cách mạng Tháng Mười năm 1917.
Với quan niệm thống nhất Tổ quốc với chế độ xã hội chủ nghĩa trong xây dựng bảo vệ đất nước, đã phát huy tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở cố kết chặt chẽ các dân tộc trong liên bang với tuyệt đại đa sô nhân dân lao động, nòng cốt là liên minh giai cấp vô sản với nông dân nghèo dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản mà đứng đầu là Lênin. Đó là một nhân tố có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để nước Nga có sức mạnh giữ vững được chính quyền Xô Viết non trẻ, bị thù trong giặc ngoài tấn công uy hiếp. Chiến thắng vang dội toàn cầu của nhân dân Liên Xô trong đại chiến thế giới thứ II cứu tổ quốc mình và nhân loại khỏi tai họa phát xít càng biểu hiện giá trị thực tiễn của quan niệm về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Lênin.
Tư tưởng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Lênin vẫn có giá trị hiện thực với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Đảng cộng sản Việt nam vẫn nghiêm túc tuân thủ phương pháp luận được rút ra tư tưởng của Lênin về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong xác định đường lối cách mạng của mình. Cương lĩnh của đảng năm 1991 về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng nước ta, đã khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mặc dù, trước tình hình Liên xô sụp đổ, Đảng ta vẫn giữ vững niền tin “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội”, trên cơ sở nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (trong đó có phương pháp luận của Lênin về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa) và thực tiễn quá trình đổi mới với những thành công ban đầu rất quan trọng cùng với sự phân tích những nguyên nhân dẫn đến sụp đổ của Liên Xô sau 70 năm xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây không phải là một sự áp đặt chủ quan của những người cộng sản như ý kiến của một số người theo khuynh hướng bác bỏ tính từ xã hội chủ nghĩa của Tổ quốc ta ngày nay, viện lý do giản đơn với tính từ đó của Tổ quốc, dân mình không còn nước đề mà yêu. Nói thẳng ra thì với động cơ và lập luận khác nhau, khuynh hướng đó đều nhằm bác bỏ chủ nghĩa xã hội. Nếu là thuần túy vấn đề nhận thức, thì chắc chắn tư tưởng Tổ quốc xã hội chủ ghĩa của Lênin có khả năng giải đáp được. Với quan niệm không có Tổ quốc thuần túy đứng ngoài sự tiến triển của các tổ chức xã hội thì Tổ quốc ta trong thời điểm lịch sử ngày nay không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa và sẽ rơi vào con đường tư bản chủ nghĩa. Đương nhiên chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang định hướng xây dựng là với tư duy đổi mới. Có thể người ta nghĩ đến con đường thứ Ba nào đó. Nhưng đó là một ý tưởng phiêu lưu. Nhãn tiền, những thử nghiệm về các cuộc “cách mạng màu sắc” ở một số nước đang trên đà phá sản. các nhà nước tư sản do các đảng xã hội dân chủ cầm quyền dù có tích cực điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó có vận dụng những bài học của các nước xã hội chủ nghĩa như họ thừa nhận, vẫn không giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản vốn tồn tại thâm căn cố đế trong các nước tư bản chủ nghĩa.
Sự phản bác chủ nghĩa xã hội còn từ sự sụp đổ của Liên Xô, mà người ta quy kết đó là sai lầm của đảng cộng sản và Lênin đã đưa nước Nga vào con đường xã hội chủ nghĩa. Nói ngược lại mới đúng. Có thể nói chính vì quên tư tưởng của Lênin về “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” mới sảy ra tai họa đó. Khách qua mà nhìn nhận, sự sụp đổ của Liên Xô có nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân khá rõ ràng là sự thiếu cảnh giác của Đảng cộng sản và nhân dân Liên Xô đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi đế quốc Mỹ đã thay đổi chiến lược chống phá hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới, trọng điểm là Liên Xô sử dụng cái mà về sau Nich Xơn công khai “chiến thắng không cần chiến tranh”. Trong chiến tranh lạnh, các nhà lãnh đạo Liên Xô quan tâm hàng đầu là chạy đua vũ trang với Mỹ, để giành ưu thế quân sự đối phó với chiến tranh xâm lược mà it quan tâm tới âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội bằng phương pháp phi vũ trang.

