Hiển thị các bài đăng có nhãn giải phóng dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giải phóng dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÁC ĐỊNH CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam vào phạm trù cách mạng vô sản là sáng tạo lớn đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta. Ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích đúng tính chất xã hội Việt Nam, đề ra đường lối chính trị đúng đắn: trước hết làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản. Điều đó toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu phải đi tới cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH đã quyết định lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia và phương pháp của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Thứ hai, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ là sáng tạo thứ hai của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc; nhờ đó, đoàn kết tất cả mọi lực lượng toàn dân tộc chống đế quốc và giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thứ ba, chủ trương đúng đắn, sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến phải rải từng bước để phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, khi chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức, Đảng ta đã tập hợp lực lượng đông đảo của cả dân tộc: công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ vừa, nhỏ và cả tầng lớp trên trong bộ máy chính quyền phong kiến, tạo nên sức mạnh vĩ đại.

Thứ năm, sáng tạo vĩ đại trong nhận thức về con đường phát triển của cách mạng trong xu thế mới của thời đại, sáng tạo trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra cho mỗi thời kỳ. Nhờ giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, lật nhào ách đô hộ gần 80 năm của chủ nghĩa thực dân, lật nhào chế độ phong kiến thống trị hàng nghìn năm, lập nên chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mở đường cho dân tộc Việt Nam phát triển theo định hướng XHCN.

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÁC ĐỊNH CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam vào phạm trù cách mạng vô sản là sáng tạo lớn đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta. Ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích đúng tính chất xã hội Việt Nam, đề ra đường lối chính trị đúng đắn: trước hết làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản. Điều đó toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu phải đi tới cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH đã quyết định lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia và phương pháp của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Thứ hai, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ là sáng tạo thứ hai của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc; nhờ đó, đoàn kết tất cả mọi lực lượng toàn dân tộc chống đế quốc và giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thứ ba, chủ trương đúng đắn, sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến phải rải từng bước để phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, khi chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức, Đảng ta đã tập hợp lực lượng đông đảo của cả dân tộc: công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ vừa, nhỏ và cả tầng lớp trên trong bộ máy chính quyền phong kiến, tạo nên sức mạnh vĩ đại.

Thứ tư, sáng tạo vĩ đại trong nhận thức về con đường phát triển của cách mạng trong xu thế mới của thời đại, sáng tạo trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra cho mỗi thời kỳ. Nhờ giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, lật nhào ách đô hộ gần 80 năm của chủ nghĩa thực dân, lật nhào chế độ phong kiến thống trị hàng nghìn năm, lập nên chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mở đường cho dân tộc Việt Nam phát triển theo định hướng XHCN.

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

NHỮNG HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Trên hành trình tìm đường cứu nước, cùng với những hoạt động thực tiễn phong phú, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này), đã chủ động, độc lập, tích cực học tập và nghiên cứu lý luận.

Hoạt động học tập lý luận của Người tập trung chủ yếu từ khi đến Anh (năm 1913). Qua những tài liệu đã được công bố cho thấy, trong thời gian sống ở Anh, Nguyễn Tất Thành vừa lao động, vừa tự học tập không ngừng nghỉ. Cùng với vốn tiếng Anh học được, “những năm tháng sống ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích lũy thêm được vốn hiểu biết về chính trị của xã hội tư sản, về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa của một nước tư bản chủ nghĩa sớm phát triển”.

Tác giả John Callow trong bài viết của mình, suy đoán rằng: “Có thể chính trong thời gian ở Luân Đôn, lần đầu tiên Hồ Chí Minh đã đọc các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen. Các tác phẩm này được Twentieth Century Press-cơ quan xuất bản của Đảng Dân chủ xã hội Anh, đặt trụ sở tại tòa nhà Clerkenwell Grenn ở Luân Đôn-xuất bản thành những cuốn sách giá rẻ. Ngày nay, tòa nhà này trở thành Thư viện tưởng niệm C.Mác và có một bức chân dung của Hồ Chí Minh được treo ở hành lang bên ngoài căn phòng nơi V.I.Lênin từng ngồi làm việc vào những năm 1902-1903. Tấm chân dung ấy của Hồ Chí Minh là bằng chứng về mối liên hệ giữa nhà xuất bản và vị khách nổi tiếng của mình”.

