Hiển thị các bài đăng có nhãn tư sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tư sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

NHẬN DIỆN BẢN CHẤT CỦA QUAN ĐIỂM ĐÒI “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI

Quan điểm trên thể hiện sự áp đặt luật pháp tư sản vào nước ta. Họ đã lấy luật pháp nhà nước tư sản làm “thước đo”, “tiêu chí” pháp lý cho mọi nhà nước, chế độ xã hội. Đó là thứ “triết lý” về chế độ “dân sự quản lý quân sự của nhà nước tư sản”, theo Khoản 8, Điều I, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Ở đó, không có điều luật nào dành cho các nhánh hành pháp và tư pháp quyền ban hành luật pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Đó là sự vay mượn triết lý luật pháp về “chia tách” quyền lực quân sự (một dạng quyền hành pháp) với quyền lập pháp và tư pháp, bằng trích dẫn Khoản 1, Điều II quy định: “Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống Hoa Kỳ”; Khoản 2, Điều II quy định: “Tổng thống sẽ là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân và hải quân Hoa Kỳ và của các lực lượng dự bị ở một số bang”. Còn những người có quyền ban hành pháp luật, thì họ dựa vào Khoản 6, Điều I quy định: “Trong thời gian được bầu làm Thượng nghị sĩ hoặc Hạ nghị sĩ, không một ai sẽ được bổ nhiệm vào một chức vụ dân sự trong chính quyền Hòa Kỳ. Trong thời gian đó,... không một ai đang đảm nhiệm một chức vụ dân sự nào trong chính quyền Hoa Kỳ được bầu vào Quốc hội”.

Đó cũng là sự vin mượn tinh thần pháp lý quân sự tư sản: quá trình bổ nhiệm quan chức quân sự, chỉ đi một hướng từ dân sự sang quân sự mà không có chiều ngược lại; vào Chỉ thị 1344.10 của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, quy định thành viên quân đội không thể “Là ứng cử viên hay nắm giữ bất kỳ chức vụ nào trong bộ máy dân sự”. Năm 2008, luật pháp của Hoa Kỳ quy định, người rời khỏi quân đội ít nhất 7 năm mới được làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Họ cũng dựa vào Điều lệ Nữ Hoàng (Vương quốc Anh), quy định: Nghiêm cấm các thành viên quân đội nắm giữ các vị trí hoạt động tích cực trong các tổ chức chính trị; đồng thời, hạn chế chặt chẽ việc bổ nhiệm vào các vị trí này trong và sau thời gian quân ngũ”, v.v.

Tuy nhiên, điều đã được nhân loại thừa nhận là: luật pháp của một chế độ nhà nước phải do ý chí, nguyện vọng của nhân dân (chủ thể quyền lực của nhà nước đó) quyết định và chỉ có giá trị trong phạm vi quốc gia đó. Do vậy, việc lấy luật pháp của nước này áp đặt cho nước khác là hoàn toàn phi lý. Không thể dùng pháp luật của nhà nước tư sản soi chiếu sang pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, hai loại nhà nước khác nhau về bản chất. Cũng giống như không thể áp đặt luật pháp của Việt Nam lên nhà nước tư sản. Như vậy, quan điểm “dân sự hóa” Quân đội ở Việt Nam là không phù hợp.

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

BẢN CHẤT “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI Ở CÁC NƯỚC TƯ SẢN

Dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, những người có quyền lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của ba nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” (dân quản quân) đã được ghi tạc, ban hành trong luật pháp thì “chắc chắn” việc của quân đội tất yếu là việc của phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng phái nào, phái quân sự nào! Tuy nhiên, trái ngược với những tư tưởng “tam quyền phân lập”, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy một nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” về nó. Muôn vàn ví dụ về quản lý nhà nước đối với quốc phòng của Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới cho thấy rõ điều này. Trên thực tế, dù luật pháp của Hoa Kỳ có chặt chẽ đến đâu thì các chính đảng vẫn can thiệp cả vào lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Hoa Kỳ đã trải qua 45 đời tổng thống, chỉ có tổng thống đầu tiên là G. Washington không thuộc đảng phái nào; còn 44 tổng thống khác đều là người đứng đầu hay đại diện cho các đảng phái khác nhau. Hầu hết các Tổng thống Hoa Kỳ đều nhất quán thực thi đường lối của đảng đã cử mình làm đại diện tranh cử. Ví dụ như, trong quá trình tranh cử, ông Đô-nan Trăm (ứng cử viên đại diện cho Đảng Cộng hòa) tuyên bố sẽ rút quân đội khỏi Trung Đông nếu trúng cử. Và giờ đây khi là tổng thống, Ông đã thực thi đường lối quân sự đó. Như vậy, tư tưởng, đường lối nhất quán của một chính đảng và một tổng thống đắc cử đã thực thi. Do đó, không có cái gọi là “dân quản quân”, mà thực chất là “đảng quản quân”.