Sự kiện này đã cảnh báo cho Đảng và quân dân ta trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng. Hơn bao giờ hết, luận điểm của Lênin về “bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc” phải được quán triệt trong việc quán triệt nghị quyết của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, không chỉ là bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, mà còn bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Đảng và mọi thành quả cách mạng, bảo vệ định hướng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng đối phó với âm mưu vũ trang bạo loạn lật đổ và chiến tranh xâm lược công nghệ cao, đồng thời chống lại có hiệu quả chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bao gồm cả “tự diễn biến” từ trong nội bộ hệ thống chính trị do đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa và suy thoái đạo đức, lối sống, của cán bộ, đảng viên.

MẤY VẤN ĐỀ VỀ TƯ TƯỞNG “TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” CỦA LÊNIN

1. Quan hệ hữu cơ giữa Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa
Thuật ngữ “Tổ quốc” vốn dĩ được thông hiểu là một khái niệm nhân bản, có nghĩa là một Lãnh thổ được xác định trên đó có một cộng đồng dân cư sinh sống lâu đời và tạo nên ở đó một nền văn hóa đặc thù. Mỗi cư dân không phân biệt giai cấp, dân tộc, chính kiến, tôn giáo, đều thấm đậm nét đặc thù văn hóa đó, nếu không phải là người mất gốc. Đó là nét vĩnh hằng của Tổ quốc. Song thực tế lịch sử cho thấy, Tổ quốc không phát triển độc lập, bên ngoài xã hội theo tiến trình lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội, khiến tổ quốc mang tính lịch sử. Tính lịch sử này quy định bởi phương diện chính trị xã hội, tiêu biểu là tồn tại mỗi tổ quốc một chế độ xã hội, một kiểu nhà nước nhất định. Lênin đã làm sáng tỏ nhận thức này trong quan niệm về Tổ quốc của mình. Ông viết: “Tổ quốc nghĩa là hoàn cảnh chính trị, văn hóa và xã hội là một nhân tố mạnh mẽ nhất trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản.”[1] Tuy tổ quốc và chế độ xã hội không đồng nhất về khái niệm, nhưng có sự thống nhất trong thực tế. Trước khi tổ quốc xã hội chủ nghĩa ra đời, giai cấp nào thống trị trong xã hội thì giai cấp đó làm chủ Tổ quốc. Dưới chủ nghĩa tư bản nhân dân lao động không có quyền làm chủ Tổ quốc, mà thực hiện nghĩa vụ của mình với Tổ quốc, thông qua nhà nước của giai cấp tư sản. Chỉ khi giành được quyền làm chủ xã hội, thì họ mới làm chủ Tổ quốc. Vì lẽ đó, Lênin viết: “chính những tổ quốc tư sản là những cái đang phá hủy, làm sai lạc, phá vỡ, cắt xén, mối liên hệ sinh động” giữa công dân Đức với nước Đức và tạo ra một mối liên hệ giữa nô lệ và chủ nô. Thực sự chỉ có phá hủy những Tổ quốc tư sản mới có thể mang lại cho công nhân tất cả các nước “mối liên hệ với ruộng đất”, quyền tự do nói tiếng mẹ đẻ của mình, cũng như bánh mỳ và nền văn minh”[2]. Sự phân tích trên cho thấy rõ cần phải đấu tranh cho một Tổ quốc mới ra đời thay thế Tổ quốc tư sản. Đó là tổ quốc xã hội chủ nghĩa - một tổ quốc mà nhân dân lao động được giải phóng khỏi kiếp nô lệ, tự tạo trên mọi miền đất nước nếp sống dân chủ, tổ chức, kỷ luật, nền văn hóa thống nhất, sự tác hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng của toàn dân, làm chủ sản xuất, phân phối sản phẩm và đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình và cách mạng thế giới.