Những tri thức lý luận tiếp thu được trong quá trình bôn ba qua nhiều nước và thời gian ở Anh, cho phép Nguyễn Tất Thành có những nhận thức đúng đắn để phân tích tình hình thế giới lúc bấy giờ. Người thanh niên yêu nước ấy đã có những nhận định chính xác về Chiến tranh thế giới thứ nhất, ở cả châu Âu và châu Á khi viết thư gửi Phan Chu Trinh: “Cháu bỗng nhớ cách đây vài tháng, cháu đã nói với Bác về cơn giông sấm động. Số mệnh sẽ còn dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ thắng. Các nước trung lập còn đang lưỡng lự và các nước tham chiến không thể đoán biết được ý đồ của họ. Tình hình diễn ra là ai thò mũi vào thì chỉ có thể đứng về phe của địch thủ bên này hoặc địch thủ bên kia. Người Nhật Bản hình như có ý định nhúng tay vào. Cháu nghĩ trong ba hoặc bốn tháng tình hình châu Á sẽ có chuyển biến và sẽ có nhiều chuyển biến”.

Hoạt động lý luận của Nguyễn Ái Quốc có sự phát triển rõ rệt khi Người trở lại Pháp vào khoảng cuối năm 1917 và gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Trong thời gian này, bằng vốn hiểu biết của mình, Người không chỉ đơn thuần học tập lý luận mà đã tích cực, chủ động viết báo, tham gia các buổi diễn thuyết ở Paris. Trong thời gian sống ở Pháp, tri thức lý luận của Nguyễn Ái Quốc ngày càng được mở rộng. Người hiểu hơn về cuộc chiến tranh thế giới lúc bấy giờ, hiểu được nỗi đau khổ của nhân dân chính quốc và thuộc địa khi phải hy sinh xương máu trên chiến trường vì lợi ích của bọn cá mập tư sản thực dân. Cùng với việc trau dồi vốn tiếng Pháp, Người đã tích cực tới thư viện để nghiên cứu những vấn đề mà mình quan tâm. Ở đây, Người được đọc trực tiếp các tác phẩm của các nhà tư tưởng tiến bộ Pháp cũng như phương Tây, nhất là thời kỳ khai sáng, cận đại.

Bên cạnh đó, Người chủ động tìm đọc các tác phẩm văn học của Shakespeare, Dickens, Huygo, Zola, Anatole France... Nhận thấy vốn kiến thức chính trị của mình còn có những hạn chế nhất định, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia các các cuộc thảo luận với rất nhiều chủ đề, hình thức khác nhau. Tác giả Trần Dân Tiên đã kể lại: “Trong những buổi hội họp nói chuyện ở Paris, người ta thảo luận đến tất cả các vấn đề. Từ thiên văn, địa lý, chính trị, văn học cho đến cách trồng cải soong và nuôi ốc sên. Trong những buổi họp này có tất cả các hạng người: Bác học, cựu bộ trưởng, nghị viên, nhà văn, thợ thuyền, người đi buôn, người già và người trẻ. Ở đây có một không khí thân mật và dân chủ, giống như ở những câu lạc bộ Giacobanh (Jacobins) thời Đại cách mệnh Pháp. Ở đây người ta có thể học nhiều chuyện và nhận xét mọi người. Thật là bổ ích”. Thông qua đó để vừa học hỏi, nắm bắt thêm tình hình, thấy được bầu không khí cách mạng, vừa bày tỏ cho mọi người biết về tội ác của thực dân Pháp ở những nơi mà Người được chứng kiến, cũng như tình cảnh dân tộc của mình. Với những hoạt động trên, tư duy lý luận của Nguyễn Ái Quốc ngày càng phát triển, nhận thức các vấn đề chính trị, cách mạng ngày càng sâu sắc hơn.

Cùng với việc học tập lý luận, Nguyễn Ái Quốc đã bước đầu tiến hành tổng kết những kinh nghiệm, hiểu biết đã tích lũy trong thời gian trước đó, nhất là về vấn đề chủ nghĩa thực dân và vấn đề thuộc địa. Điều này được thể hiện rõ qua nhiều bài báo mà Người đã viết: "Tâm địa thực dân", "Vấn đề dân bản xứ", "Đông Dương và Triều Tiên", "Thư gửi ông Utơrây", "Chính sách thuộc địa"... Qua đó đã thể hiện cái nhìn sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc về nhiều vấn đề của cách mạng, mặc dù chưa nghiên cứu sâu về Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy, thời đại mới chính là “thời đại mà ý muốn của nhân dân là nắm quyền tự quyết”, “Xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường”. Tuy nhiên, thực dân Pháp lại duy trì một nền bạo chính ở các thuộc địa của mình. Điều đó khiến nó tạo ra một sự đối nghịch sâu sắc giữa người bản xứ và bọn thực dân, cả về tâm lý, hành chính, pháp lý, về kinh tế và văn hóa: “Người Âu hưởng mọi tự do và ngự trị như người chủ tuyệt đối; còn người bản xứ thì bị bịt mõm và bị buộc dây dắt đi, chỉ có quyền phải phục tùng, không được kêu ca”.