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2019

BẢN CHẤT “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI Ở CÁC NƯỚC TƯ SẢN

Dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, những người có quyền lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của ba nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” (dân quản quân) đã được ghi tạc, ban hành trong luật pháp thì “chắc chắn” việc của quân đội tất yếu là việc của phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng phái nào, phái quân sự nào! Tuy nhiên, trái ngược với những tư tưởng “tam quyền phân lập”, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy một nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” về nó. Muôn vàn ví dụ về quản lý nhà nước đối với quốc phòng của Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới cho thấy rõ điều này. Trên thực tế, dù luật pháp của Hoa Kỳ có chặt chẽ đến đâu thì các chính đảng vẫn can thiệp cả vào lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Hoa Kỳ đã trải qua 45 đời tổng thống, chỉ có tổng thống đầu tiên là G. Washington không thuộc đảng phái nào; còn 44 tổng thống khác đều là người đứng đầu hay đại diện cho các đảng phái khác nhau. Hầu hết các Tổng thống Hoa Kỳ đều nhất quán thực thi đường lối của đảng đã cử mình làm đại diện tranh cử. Ví dụ như, trong quá trình tranh cử, ông Đô-nan Trăm (ứng cử viên đại diện cho Đảng Cộng hòa) tuyên bố sẽ rút quân đội khỏi Trung Đông nếu trúng cử. Và giờ đây khi là tổng thống, Ông đã thực thi đường lối quân sự đó. Như vậy, tư tưởng, đường lối nhất quán của một chính đảng và một tổng thống đắc cử đã thực thi. Do đó, không có cái gọi là “dân quản quân”, mà thực chất là “đảng quản quân”.
Một vài ví dụ khác, năm 1950, Tổng thống Mỹ Truman chọn Thống tướng Lục quân G. Marshall mới nghỉ hưu được hơn 5 năm làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong khi Luật An ninh quốc gia Mỹ năm 1947 quy định: “Bộ trưởng phải được chỉ định từ giới dân sự. Đối với cựu quân nhân Mỹ, họ chỉ có thể được đảm đương chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sau 10 năm kể từ khi họ giải ngũ”. Mới đây, ông J. Mattis, Đại tướng, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ, mới nghỉ hưu năm 2013 vẫn được Tổng thống Donald Trump đề cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thượng viện phê chuẩn ngày 20-01-2017, trong khi luật pháp Hoa Kỳ năm 2008 quy định: “người rời khỏi quân đội ít nhất 7 năm mới được làm bộ trưởng quốc phòng” và “quá trình bổ nhiệm quan chức quân sự, chỉ đi một hướng từ dân sự sang quân sự, không có chiều ngược lại”. Điều trên cho thấy nguyên tắc “dân quản quân” đã không được thực hiện triệt để.
Nhiều nước trên thế giới, như: Nga, Ucraina, Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào, Campuchia,… Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thường là quân nhân. Ở Nga, đến năm 2001 mới có ông S. B. Ivanov là người dân sự đầu tiên làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhưng đến năm 2012, Tổng thống V. Putin sử dụng lại người nhà binh, bổ nhiệm Đại tướng S. Shoygu làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Quyết định đó được các chuyên gia quân sự đánh giá cao, cho rằng, người đứng đầu quân đội phải nắm rõ việc quân sự, phải có uy với cấp dưới, khi cần quản lý nhà nước đã có cố vấn, thư ký hỗ trợ; nếu người dân sự làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì sẽ khó thể hiện tính quyết đoán, nhất là giải quyết những vấn đề đột xuất, đòi hỏi quyết đoán nhanh trong điều kiện khó khăn, căng thẳng.
Có thể thấy, bản chất chế định pháp lý người đứng đầu quân đội (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) ở Mỹ và một số quốc gia khác không phải là quân nhân, mà là dân sự, đó không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội mà là sử dụng con người dân sự cụ thể để quản lý công việc quân sự. Tuy nhiên, chế định này không phải lúc nào cũng thực hiện được. Vì vậy, quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội ở Việt Nam, cho rằng “Quân đội chỉ phục tùng Hiến pháp, không phục tùng luật Đảng” chỉ là sự thiếu hiểu biết về tri thức pháp lý và quản lý nhà nước về quốc phòng của một số người mà thôi.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ SỬ DỤNG CHUYÊN GIA TƯ SẢN

