Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyên gia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyên gia. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

CHUYÊN GIA NGA: VIỆT NAM CẦN RÚT RA BÀI HỌC TỪ SỰ KIỆN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ

Việt Nam nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng phải phân tích kỹ quá trình sụp đổ của Liên Xô. Đó là ý kiến của ông Grigory Trofimchuk, chuyên gia Nga trong lĩnh vực chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh, Chủ tịch Hội đồng Chuyên gia Quỹ nghiên cứu Á-Âu, khi trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân Điện tử nhân sự kiện 30 năm ngày thông qua tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của Liên Xô (26-12-1991/ 26-12-2021).

Phóng viên (PV): Nhiều ý kiến cho rằng, chính dân chủ phương Tây, chủ nghĩa dân tộc và việc phá hoại quân đội là những nguyên nhân khiến Liên Xô sụp đổ. Ông có nhận định như thế nào về ý kiến này?

Chuyên gia Trofimchuk: Có hai yếu tố chính dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. Yếu tố thứ nhất, đó là con người, khi Mikhail Gorbachev trở thành Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, người không phù hợp với vị trí như vậy. Yếu tố thứ hai là sự phổ biến của lối sống phương Tây trong dân chúng, gồm thời trang, âm nhạc, hàng tiêu dùng…

Ngày nay, một số chuyên gia kinh tế cho rằng, Liên Xô dường như sụp đổ là do giá dầu thấp. Điều này không đúng, bởi nền kinh tế Liên Xô được xây dựng theo cách mà nó không quá phụ thuộc vào những nguyên liệu thô bán ra nước ngoài.

Chủ nghĩa dân tộc nở rộ khi cơ cấu và sức mạnh của Liên Xô bắt đầu sụp đổ một cách rõ ràng. Đó là nhiều phần tử cực đoan nhận thấy mọi thứ đều có thể xảy ra, kiểm soát xã hội bị suy yếu và ảnh hưởng chính quyền trung ương sụt giảm mạnh. Mọi việc bắt đầu từ những cuộc nổi lên của người Tatar ở Crimea và làn sóng bất bình ở Kazakhstan liên quan đến việc bổ nhiệm một người dân tộc Nga giữ chức vụ đứng đầu Cộng hòa Crimea.

Sau đó, Karabakh “nổ tung”, mà trên thực tế nó đã làm nổ tung lan ra cả nước. Hơn nữa, chuỗi biểu tình toàn quốc này không thể dừng lại được nữa. Tiếp đó diễn ra theo dây chuyền các cuộc đấu tranh mang sắc thái dân tộc ở các nước cộng hòa vùng Baltic, Gruzia, Transnistria, nội chiến ở Tajikistan…

Trong khi đó, Mikhail Gorbachev ngay từ đầu tỏ ra mình như “người ngoài cuộc”, không liên quan gì đến những cuộc đụng độ đang diễn ra ở các nước cộng hòa. Chính điều này càng làm kích động thêm những diễn biến tiêu cực, kích động lòng hận thù lan rộng. Khi có ý kiến cho rằng, Gorbachev dường như đã có kế hoạch cải tổ, thì điều này cũng không phù hợp với thực tế, vì hệ thống dưới thời ông ta đã bắt đầu sa sút, trong khi ông ta đã tự ý áp dụng một số giải pháp.

Về vấn đề hệ tư tưởng, tức là dân chủ, công khai hóa và cải tổ, thì đó là một chủ đề riêng biệt. Chính vì điều này mà rất nhiều người dân Liên Xô trong nhiều thập kỷ sau đó đã căm ghét thuật ngữ “dân chủ”, cho rằng nó liên quan trực tiếp với những kẻ đã làm sụp đổ một cường quốc rộng lớn, những kẻ không đem lại điều gì bình thường và đã cướp bóc những thứ còn sót lại của đất nước. Đối với hàng chục triệu người dân, những “nhà dân chủ” tượng trưng cho sự sụp đổ.

Quân đội và các cơ quan sức mạnh đã hiểu tất cả và cố gắng ngăn chặn sự sụp đổ vào tháng 8-1991. Tuy nhiên, người dân của đất nước đang trên đà tan rã lúc đó đã chống lại họ với lập luận rằng, những cơ quan đó bảo vệ chế độ cũ kỹ, lỗi thời, trong khi phía trước là một nền dân chủ tỏa sáng và là lối thoát khỏi “bức màn sắt”. Thậm chí khi đó còn không ai hiểu, không thể hình dung được nền dân chủ phương Tây sẽ mang lại điều gì trên thực tế.