Với sự từng trải và những ngày tháng miệt mài nghiên cứu, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy: “Từ lâu, chủ nghĩa tư bản phương Tây như con rắn nhiều đầu, thấy châu Âu là nơi quá chật hẹp để bóc lột và máu của vô sản châu Âu không đủ dồi dào để thỏa mãn thèm khát, nó bèn vươn những cái vòi khủng khiếp của nó tới khắp nơi của quả đất. Bọn tư bản Anh, Đức hoặc Pháp, tất cả đều tương xứng nhau”. Và vì vậy, nếu không có những vệ tinh thì chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại. Cho nên “Ngày nay không còn là lúc phải đặt vấn đề Đảng có cần hay không cần một chính sách thuộc địa, bởi ngày nay không thể có sự tách biệt giữa thuộc địa và chính quốc, giữa vô sản ở nơi này và vô sản ở nơi kia”.

Một hoạt động lý luận rất quan trọng của Nguyễn Ái Quốc là soạn thảo (nội dung ý kiến do Người đề ra, luật sư Phan Văn Trường viết), sau đó thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Versailles bản "Yêu sách của nhân dân An Nam". Nó như một đúc kết mong muốn trước mắt của những người yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ. Mặc dù không được chấp nhận nhưng nó như là một tuyên bố chính trị của nhân dân Việt Nam trước thế giới, mở đầu cho việc đòi những quyền dân tộc cơ bản, đồng thời phơi bày bản chất, dã tâm lừa bịp của bọn thực dân, đế quốc với nhân dân các thuộc địa, mở ra một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc. Qua hoạt động này, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy sự cần thiết phải thay đổi trong cách tiếp cận, trong hành động để giải phóng dân tộc: “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”. Vì vậy, không thể tin những lời tuyên bố tự do đầy đường mật của các nhà chính trị tư bản trong chiến tranh mà cần phải tìm kiếm một lý luận, một phương pháp khác.

Những hoạt động tổng kết thực tiễn này có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc có cái nhìn toàn diện về chủ nghĩa thực dân, về tình cảnh, vị trí, vai trò của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới. Vào năm 1920, Người đã chuẩn bị tư liệu và viết một quyển sách về tình hình Đông Dương với nhan đề "Những người bị áp bức". Tuy nhiên, nó đã không ra mắt độc giả vì bản thảo bị mất (nhưng đây cũng là cơ sở để sau này Người viết tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp"), như một sự đánh giá tổng kết về chủ nghĩa thực dân và các dân tộc thuộc địa. Trên cơ sở đó đi đến khẳng định: “Thế giới sẽ chỉ có nền hòa bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thỏa thuận với nhau cùng tiêu diệt con quái vật đế quốc chủ nghĩa ở khắp mọi nơi mà họ gặp nó”.

Từ khi biết được về Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, cùng với đó là việc thành lập Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã để tâm nghiên cứu và có những hiểu biết nhất định về những vấn đề cách mạng. Điều đó được thể hiện qua việc trao đổi với các đồng chí của mình trong Đảng Xã hội Pháp và với nhiều người Việt Nam yêu nước đang ở Paris, cũng như trong diễn thuyết. Vào ngày 11-2-1920, Người đã trình bày đề tài Chủ nghĩa bônsêvích ở châu Á tại Hội nghị những người thanh niên cộng sản quận 2, đồng thời còn trình bày cả vấn đề ruộng đất công ở Trung Quốc và Việt Nam. Cùng với hoạt động thực tiễn, những hoạt động lý luận để tìm đường giải phóng dân tộc là một nhân tố rất quan trọng dẫn Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc đọc "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I.Lênin, đăng trên Báo Nhân đạo (L'Humannite, số ra ngày 16 và 17-7-1920), cộng với những trải nghiệm của mình, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy câu trả lời cho con đường giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào mình sau bao nhiêu năm tìm kiếm- con đường cách mạng vô sản.