Hiện nay có một số quan điểm nhận thức không đúng, hoặc cố tình phủ nhận, xuyên tạc quan điểm của V.I.Lênin về sử dụng chuyên gia tư sản. Do vậy, cần phải nắm rõ quan điểm của ông về vấn đề này.
Thứ nhất, thái độ của V.I.Lênin khi xem xét chủ nghĩa tư bản là thái độ hết sức biện chứng. V.I.Lênin cho rằng: “Không có kỹ thuật đại tư bản chủ nghĩa được xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có một tổ chức nhà nước có kế hoạch khiến cho hàng chục triệu người phải tuân theo một cách nghiêm ngặt… thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”;
Thứ hai, nhận thức rõ hơn về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. “chủ nghĩa tư bản độc quyền – nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội…” và, “chủ nghĩa tư bản tư nhân… đóng vai trò trợ thủ cho chủ nghĩa xã hội…; đó là một sự thật kinh tế hoàn toàn không thể chối cãi được”… 
Thứ ba, tất yếu phải sử dụng các chuyên gia tư sản. V.I.Lênin cũng có rất nhiều quan điểm rõ ràng và đúng đắn. Người cho rằng: “Một người cộng sản thông minh không sợ phải học một nhà tư bản”; chúng ta phải “nhận ra những chuyên gia nào chân thật và tận tâm, và tính tổng cộng, sử dụng được hàng nghìn, hàng vạn chuyên gia quân sự…; đối với các kỹ sư, các giáo viên, chúng ta làm việc này còn rất kém… Chúng ta cũng sẽ học cách làm của các thương gia kinh tế…, các người trung gian làm việc cho nhà nước…, với các chủ xí nghiệp…”; “chớ nên suy tính về “học phí”, chớ có sợ phải trả đắt, miễn là thu được kết quả tốt”.
Thứ tư, điều kiện cơ bản nhất để những người cộng sản không ngần ngại với chủ nghĩa tư bản, với chuyên gia tư sản… thì V.I.Lênin nhấn mạnh đó là: “Chúng ta thể hiện càng đầy đủ nhà nước xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản…” (chứ không phải theo đuôi chủ nghĩa tư bản, chuyển sang chủ nghĩa tư bản). 

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

SỰ KHÁC NHAU GIỮA DÂN CHỦ VÔ SẢN VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN

So sánh và phân biệt dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa) với dân chủ tư sản, V.I.Lênin đã khẳng định: “ dân chủ vô sản là nền dân chủ gấp triệu lần hơn dân chủ tư sản”. Sự khác nhau căn bản giữa hai nền dân chủ đó thể hiện ở bản chất mục tiêu của dân chủ, đó là  ở chỗ dân chủ thuộc về ai. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ của đại đa số nhân dân lao động, đại diện và phục vụ cho lợi ích của nhân dân lao động. Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ thiểu số của giai cấp tư sản, đại diện và phục vụ cho lợi ích của thiểu số bóc lột.
Khác nhau ở bản chất của giai cấp dân chủ: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thông qua sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa; là nền dân chủ nhất nguyên bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng mácxít - Lênin. Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp tư sản, thông qua sự quản lý của nhà nước tư sản; dù có nhiều đảng thay nhau lãnh đạo dưới hình thức đa nguyên, nhưng về bản chất nó vẫn là phục tùng sự lãnh đạo của giai cấp tư sản bóc lột.
Khác nhau ở cơ sở khách quan quy định bản chất giai cấp dân chủ:
Cơ sở khách quan quy định bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, phù hợp với tính chất, trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất, cho phép tạo nên sự bình đẳng về quyền lực của đại đa số nhân dân lao động. Còn cơ sở khách quan quy định bản chất của chế độ dân chủ tư sản là chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thừa nhận chế độ người bóc lột người, tạo nên sự bất bình đẳng, đối kháng sâu sắc về lợi ích trong xã hội.
          Khác nhau ở cơ sở chính trị - xã hội của chế độ dân chủ: Cơ sở chính trị - xã hội của chế độ dân cng dân, chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của giai cấp công nhân, khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, đội ngũ tri thức và các tầng lớp lao động khác dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Còn cơ sở chính trị - xã hội của giai cấp tư sản là bản chất của giai cấp tư sản.
          Khác nhau ở hình thức, cơ chế thực hiện dân chủ: Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện thông qua nhà nước pháp quyền XHCN, còn đối với dân chủ tư sản đó là nhà nước pháp quyền tư sản.
Khác nhau ở mục tiêu của dân chủ: Mục tiêu của dân chủ xã hội xã hội chủ nghĩa là hướng tới giải phóng con người, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân. Thực hiện một nền dân chủ thực sự trên mọi mặt đời sống xã hội. Còn mục tiêu của dân chủ tư sản là nhằm duy trì, thiết lập, bảo vệ lợi ích, sự áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, sự bất công trong xã hội, sự bất bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc, kìm hãm sự tiến bộ, văn minh của nhân loại. Thực hiện một nền dân chủ giả hiệu, giả dối và cắt xén.
Những sự khác biệt căn bản đó là cơ sở để nhận thức, đồng thời là cơ sở để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Đồng thời là cơ sở để đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch phản động xuyên tạc về dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và Việt Nam nói riêng.