PV: Ông có suy nghĩ như thế nào về những sai lầm trong việc quản lý văn hóa - tư tưởng và báo chí, cũng như về việc bỏ dạy học chủ nghĩa Mác-Lênin trong nhà trường, bởi những điều này cũng đã góp phần đáng kể khiến Liên Xô tan rã?

Chuyên gia Trofimchuk: Bộ máy tuyên truyền của Liên Xô luôn từng là một trong những bộ máy mạnh nhất trên thế giới, cũng như trong lịch sử nhân loại nói chung. Đây là một thực tế không thể chối cãi và được công nhận rộng rãi.

Tuy nhiên, công tác tuyên truyền cũng cần phải thay đổi theo thời gian, theo nhu cầu từng giai đoạn, trong đó có thực trạng và sự phát triển văn hóa đại chúng ở phương Tây. Chẳng hạn, nếu Liên Xô không ngăn cấm dòng nhạc mới và thời trang, mà ngược lại, nên củng cố và phát triển xu hướng này, thì Liên Xô đã cho thấy rằng, không chỉ trong ngành không gian vũ trụ, mà còn trong những lĩnh vực này họ là nước tiên phong trên thế giới.

Liên Xô lẽ ra phải đi đầu trong mọi lĩnh vực, bởi chế độ của nó được coi là đã ở thời kỳ tốt nhất vào thời điểm đó. Chẳng hạn, trong những thập niên từ 1960 đến 1980, nước này đã sản xuất những bộ phim hay nhất được đưa vào quỹ văn hóa thế giới vàng.

Thậm chí ngày nay, nhiều người say sưa xem những bộ phim này, có người còn xem đi xem lại rất nhiều lần. Nhưng cuối cùng, thời trang và âm nhạc phương Tây đã lấn át mọi thứ. Đối với thiếu niên Liên Xô, việc nghe nhạc trong nước hay đi dạo trong trang phục Liên Xô là mất thể diện.

Nói đến tư tưởng chính trị, thì phải công nhận rằng, lãnh đạo Liên Xô cũng đã cố gắng quan tâm đến mong muốn thực sự của người dân. Chẳng hạn, dưới thời Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, hình ảnh của Stalin đã xuất hiện trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, đặc biệt là trong các bộ phim, và điều này đã gây ấn tượng mạnh.

Nhưng về tổng thể thì hệ thống này đã bị hủy hoại bởi một điều mà không ai ngờ tới, đó là sự qua đời của 3 Tổng bí thư liên tiếp chỉ trong vòng 3 năm, gồm Brezhnev, Andropov và Chernenko. Và sau đó thì xuất hiện Mikhail Gorbachev. Nhưng điều đã xảy ra thì không thể thay đổi được nữa, vì không ai có thể trở về quá khứ.

Học thuyết Mác-Lênin nhất định phải được phát triển có tính đến những thay đổi diễn ra trên thế giới, nhưng hiện không ai làm điều này và cũng không có những nhà tư tưởng như vậy để làm. Nhưng Lênin vẫn không ở lại phía sau chúng ta, mà là đang ở phía trước. Rồi thời đại của Người chắc chắn sẽ quay trở lại sau bao năm bị lãng quên, cố tình im lặng về nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử nước Nga này.

PV: Việt Nam cần rút ra những bài học gì cho mình từ sự kiện Liên Xô sụp đổ, thưa ông?

Chuyên gia Trofimchuk: Việt Nam nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng phải phân tích kỹ quá trình sụp đổ của Liên Xô. Nhưng điều quan trọng nhất là phải rút ra được bài học chính xác nhất về nguyên nhân thực sự dẫn đến sự sụp đổ của cường quốc vĩ đại, đất nước từng có gần một thế kỷ đi đầu về hệ tư tưởng tiên tiến nhất thế giới. Vấn đề chính ở đây là công tác nhân sự, là những con người cụ thể nắm giữ các vị trí lãnh đạo.

Khi nhà nước không tìm kiếm, không chuẩn bị kỹ đội ngũ cán bộ, cũng không chú trọng đến yếu tố quan trọng nhất là con người trong bộ máy của mình, thì chắc chắn nhà nước đó sẽ bị hủy hoại. Thậm chí sẽ còn tệ hơn nữa, khi những người cơ hội bằng cách nào đó ngồi vào những vị trí cấp cao.