2. Tổ quốc hùng mạnh trên cơ sở xây dựng chủ nghĩa xã hội
Khẳng định kiểu tổ quốc xã hội chủ nghĩa để tổ chức, động viên giai cấp công nhân và nhân dân lao động đứng lên đánh đổ chế độ phong kiến, chế độ tư bản giành quyền làm chủ tổ quốc  là điều quan trọng thứ nhất như nêu trên đây. Điều quan trọng nữa trong tư tưởng của Lênin về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là xây dựng Tổ quốc Nga hùng mạnh phồn vinh trong một nền hòa bình bền vững, bằng việc đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Với ý tưởng đó, trong một thời gian đó, nước Nga đã có những biến chuyển rõ ràng về chế dộ xã hội. Lênin viêt: “chúng ta đã đi suốt đất nước mênh mông của ta, từ đầu nọ đến đầu kia, trong một cuộc tiến quân chiến thắng khải hoàn của chủ nghĩa bônsêvích. Chúng ta đã đưa những tầng lớp dưới nhất trong số các tầng lớp quần chúng cần lao, bị chế độ Nga hoàng và giai cấp tư sản áp bức, lên chỗ tự do và lên một cuộc sống độc lập. chúng ta đã thiết lập và củng cố nền cộng hòa Xôviết, một kiểu nhà nước mới, vô cùng cao hơn và dân chủ hơn những nền cộng hòa đại nghị tư sản hoàn thiện nhất. chúng ta đã thiết lập nền chuyên chính của giai cấp vô sản được nông dân nghèo ủng hộ, và đã bắt đầu chương trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đại quy mô”[3]. Và nước Nga sẽ trở thành hùng mạnh và dồi dào…nếu nó hiểu rằng chỉ có thể tự giải thoát bằng con đường duy nhất là con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa quốc tế mà chúng ta bước vào…đó là con đường dẫn đến chỗ tạo ra sự hùng mạnh quân sự, sự hùng mạnh xã hội chủ nghĩa”
3. Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với tính dân tộc và tính nhân loại
Đáp lại những luận điệu của những phái đối lập với chủ nghĩa Mác- Lênin, cho rằng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản chỉ nhằm giải phóng giai cấp vô sản và thiết lập mối quan hệ quốc tế của giai cấp đó, trong tư tưởng của mình về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Lênin cũng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa truyền thống dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại. Người cho rằng, xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa không hề phủ định lòng “tự hào dân tộc Nga”. Cũng trên tinh thần vạch rõ sự khác nhau của tổ quốc ở các chế độ khác nhau. Người vạch rõ lòng tự hào dân tộc Nga “không chỉ có tình trạng tàn sát đại quy mô, hàng dãy giá treo cổ, những ngục tối, những nạn đói lớn và thái độ cực kỳ quỵ lụy trước bọn giáo trưởng, bọn Nga hoàng, bọn địa chủ, bọn tư bản” mà ở chỗ “dân tộc đại Nga cũng đã tạo nên một giai cấp cách mạng, cũng đã chứng minh là có khả năng nêu cho nhân loại những tấm gương vĩ đại đấu tranh cho tự do và chủ nghĩa xã hội”. và chúng ta yêu mến ngôn ngữ và tổ quốc chúng ta; điều mà chúng ta cố gắng hơn hết để thực hiện là nâng quần chúng lao động của Tổ quốc ta lên trình độ sinh hoạt giác ngộ của những người dân chủ và những người xã hội chủ nghĩa”[4] chống lại ý đồ tạo nên một nền văn hóa đặc biệt - “văn hóa vô sản”, ngoài giáo dục quốc dân, Lênin đã vạch rõ: “phát triển nền văn hóa thực sự vô sản”, chẳng những không vứt bỏ những thành tựu thực sự quý báu của thời đại tư sản, mà trái lại, còn tiếp thu và cải tạo tất cả những gì là quý báu trong hơn hai nghìn năm phát triển của tư tưởng và văn hóa nhân loại”[5].
4. Bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc
Đây là quan điểm rất quan trọng trong tư tưởng về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Lênin. Ông viết: “kể từ ngày 25 tháng Mười chúng ta là những người chủ bảo vệ Tổ quốc. chúng ta tán thành bảo vệ Tổ quốc, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc, bảo vệ nước cộng hòa Xô Viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[6]. như vậy, với chế độ xã hội chủ nghĩa đã được thiết lập, thì mục tiêu bảo vệ Tổ quốc- xét riêng nước Nga, cũng là bảo vệ chủ nghĩa xã hội và ngược lại bảo vệ chủ nghĩa xã hội cũng là bảo vệ Tổ quốc. Xét rộng ra toàn thế giới, luận điểm ấy còn xác định sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Nga cũng mang ý nghĩa bảo vệ một bộ phận của chủ nghĩa xã hội thế giới. 