Sự khác nhau giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa

Bản chất của dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Dân chủ tư sản là một trong những hình thức chính trị của nhà nước tư sản. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những hình thức chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ chính bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Cơ sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện tiên quyết của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình phát triển do bản chất giai cấp, dần dần tính chất tiến bộ của nền dân chủ tư sản đã bị biến dạng. Từ chỗ quan hệ bình đẳng của công dân trước pháp luật đã thay bằng quan hệ áp bức và bất công, các phúc lợi tự do cá nhân, phần lớn rơi vào lớp người khá giả, giới thượng lưu. Còn những người làm thuê, nhân dân lao động lại ít được hưởng quyền tự do dân chủ thật sự. Ngay cả vấn đề thông tin đại chúng, nhà nước tư bản vẫn rêu rao là tự do, kỳ thực, nó được sử dụng chủ yếu vì lợi ích của những tổ chức độc quyền tư bản lớn. Nhiều nhà tư bản lớn ở phương Tây đã mua các báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình, hãng phim và những phương tiện tuyên truyền khác để thao túng, uốn nắn dư luận xã hội theo ý đồ riêng của mình. Đó là thực chất của chế độ dân chủ tư sản hiện đại. Còn trào lưu xã hội dân chủ vẫn rêu rao là đại diện cho phong trào công nhân quốc tế ngày nay, thực chất là thứ chủ nghĩa xã hội dân chủ cải lương (theo con đường tiến hóa). Nét thể hiện của kiểu dân chủ này là xu hướng thay thế đấu tranh giai cấp bằng hợp tác giai cấp, quan niệm về tính chất "siêu giai cấp" của nhà nước và của dân chủ, quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một phạm trù đạo đức. Lý thuyết này, những người xã hội dân chủ đã áp dụng vào việc quản lý xã hội tại nhiều nước ở phương Tây. Có được khả năng điều khiển bộ máy nhà nước, các vị thủ lĩnh của các đảng xã hội - dân chủ tự cho mình là thầy thuốc bên giường bệnh của chủ nghĩa tư bản. Nhiều đảng xã hội - dân chủ chuyển sang hệ tư tưởng chiết trung, "đa nguyên" và tuyên bố chủ nghĩa xã hội dân chủ là cương lĩnh tư tưởng của họ. Trong thực tế, một số đảng xã hội-dân chủ đã thành đạt trong một số cải cách xã hội. Song, những cải cách ấy, xét cho cùng, vẫn có lợi cho nhà nước tư bản nhiều hơn là lợi cho đại đa số nhân dân nước họ. Rút cục, chính sách thích nghi vẫn lệ thuộc vào chế độ tư bản chủ nghĩa. Những quyền lợi cơ bản về chính trị và kinh tế vẫn nằm trong tay nhà nước tư bản. Một số đảng xã hội - dân chủ thực hiện chính sách hai mặt. Một mặt, họ gắn với nhà nước tư bản, mặt khác, họ lại liên hệ với phong trào công nhân, với công đoàn và các tổ chức quần chúng khác. Hiện nay, phái xã hội-dân chủ vẫn là một lực lượng chính trị - xã hội quan trọng ở những nước tư bản chủ nghĩa phát triển.
Tuy nhiên, trước sự phản ứng của một bộ phận trong công nhân và nông dân, nhiều đảng xã hội - dân chủ đã tính đến sự hòa dịu, ủng hộ chính sách cùng tồn tại hòa bình. Một số đảng xã hội - dân chủ tiến bộ ở châu Âu đã phản đối việc Mỹ gây chiến tranh xâm lược các nước nhỏ bé, vi phạm quyền độc lập dân tộc của họ. Một số người trong phái xã hội- dân chủ thừa nhận tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và có những quan hệ về đảng với đảng cộng sản. Một số chính khách trong cánh tả đã mạnh dạn sửa đổi cương lĩnh của mình. Nhà nước xã hội chủ nghĩa, một mặt, lên án những tư tưởng cải lương, cơ hội của phái xã hội dân chủ, mặt khác, để mở rộng đường dân chủ, cũng chủ trương hợp tác với họ trên cơ sở đáp ứng lợi ích của dân tộc mình. Sự khác biệt về quan điểm nhận thức dân chủ giữa những người cộng sản và những người xã hội-dân chủ được giới hạn bởi