Ngạn ngữ Nga có câu: “Cha đạo thế nào, giáo xứ thế đó”, hay “Người đánh cá từ xa đã nhận ra nhau”. Câu ngạn ngữ này ý nói là, người ở vị trí cao sẽ luôn chọn những người tương tự mình. Đây là bài học lớn và nghiêm khắc nhất mà Việt Nam cần rút ra. Cần phải có chế tài nghiêm khắc cho những ai không xứng đáng với sự tín nhiệm dành cho anh ta. Với những việc làm do chính bàn tay mình tạo ra, thì Gorbachev đã không xứng đáng với lịch sử và nhân dân. Những việc làm đó đi ngược lại mọi chuẩn mực cơ bản về đạo đức và trách nhiệm, mà trước hết là trong xã hội Nga.

Hiện Việt Nam đứng trước trọng trách lịch sử to lớn, đó là phải chứng tỏ được rằng, sự sụp đổ của Liên Xô không liên quan gì đến hệ tư tưởng và cũng hoàn toàn không phải vì hệ tư tưởng mà dẫn đến sự sụp đổ đó.

PV: Xin cám ơn ông về cuộc phỏng vấn này!

QUỐC KHÁNH (thực hiện)

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2018

PHẢI CHĂNG VIỆT NAM SẮP VỠ NỢ?

Mặc dù tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam trong năm 2017 và 5 tháng đầu năm 2018 rất tốt, thế nhưng một vài người núp dưới danh nghĩa "chuyên gia kinh tế" vẫn cố tình phủ nhận thành quả đó. Họ cho rằng Việt Nam sắp vỡ nợ thì tình hình thực tế đang chứng minh điều ngược lại. Các tổ chức quốc tế đều đang đánh giá cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trong đó, hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s đã nâng mức xếp hạng tín nhiệm của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “ổn định” lên “tích cực”. Hãng tin Bloomberg đánh giá VND là một trong những đồng tiền ổn định nhất khu vực châu Á.
Mới nhất, trung tuần tháng 5 này, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings (Mỹ) vừa thông báo nâng xếp hạng nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ (IDR) của Việt Nam từ mức “BB-” lên “BB” với triển vọng “ổn định”. Fitch Ratings cũng đánh giá Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, với mức tăng trưởng GDP 6,7% trong năm nay. Hãng xếp hạng này cũng nhận xét khả năng phòng, chống các cú sốc kinh tế từ bên ngoài của Việt Nam đã được cải thiện, thể hiện ở việc dự trữ ngoại hối tăng từ 37 tỷ USD cuối năm 2016 lên 49 tỷ USD năm 2017. Fitch Ratings dự báo dự trữ ngoại hối của Việt Nam sẽ tăng lên khoảng 66 tỷ USD vào cuối năm 2018, tương đương 3,1 tháng nhập nhẩu. Dòng vốn vào mạnh và khả năng tích lũy đã giúp thanh khoản hệ thống ngân hàng tăng.
Theo đánh giá quốc tế, nợ công của Việt Nam vẫn nằm trong giới hạn an toàn. Fitch Ratings cho rằng Chính phủ Việt Nam đã thực hiện được cam kết duy trì mức nợ công và cải cách doanh nghiệp Nhà nước. Tổ chức này ước tính, tổng nợ chính phủ của Việt Nam giảm về 52,4% GDP năm 2017 từ mức 53,4% năm 2016, trong khi nợ chính phủ bảo lãnh giảm về 9% GDP vào cuối năm 2017 từ mức 10,3% cuối năm 2016. Nhờ đó, nợ công của Việt Nam giảm còn 61,4% GDP cuối năm 2017 từ mức 63,6% cuối năm 2016, và dưới mức trần 65% GDP. Theo ước tính của Fitch Ratings, nợ chính phủ của Việt Nam sẽ tiếp tục giảm và về dưới mức 50% GDP vào năm 2019, nhờ nguồn thu từ chương trình cổ phần hóa.
Như vậy có thể thấy, "sức khỏe" tài chính công của Việt Nam đang khá tốt. So sánh với nền tài chính công của một số nước trên thế giới, ngay cả những nước có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam, không ai không thấy được sự tích cực của nền tài chính công Việt Nam. Ví dụ hiện nay, Italy đang có khoản nợ công lên tới 132% GDP.
Ông Alwaleed Alatabani-chuyên gia tài chính của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam khẳng định: Việt Nam đạt được lạm phát thấp và tăng trưởng GDP cao những năm gần đây là kết quả và minh chứng của việc điều hành chính sách tiền tệ mạnh mẽ, kiên định. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thành công trong việc cân bằng giữa phát triển kinh tế và sự ổn định, bền vững. TS Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, thì cho rằng: “Chúng ta có thể tin tưởng khẳng định rằng, gam màu sáng là chủ đạo trong bức tranh của hệ thống ngân hàng và tiền tệ Việt Nam”.
Thước đo sức mạnh của một nền kinh tế được thể hiện khá rõ trên thị trường chứng khoán. Theo đánh giá của hãng tin Bloomberg thì Việt Nam đang trở thành thị trường chứng khoán phát triển nhanh nhất, có nhiều thương vụ IPO lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Trong năm 2017, các thương vụ IPO của Việt Nam tăng lên đến 6 tỷ USD. Bloomberg cho rằng, chứng khoán trên thị trường Việt Nam còn đắt hơn cả nhóm cổ phiếu công nghệ ở Thâm Quyến (Trung Quốc).