Trên thực tiễn, “nước cộng hòa liên bang Xô viết Nga nhất trí lên án những cuộc chiến tranh ăn cướp, từ nay nhận tháy mình có quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chống lại tất cả các cuộc xâm lược có thể xảy ra”. Trong đó nổi lên là phải bảo vệ cho được các thành quả xã hội chủ nghĩa, tiêu điểm là chính quyền Xô viết, một nhà nước kiểu mới tạo khả năng cho quần chúng lao động tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ xã hội mới. Với quan niệm mất chủ nghĩa xã hội, đối với nhân dân lao động Nga cũng là mất tổ quốc, nên về phương thức bảo vệ Tổ quốc, cùng đối phó với chiến tranh xâm lược và nội chiến phản cách mạng là đã đối phó với hoạt động phi vũ trang cách mạng (tuy Lênin chưa dùng thuật ngữ này) như kẻ thù sử dụng sách báo để chống chủ nghĩa Lênin và Đảng cộng sản (b) Nga, kích động nhân dân lật đổ chính quyền Xô Viết.



[1] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t17, tr. 230
[2][2] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t26, tr. 151
[3] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t36, tr. 98.99-100
[4] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t26, tr. 128
[5] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t41, tr. 400
[6] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t36, tr. 102

VẬN DỤNG HỌC THUYẾT CỦA LÊNIN VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XHCN VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo học thuyết của Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc từ năm 1954 và trên cả nước từ sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Đảng ta đã đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo và đã lãnh đạo hiện thực hóa nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chế độ xã hội. Vì thế từ năm 1975 đến nay, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được bảo vệ vững chắc, tạo cơ sở cho việc tổ chức và triển khai công cuộc xây dựng đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trên đất nước ta.
Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm, xác định đúng đắn quan điểm đường lối bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa và đã coi đây là một bộ phận không thể thiếu trong đường lối lãnh đạo toàn diện mọi mặt xã hội của mỗi nhiệm kỳ. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới của Đảng ta từ năm 1986 đến nay đã hai lần đề ra chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho phù hợp với tình hình mới, đó là Nghị quyết trung ương 8 khóa IX và Nghị quyết trung ương 8 khóa XI. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới của Đảng ta phản ánh sự trung thành với học thuyết bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin, nhưng đồng thời có sự sáng tạo trong sử dụng thuật từ và phát triển một số nội dung như nghệ thuật xác định bạn thù; đưa ra hệ thống những quan điểm, phương châm chỉ đạo thực hiện mục tiêu, phương thức, lực lượng; những giải pháp có tính khả thi nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Trong khuôn khổ có hạn, chỉ thể hiện một số nội dung nổi bật và cụ thể sau đây:
Luôn luôn dự báo đúng đắn tình hình  khu vực và thế giới,t xác định đúng các tình huống chiến lược để không bị động bất ngờ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng, bởi suy cho cùng Đảng ta không tự áp đặt phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; mà do những yếu tố khách quan và từ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù luôn có hành động chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước quy định, chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sau mười năm thực hiện chiến lược bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Đảng ta cho rằng tình hình đã có sự thay đổi cần đánh giá cho đúng: “So với 10 năm trước, tình hình thế giưới và khu vực đã có nhiều thay đổi sâu sắc, có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất trắc, khó lường. Đông Nam Á trở thành địa bàn cacnhj tranh quyết liệt về thị trường và tài nguyên; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn biến phức tạp. Đã xuất hiện một số loại hình chiến tranh kiểu mới, như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng, sử dụng sức mạnh mềm qua các hoạt động kinh tế, ngoại giao, văn hóa kết hợp với “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ…hết sức nguy hiểm”(Nghi quyết T.Ư 8 khóa XI, HN, 2013, tr167-168). Trong điều kiện đó, Đảng ta luôn trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết của V.I.Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù hợp đưa ra dự báo bốn tình huống chiến lược có thể xảy ra sát với hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở nước ta hiện nay.
Đảng ta đưa ra nghệ thuật, quan điểm biện chứng trong xem xét đối tượng, đối tác; khẳng định những vấn đề rất cơ bản của nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Về mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định rất đầy đủ và toàn diện như giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước; bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Về phương thức bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay là kết hợp phương thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang để bảo vệ Tổ quốc; tổ chức và động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tạo nên lực lượng tổng hợp để bảo vệ tổ quốc; phát huy sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, sức mạnh dân tộc và sức mạnh quốc tế sức mạnh của truyền thống và hiện đại trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với bảo vê Tổ quốc theo tư duy mới.
Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, chăm lo xây dựng tiềm lực đất nước mạnh lên về mọi mặt và thực hiện bảo vệ tổ quốc từ xa. Nắm vững và vân dụng nhuần nhuyễn bài học của cha ông ta là “Dựng nước đi đôi với giữ nước”; “ giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Đảng ta luôn chú trọng xây dựng phát triển tiềm lực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng - an ninh không ngừng được củng cố và tăng cường. Đặc biệt, phải chú trọng giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất. Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI của Đảng đã nhán mạnh: “Xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại để bảo vẹ tổ quốc” ( tr169).
Xác định rõ lực lượng, trách nhiệm bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là của cả hệ thống chính trị, của toàn dân; trong đó công an nhân dân và quân đội là lực lực nòng cốt. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đặc biệt là xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò tổ chức, quản lý, điều hành của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các tổ chức chính trị - xã hội và tính tích cực chính trị, tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ công dân của mọi người Việt nam yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, cả người Việt nam trong và ngoài nước luôn hướng về tổ quốc, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Làm rõ giá trị lý luận bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta càng tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hện nay đạt được nhiều thành tựu hơn nữa. Tự hào về Đảng ta bao nhiêu thì cũng đáng phê phán những người có dã tâm làm bồi bút bán rẻ niềm tự hào của dân tộc, bán rẻ lương tâm và trách nhiệm công dân của mình với những luận điệu vô cảm đã cho rằng: “ Vì Đảng ta theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã xảy ra hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ”; do phải tiến hành hai cuộc kháng chiến đó mà nhân dân Việt Nam đã phải hy sinh nhiều sức người, sức của nên đất nước lâm vào cảnh đói nghèo kéo dài...Bản chất của những luận điệu đó là muốn hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng giải phóng dân tộc, từ đó để phủ nhận vai trò trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của những luận điểm sai trái này là muốn phủ nhận  bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin; kích động, chia rẽ đoàn kết giữa Đảng với nhân dân và phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn để đưa nước ta theo quỹ đạo của tư bản chủ nghĩa…./.

LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Sau khi C.Mác và Ph.Ăngghen mất, V.I.Lênin đã bảo vệ, kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác cả về bề rộng và chiều sâu của các nguyên lý cho phù hợp điều kiện thực tiễn mới. Một trong  những nguyên lý mà V.I.Lênin kế thừa, phát triển là tư tưởng vũ trang quần chúng để bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra. Vận dụng vào trong điều kiện lịch sử mới; từ thực tiễn công cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô viết non trẻ, bảo vệ nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời, sau khi cuộc cách mạng Tháng Mười năm 1917 Nga giành thắng lợi. V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển hệ thống tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, xây dựng nên học thuyết bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một bộ phận quan trọng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin. Thực tiễn tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội qua gần một thế kỷ, cũng như trong điều kiện hiện nay cho thấy, lý luận của V.I.Lênin  về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa vẫn giữ nguyên giá trị, là cơ sở định ra đường lối chiến lược để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới cũng như ở Việt Nam.