những nguyên tắc của nó. Trượt theo bánh xe dân chủ của chủ nghĩa xã hội dân chủ sẽ dẫn đến sự phản bội những tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa mà các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã dày công xây dựng và vun đắp. So với dân chủ tư sản và dân chủ của chủ nghĩa xã hội dân chủ, thì dân chủ xã hội chủ nghĩa là một bước tiến mới trong tư tưởng dân chủ của xã hội loài người. Sự hình thành và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình khách quan do nhiều yếu tố xác định. Sự bình đẳng, công bằng xã hội, tự do cá nhân và quyền lực nhân dân là mục đích có tính chất lịch sử của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cái cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được xác định, đó là quyền lực của nhân dân và tất cả các công dân đều có quyền tham gia vào công việc của nhà nước. 

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

CÓ THỂ TIỆM TIẾN TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ĐƯỢC KHÔNG?


Hiện nay trên nhiều văn đàn, diễn đàn và các trang mạng xã hội có một số quan điểm, thậm chí có cả quan điểm của một số người là đảng viên, trí thức ở các trung tâm khoa học lớn, họ cho rằng: “Trên cơ sở sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ, sự điều chỉnh thích nghi của chủ nghĩa tư bản và sự tham gia của một bộ phận công nhân vào quản lý sản xuất, kinh doanh thì chủ nghĩa tư bản sẽ dần tiệm tiến lên chủ nghĩa xã hội mà không cần phải tiến hành đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội. Như vậy thế giới sẽ giữ được môi trường hòa bình để phát triển, sẽ không xảy ra đổ máu vô ích...”. Vậy một câu hỏi đặt ra là liệu điều đó có thể xảy ra không?
Là những người cộng sản hơn ai hết chúng ta đều có thể khẳng định rằng, điều đó sẽ không thể xảy ra. Khi đi vào nghiên cứu mổ sẻ và phân tích giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch trần bản chất của giai cấp tư sản, chế độ tư bản chủ nghĩa. Đây là chế độ mà lợi ích của chúng luôn gắn liền với sự áp bức, bóc lộ giai cấp công nhân, nhân dân lao động thông qua giá trị thặng dư. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã chỉ ra rằng với bản chất của giai cấp tư sản vì lợi nhuận của nó nó có thể làm tất cả bất chấp mọi thủ đoạn. Thực tế cũng đã chứng minh trong suốt quá trình hình thành và tồn tại, phát triển của giai cấp tư sản, chế độ tư bản thì luôn gắn liền với việc áp bức, bóc lột giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Chủ nghĩa đế quốc vì lợi ích của mình chúng đã tiến hành những cuộc chiến tranh thế giới để mục đích phân chia thị trường gây ra bao đau khổ cho nhân dân lao động.
Mặc dù hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, chủ nghĩa tư bản có điều chỉnh thích nghi, một bộ phận công nhân ở một số nước tư bản có cổ phần được tham gia quản lý sản xuất, tuy nhiên khoa học càng phát triển thì mức độ bóc lột càng cao. Sự điều chỉnh thích nghi cho công nhân tham gia cổ phần và quản lý sản xuất chỉ là vỏ bọc để điều hòa mâu thuẫn giai cấp mà thôi. Tìm hiểu kỹ cho ta thấy tỷ lệ công nhân được tham gia cổ phần trong các doanh nghiệp của các nhà tư sản chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn so với khối tài sản kếch sù của các nhà tư sản. Do vậy mức độ được phân chia lợi nhuận mà người công nhân được hưởng cũng chỉ được một phần rất ít ỏi mà thôi. Theo nhiều số liệu nghiên cứu thì hiện nay ở các nước tư bản phát triển tỷ lệ người giàu chỉ chiếm 10% dân số nhưng đã chiếm đến 90% lượng tài sản. Ngược lại số đông 90% dân số kia chỉ sở hữu 10% lượng tài sản còn lại. Ở góc độ khác ở các nước tư bản phát triển lực lượng giữ vai trò lãnh đạo xã hội thì vẫn là giai cấp tư sản chứ không phải là các giai cấp khác.