PHẢI CHĂNG MỨC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM ĐANG ĐI XUỐNG?

Về nhận định mức sống của người dân Việt Nam đi xuống thì thực tế không ai có thể tin nổi. Bởi theo WB, mức sống ở Việt Nam đang được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm và các tầng lớp tiêu dùng mới mở rộng nhanh chóng. Cụ thể, báo cáo "Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam" của WB cho thấy, số dân Việt Nam được phân loại là an toàn về kinh tế lên 70%, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu. Số người nghèo ở Việt Nam từ 18 triệu vào năm 2010 đã giảm xuống còn khoảng 9 triệu vào năm 2016. 72% người nghèo ở Việt Nam nằm ở miền núi, vùng sâu, vùng xa; WB dự báo người nghèo ở khu vực này sẽ tiếp tục giảm với chính sách khuyến khích trồng cây công nghiệp có giá trị cao để tăng thu nhập trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. 
Nghiên cứu của Công ty tư vấn Boston Consulting Group (BCG) cũng cùng chung nhận định trên khi cho rằng, tầng lớp trung lưu đang phát triển với tốc độ nhanh chóng ở Việt Nam. Theo đó, tầng lớp trung và thượng lưu với mức thu nhập từ 714USD/tháng trở lên ở Việt Nam tăng lên mức 33 triệu người trong thời gian 2014-2020. Trong khi đó, Công ty nghiên cứu thị trường Nielson ước tính, dân số thuộc tầng lớp trung lưu của Việt Nam sẽ đạt mức 44 triệu người vào năm 2020 và 95 triệu người vào năm 2030.
Theo Solidiance-công ty tư vấn chiến lược hàng đầu tại châu Á, giai đoạn 2012-2016, Việt Nam là quốc gia có nhu cầu tiêu thụ ô tô tăng trưởng nhanh nhất khối ASEAN. Nếu tính riêng quãng 2015-2016, Việt Nam có nhu cầu tiêu thụ ô tô đạt tăng trưởng 36%, trong khi Indonesia chỉ tăng nhẹ 5%, Thái Lan giảm 4% và Malaysia giảm 13%. Có thể nói, nhu cầu mua ô tô mới là một biểu hiện rõ ràng của mức sống người dân đi lên.
Trong Báo cáo thịnh vượng 2017 (Wealth Report 2017) được Công ty Knight Frank công bố, Việt Nam là một trong số các quốc gia có số người siêu giàu tăng nhanh hàng đầu thế giới. Theo báo cáo này, năm 2016, Việt Nam có 200 người siêu giàu (mỗi người sở hữu từ 30 triệu USD trở lên), tăng 32 người so với báo cáo năm trước đó và tăng 50 người so với năm 2014. Theo đó, tốc độ tăng người siêu giàu đạt 170%. Knight Frank dự báo, trong vòng một thập kỷ tới, Việt Nam sẽ có 540 người siêu giàu.
Tất cả những đánh giá tích cực, mang tính khách quan nêu trên của các cơ quan, tổ chức quốc tế, cũng như sự phấn khởi của người dân trước sự cải thiện thấy rõ của đời sống là những câu trả lời rõ ràng cho những nhận định thiếu thiện chí của một số cá nhân về nền kinh tế Việt Nam. Trong số này có những người luôn tỏ rõ thái độ hằn học với sự đi lên của kinh tế-xã hội, của đời sống nhân dân Việt Nam, của sức mạnh dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng những cố gắng câu kết với thế lực bên ngoài để bôi nhọ nền kinh tế-xã hội Việt Nam của họ là vô nghĩa bởi thực tế đã chứng minh tất cả. 

PHẢI CHĂNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ĐANG TRONG ĐÀ SUY THOÁI?