Lý luận về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin đã nêu lên các vấn đề cơ bản, toàn diện, có tính nguyên tắc và mang tính hệ thống với các nội dung như về tính tất yếu khách quan phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức, và sức mạnh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, quản lý của nhà nước đối với công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, về xây dựng và củng cố khả năng quốc phòng của đât nước, về việc thành lập các tổ chức quân sự, xây dựng quân đội kiểu mới (Hồng quân) để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; về vấn đề vũ trang bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Sự tài tình của V.I.Lênin là đã sớm đưa ra dự báo khoa học về khả năng nổ ra và giành thắng lợi của cách mạng xã hội và nhận rõ quy luật khách quan phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin đã đi từ sự phân tích một cách có cơ sở khoa học cả về lý luận và thực tiễn từ quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản và khẳng định sẽ xuất hiện khâu yếu trong hệ thống mắt xích của chủ nghĩa tư bản, ở mắt xích đó là thời cơ diễn ra cách mạng xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “chủ nghĩa xã hội không thể đồng thời thắng lợi trên tất cả các nước. Trước hết, nó thắng lợi trong một nước, hoặc một số nước, trong khi các nước khác trong một thời gian nào đó, vẫn còn là những nước tư sản hay tiền tư sản. Tình trạng đó không như sẽ gây ra những va chạm, mà còn làm cho giai cấp tư sản các nước tư sản khác trực tiếp muốn tiêu diệt giai cấp vô sản chiến thắng của các nước xã hội chủ nghĩa”[1]. Dự báo đó đã diễn ra trong hiện thực, một nước xã hội chủ nghĩa ra đời đã tồn tại bên cạnh những nước tư bản chủ nghĩa, hai chế độ xã hội hoàn toàn đối lập nhau về bản chất và lợi ích nên tất yếu sẽ diễn ra xung đột. Từ sự nắm vững quy luật khách quan, giáo dục nhận thức cho giai cấp vô sản, chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, Lênin đã khẳng định: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường quyền thống trị cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không chỉ có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”[2]. Vì vậy, cùng với việc tổ chức đấu tranh giành chính quyền, từng bước tiến hành xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì một trong nhiệm vụ chiến lược mang tính tất yếu là tiến hành bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây không phải là mong muốn chủ quan của giai cấp công nhân, của các nhà nước xã hội chủ nghĩa mà là sự phản ánh tính chất gay go quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp, những âm mưu thủ đoạn của các nước tư bản chủ nghĩa, đế quốc chủ nghĩa luôn tìm mọi cách để lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa nhằm lấy lại trận địa đã bị mất.
Thực tế chứng minh từ trước khi nổ ra cách mạng thánh Mười năm 1917, V.I.Lênin đã chuẩn bị những tiền đề lý luận để chuẩn bị cho nhiệm vụ bảo vệ những thành quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngay sau khi cách mạng thắng lợi, người đã tỏ rõ thái độ nhất quán và chỉ rõ hành động là phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; và cảnh báo cho đảng, cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động của nước Nga Xô viết rằng, giai cấp vô sản sau khi nắm được chính quyền cách mạng phải sẵn sàng đối phó với chính phủ tư sản tập hợp lực lượng chống lại nhà nước non trẻ. Giai cấp vô sản phải tập hợp quần chúng nhân dân lao động sẵn sàng tiến hành cuộc đấu tranh gian khổ chống lại các nước đế quốc xâm lược có tiềm lực mạnh, được trang bị hiện đại về mặt kỹ thuật và được tổ chức rất chặt chẽ. Chỉ rõ về tính tất yếu khách quan của việc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin đã khẳng định: “kể từ ngày 25 tháng Mười 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ Tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách Tổ quốc, bảo vệ nước cộng hòa Xô viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội”[3].
Trong hệ thống lý luận của V.I.Lênin còn đề cập tới mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc, bảo vệ Nhà nước Xô viết non trẻ, bảo vệ thành quả cách mạng. Trong điều kiện công cuộc bảo vệ Tổ quốc chủ yếu phải chống lại cuộc tấn công bằng vũ trang của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch mưu toan lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa, hòng giành lại trận địa đã mất, thì trong phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin  đặc biệt nhấn mạnh đến việc giai cấp vô sản và quần chúng lao động phải tiến hành một cuộc chiến tranh bằng vũ trang để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đề cập đến lực lượng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Người nhấn mạnh lực lượng của quần chúng lao động, của công – nông - binh dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự tổ chức quản lý của chính quyền Xô viết, Lênin đã chỉ ra sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sức mạnh tổng hợp, cả sức mạnh vật chất và tinh thần. Đặc biệt, trong điều kiện còn có những khó khăn nhất định về vật chất, về vũ khí trang bị kỹ thuật, Người đã  chú trọng đến việc xây dựng và phát huy sức mạnh tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin cho rằng: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”[4]. Bên cạnh đó, Người đã quan tâm đến việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước Xô viết trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người chỉ rõ: “Ban chấp hành Trung ương yêu cầu tất cả các tổ chức của đảng, trước tiên phải đem toàn lực ra để thực hiện những biện pháp sau đây, mà các tổ chức của đảng, và nhất là các công đoàn phải thi hành, nhằm làm cho các tầng lớp đông đảo của giai cấp công nhân tham gia tích cực vào công cuộc phòng thủ đất nước”[5].