Từ những phân tích một cách cơ bản khái quát trên cho thấy sẽ không bao giờ có sự tiệm tiến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các quan điểm đã nêu ở trên là hoàn toàn ngộ nhận, sai lầm, dù vô tình hay cố ý các quan điểm trên cũng tiếp tay cho sự thống trị của giai cấp tư sản bảo vệ cho sự tồn tại của chế độ tư bản. Đồng thời với đó là xóa nhòa mâu thuẫn giai cấp, làm triệt tiêu động lực đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ trong giai đoạn hiện nay./

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

Có phải do thể chế chính trị mà nhân dân bất hạnh và nghèo khổ?

Gần đây, có một số  bài viết đăng trên mạng cho rằng vấn đề “cấp thiết nhất ở Việt Nam hiện nay là đưa dân tộc ra khỏi “NỖI BẤT HẠNH”. Họ quy kết ngay một nguyên nhân dẫn đến “NỖI BẤT HẠNH” của dân tộc Việt Nam hiện nay là do thiết chế chính trị nên nhân dân không có tự do, là nghèo khổ. Thực chất của giọng điệu này là vẫn tiếp tục bài ca không có gì là mới mẻ, đó là: “chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc nhât một đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được”(!); rằng, “ở Việt Nam muốn có dân chủ, muốn nhân dân thoát nghèo thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng như nước ngoài họ đã từng làm”(!). Sự thật về thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay có làm cho nhân dân mất tự do dân chủ, nghèo khổ không?
Với nghĩa dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân mà  Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện nên hiểu là: Một là, chế độ dân chủ đang xây dựng ở Việt Nam là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa – một chế độ dân chủ ưu việt hơn các chế độ dân chủ đã ra đời, tồn tại trong lịch sử (cả chế độ dân chủ tư sản); hai là, thể hiện bản chất của chế độ chính trị mang bản chất của giai cấp công nhân, đây là giai cấp có lợi ích thống nhất với nhân dân lao động; ba là, đây là chế độ dân chủ có cơ chế bảo đảm phát huy quyền làm chủ thực tế cho nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý.
Xét một cách thực chất, đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang bản chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Nói cho cùng, bản chât của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, thậm chí nhiều giai cấp, sự xuất hiện của nhiều đảng là lẽ bình thường. Dù dưới màu sắc dân chủ hay cộng hòa, dân tộc hoặc tôn giáo, tên gọi có khác nhau, nhưng đảng thực chất là đảng chính trị. Đảng thực hiện mục đích chính trị của giai cấp là giành chính quyền, là cầm quyền, dưới nhiều hình thức; tùy thuộc vào điều kiện cụ thể như do tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.
Lịch sử chứng minh không thể có đảng chính trị chung chung phi giai cấp, cũng như không thể có nền dân chủ trừu tượng “vô hạn độ”, không mang tính giai cấp... Hiện nay, xét cho cùng, hoặc chỉ có đảng vô sản hay đảng tư sản và tương ứng là dân chủ xã hội chủ nghĩa hoặc dân chủ tư sản mà thôi. Thực tế chứng minh là đảng chính trị của giai cấp tư sản cầm quyền đem lại dân chủ cho số ít giai cấp tư sản hoặc là đảng vô sản cầm quyền đem lại dân chủ cho đông đảo người lao động. Như vậy, nói tới đảng chính trị là nói tới quyền lãnh đạo xã hội, là nói tới bản chất giai cấp của đảng đó và nói tới dân chủ là nói tới bản chất của giai cấp cầm quyền quyết định, còn chính đảng chỉ giữ vai trò lãnh đạo để đạt được mục đích đó.
Cả về lý luận và thức tiễn cho thấy, khi xem xét mối quan hệ giữa đảng và dân chủ thì vấn đề đặt ra  là đảng nào cầm quyền hay lãnh đạo chính quyền, phải xem nó mang bản chất giai cấp nào? đem lại quyền lực cho ai và quyền lực đó đem lại lợi ích cho ai? Có thể là một đảng lãnh đạo, hoặc nhiều đảng tranh giành hoặc liên minh quyền lãnh đạo xã hội theo chế độ nghị trường. Thực tế chứng minh dù quốc gia nào có chế độ đa đảng nhưng thực chất cũng chỉ có sự lãnh đạo của đảng chính trị, phục tùng lợi ích của một giai cấp sinh ra và thực hiện dân chủ đối với giai cấp thống trị và mất dân chủ với giai cấp bị trị – đó là sự thật về dân chủ ở các thể chế tư sản và ở các quốc gia đa đảng!
Nói đến dân chủ tư sản là nói đến nhà nước tư sản và thứ dân chủ dành cho một số ít người giữ địa vị thống trị xã hội, tức giai cấp tư sản. Dân chủ đó, xét về quy mô: quyền làm chủ xã hội thuộc về số ít và phục vụ cho số ít; về tỉnh chất: quyền làm chủ của số ít để chống lại số đông, sự tự do của giai cấp thống trị chà đạp lên thân phận của giai cấp bị trị và nền độc lập tự do của các quốc gia, dân tộc khác; về hình thái biếu hiện: nhà nước chỉ là của số ít người, dân chủ thành hình thức, tự cho mình cái quyền phán xét người khác, tìm cớ can dự vào nước khác, vi phạm trắng trợn nền độc lập và chủ quyền của các quốc gia, dân tộc khác !!!

Về mục tiêu dân giàu, trong điều kiện nhân dân Việt Nam đã bị đô hộ kéo dài bởi hai đế quốc lớn thay nhau áp đặt để biến nước ta thành nước thuộc địa. Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đã đảm đương sứ mệnh lịch sử cao cả là lãnh đạo nhân dân chiến thắng hai đế quốc lớn để giải phóng dân tộc, đem lại quyền tự do cho nhân dân. Hậu quả chiến tranh xâm lược của đế quốc để lại cho dân tộc rất lớn, Đảng đã huy động sức mạnh tổng hợp vừa giải quyết hậu quả chiến tranh và vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, qua ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội vẫn kiên trì với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh”. Thành tựu nổi bật trong suốt ba mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới là đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo, từ năm 2010 đến nay được thế giới công nhận là nước có thu nhập trung bình và đời sống thực tế của nhân dân đã được cải thiện đáng kế, hộ nghèo giảm mạnh. Quyết tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch quốc hội, Thủ tướng, tuyên thề khi nhận chức vụ trong nhiệm kỳ 2016 – 2020, đều thể hiện rõ quan điểm vì dân, vì sự phát triển và vì lợi ích của đất nước. Mọi hoạt động của thể chế chính trị, của đất nước đều thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”, như vậy nhân dân Việt Nam rất đang tự do, rất đang hạnh phúc thực sự; nếu ai vu khống bịa đặt sai sự thật về thể chế chính trị ở Việt Nam thì chỉ là gây “diến biến”, làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng mà thôi !!!