Có thể thấy đây là nhận định hoàn toàn bịa đặt. Thực tế cho thấy, kinh tế Việt Nam đang thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao của thế giới: Năm 2017 đạt 6,81%; quý I-2018 đạt 7,38% (cao nhất trong 10 năm qua). Điểm nổi bật là trong quý I-2018, cả 3 khu vực kinh tế đều tăng cao hơn cùng kỳ: Nông nghiệp được mùa, tăng 4,05% (cùng kỳ 2,08%); công nghiệp và xây dựng tăng 9,7% (cùng kỳ 4,48%), trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng mạnh với mức 13,56%; dịch vụ tăng 6,7% (cùng kỳ 6,36%). Tổng cầu của nền kinh tế tiếp tục tăng; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2018 tăng 9,8%, loại trừ yếu tố giá còn tăng 8,5% (cùng kỳ tăng 7%). Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI-thể hiện sức mua của nền kinh tế) đạt 52,7 điểm, đứng trong nhóm đầu ASEAN. Nền kinh tế Việt Nam hiện đang là nền kinh tế xuất siêu. Năm 2017, xuất siêu 2,9 tỷ USD; 4 tháng năm 2018 xuất siêu 3,39 tỷ USD.
Trong số báo cuối tháng 3, tờ Les Echos của Pháp có bài viết đánh giá về nền kinh tế Việt Nam. Trong đó, ông Julien Marcilly, chuyên gia kinh tế nổi tiếng của Tập đoàn tài chính Coface nhận định, nền kinh tế Việt Nam đang có những đặc trưng thường thấy của một “con hổ châu Á”, như: Tăng trưởng mạnh ở mức hơn 6% được duy trì từ nhiều năm nay; đầu tư nước ngoài tương đương 6,2% GDP vào năm 2016; thị trường nội địa năng động nhờ vào hơn 90 triệu dân; cơ cấu kinh tế được đa dạng hóa và nâng cấp, không còn chỉ dừng ở ngành dệt may mà chuyển hướng sang lĩnh vực điện tử. Cùng chung nhận định trên, hãng tin Bloomberg đánh giá Việt Nam có thể sẽ trở thành công xưởng của thế giới tiếp theo ở châu Á. Điều này đang nhanh chóng trở thành sự thật bởi rất nhiều công ty công nghệ lớn của thế giới đang đầu tư vào Việt Nam. Trong đó, Tập đoàn Samsung đã đầu tư vào Việt Nam 17 tỷ USD, với các nhà máy sản xuất ra 1/3 sản lượng của tập đoàn này trên toàn thế giới. Theo tờ The Economist, các nhà đầu tư nước ngoài đang nhìn Việt Nam là một nền kinh tế tự do hóa đầy hấp dẫn.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ SỬ DỤNG CHUYÊN GIA TƯ SẢN

Hiện nay có một số quan điểm nhận thức không đúng, hoặc cố tình phủ nhận, xuyên tạc quan điểm của V.I.Lênin về sử dụng chuyên gia tư sản. Do vậy, cần phải nắm rõ quan điểm của ông về vấn đề này.
Thứ nhất, thái độ của V.I.Lênin khi xem xét chủ nghĩa tư bản là thái độ hết sức biện chứng. V.I.Lênin cho rằng: “Không có kỹ thuật đại tư bản chủ nghĩa được xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có một tổ chức nhà nước có kế hoạch khiến cho hàng chục triệu người phải tuân theo một cách nghiêm ngặt… thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”;
Thứ hai, nhận thức rõ hơn về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. “chủ nghĩa tư bản độc quyền – nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội…” và, “chủ nghĩa tư bản tư nhân… đóng vai trò trợ thủ cho chủ nghĩa xã hội…; đó là một sự thật kinh tế hoàn toàn không thể chối cãi được”… 
Thứ ba, tất yếu phải sử dụng các chuyên gia tư sản. V.I.Lênin cũng có rất nhiều quan điểm rõ ràng và đúng đắn. Người cho rằng: “Một người cộng sản thông minh không sợ phải học một nhà tư bản”; chúng ta phải “nhận ra những chuyên gia nào chân thật và tận tâm, và tính tổng cộng, sử dụng được hàng nghìn, hàng vạn chuyên gia quân sự…; đối với các kỹ sư, các giáo viên, chúng ta làm việc này còn rất kém… Chúng ta cũng sẽ học cách làm của các thương gia kinh tế…, các người trung gian làm việc cho nhà nước…, với các chủ xí nghiệp…”; “chớ nên suy tính về “học phí”, chớ có sợ phải trả đắt, miễn là thu được kết quả tốt”.
Thứ tư, điều kiện cơ bản nhất để những người cộng sản không ngần ngại với chủ nghĩa tư bản, với chuyên gia tư sản… thì V.I.Lênin nhấn mạnh đó là: “Chúng ta thể hiện càng đầy đủ nhà nước xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản…” (chứ không phải theo đuôi chủ nghĩa tư bản, chuyển sang chủ nghĩa tư bản).