Bàn về xây dựng, củng cố sức mạnh của nền quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin đã đề cập đến hàng loạt các vấn đề như cơ sở của sức mạnh quốc phòng; mục tiêu; nhiệm vụ; tính chất và biện pháp để xây dựng, củng cố tiềm lực và thế trận quốc phòng. V.I.Lênin đã chỉ rõ vai trò xây dựng và phát huy mạnh mẽ ưu thế nhân tố chính trị - tinh thần của chế độ mới và con người mới, vì đây là sản phẩm và là cơ sở quyết định sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa hơn hẳn chủ nghĩa tư bản. V.I.Lênin còn chỉ rõ, cơ sở sâu xa khác quyết định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là việc thực hiện thắng lợi công cuộc cải tạo và xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, vì quá trình này sẽ tạo ra cơ sở vật chất mới để không ngừng hiện đại hóa nền quốc phòng, hiện đại hóa lực lượng vũ trang, quân đội cách mạng. V.I.Lênin đã  yêu cầu cao về thái độ nghiêm túc trong xây dựng tiềm lực quốc phòng để bảo vệ tổ quốc. Người khẳng định: “Chính vì chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc, nên chúng ta phải đòi hỏi phải có một thái độ nghiêm túc đối với vấn đề khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chuẩn bị chiến đấu của nước nhà”. Theo V.I.Lênin, sự nghiệp xây dựng và củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của nhà nước chuyên chính vô sản là vừa tổ chức xây dựng, quản lý và  vừa bảo vệ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đây cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và sự tổ chức, quản lý của nhà nước vô sản “Nghĩa vụ tuyệt đối của quần chúng lao động là đem hết sức mình ra để khôi phục và tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước”[6] và Người yêu cầu mọi người phải có thái độ nghiêm túc đối với nhiệm vụ phòng vệ đất nước.

Một trong những vấn đề quan trọng trong lý luận về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin là xây dựng quân đội kiểu mới. Người cho rằng, để tiến hành chiến tranh chống lại kẻ thù thì phải tổ chức ra đội quân thường trực, chính quy được trang bị và huấn luyện đầy đủ, muốn vậy cần thành lập quân đội công nông. Cho nên vào đầu năm 1918, V.I.Lênin đã ký sắc lệnh thành lập Hồng quân và hải quân công nông. Đồng thời, Người đã chỉ rõ những vấn đề rất cơ bản về lý luận xây dựng quân đội kiểu mới, nhất là những vấn đề về bản chất giai cấp, tính chất, chức năng, nhiệm vụ của quân đội, về những nguyên tắc trong tổ chức và xây dựng quân đội kiểu mới…
V.I.Lênin còn chỉ rõ mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Sau khi giai cấp vô sản đập tan nhà nước tư sản, giành được chính quyền chỉ là bước đầu và nhiệm vụ tiếp theo là giai cấp công nhân còn phải tổ chức lãnh đạo toàn dân xây dựng chế độ mới về kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội…Đây là nhiệm vụ mà Lênin cho là khó khăn nhất, vì vấn đề là phải cải biến một cách mới mẻ những cơ sở sâu xa nhất - những cơ sở kinh tế đời sống của hàng chục triệu con người và cũng là nhiệm vụ cao cả nhất. vì chỉ có sau khi hoàn thành nhiệm vụ ấy thì mới làm cho nước nhà thực sự trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế, Người đã đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đi đôi với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin viết: “Một khi chúng ta đã bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết của chúng ta, thì chúng ta sẽ đem hết sức mình đề tiến thành công cuộc đó không ngừng. đồng thời hãy chăm lo đến khẳ năng quốc phòng của nước ta và hồng quân ta như chăm lo con ngươi của mắt mình”[7]
Một trong những cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin thể hiện rõ sự gắn kết giữa kế thừa tư tưởng của C.Mác – Ph.Ăngghen với tổng kết, khái quát thực tiễn mới nâng lên thành học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đến nay, ở các nước xã hội chủ nghĩa đã khẳng định giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.



[1]V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t30, tr. 173.
[2] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t38, tr. 165-166.
[3] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t36, tr. 102
[4] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t41, tr. 147

[5] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t38, tr. 325
[6] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t36, tr. 153
[7] V.I.Lênin: toàn tập,Sdd, t44, tr. 368