Những hoạt động lý luận của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn tìm đường cứu nước không chỉ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc Người tìm thấy con đường cứu nước mà còn định hình cho những hoạt động lý luận sau này của Hồ Chí Minh. Những hoạt động lý luận của Người trong giai đoạn sau chính là sự phát triển, hoàn thiện những nội dung, phương thức hoạt động lý luận của giai đoạn trước đó. Điều này cũng có sức gợi mở rất lớn để vận dụng phương pháp, cách thức của Người nhằm nâng cao chất lượng trong tiến hành các hoạt động lý luận hiện nay.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SỐNG MÃI TRONG LÒNG NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ TRÁI TIM NHÂN LOẠI TIẾN BỘ

Mỗi mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đều gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với Đảng Cộng sản Việt Nam và thời đại Hồ Chí Minh. Đó là thời đại của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần Việt, ý chí và khát vọng Việt trào dâng, nỗ lực đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, mỗi người dân Việt Nam yêu nước đều thấu hiểu sâu sắc rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ xuất thân từ nhân dân, đau cùng nỗi đau nước mất nhà tan với nhân dân, nung nấu một lòng yêu nước nồng nàn, một khát vọng giải phóng đồng bào khỏi những năm tháng bị đọa đầy đau khổ, nên với Người, không có gì là của riêng mà chỉ có hết lòng vì nước, vì dân.

Lịch sử cách mạng Việt Nam và lịch sử thế giới hiện đại ghi nhận rằng, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 không chỉ đem lại vị thế làm chủ, là chủ cho mọi người dân Việt Nam mà còn là minh chứng sinh động cho con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đúng là "trong bóng đêm thuộc địa, trong cơn khô khốc của khát vọng độc lập dân tộc", khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, con đường cứu nước của Người, ngọn cờ độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam do Người đứng đầu giương cao chính là "chiếc phao giữa đại dương tuyệt vọng", đã hấp dẫn và quy tụ quần chúng nhân dân đang sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp; đã cổ vũ mọi người dân Việt Nam yêu nước ủng hộ, tin tưởng và đi theo Đảng, kiên trì đấu tranh cách mạng, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX.

Nhân dân Việt Nam và nhân loại yêu chuộng hòa bình, tự do và công lý trên toàn thế giới đều ghi nhận những cống hiến của Người đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, góp phần để mỗi người được thụ hưởng những giá trị cao cả nhất của quyền con người như Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã nêu chứ không phải như những thông tin vu khống đăng trên mạng xã hội. Bởi rằng, chỉ có một sự thật đúng như Điếu văn do đồng chí Lê Duẩn đọc tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta.  Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta"…

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, GIẢI PHÓNG GIAI CẤP, GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI

Hồ Chí Minh đã vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn và sáng tạo vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong cách mạng Việt Nam.

Hoàn cảnh lịch sử cho sự kết hợp đó là chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, trên thế giới xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa; độc lập, tự do của các dân tộc trở thành vấn đề thời đại, mà C.Mác, Ph.Ăngghen chưa có điều kiện lịch sử để đề cập đến. Từ thực tiễn của nước Nga Sa hoàng và thế giới sau Cách mạng Tháng Mười, V.I. Lênin đã đề cập đến sự kết hợp giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản trong “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”. Tiếc rằng trong những năm sau đó, V.I. Lênin chưa có nhiều điều kiện để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện. Người nắm lấy và vận dụng sáng tạo tư tưởng đó là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. 

Bối cảnh của sự vận dụng tư tưởng của V.I. Lênin là những khảo nghiệm trước đó của Hồ Chí Minh. Trên đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp, hiểu rõ chân lý bất di bất dịch về quyền cơ bản của các dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Vì vậy, khi tiếp cận Luận cương của Lênin lần đầu tiên trên Báo Nhân Đạo của Đảng xã hội Pháp, số tháng 7-2020, Hồ Chí Minh đã coi “đây là cái cần thiết cho chúng ta” và khẳng định “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác cách mạng vô sản”.

- Sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh là đặt mục tiêu giải phóng dân tộc lên trên hết và trước hết. Ngay trong những văn kiện đầu tiên của Đảng, Hồ Chí Minh đã viết về sự cần thiết phải tiến hành "trước làm cách mạng quốc gia (hiểu là cách mạng giải phóng dân tộc) sau làm cách mạng thế giới (tức cách mạng xã hội chủ nghĩa). Từ trong thực tế chỉ đạo cách mạng, năm 1941, khi thành lập Mặt trận Việt Minh, Người chỉ rõ: trong lúc này, phải đem sức ta mà giải phóng cho ta. Độc lập dân tộc lúc này mà không giành lại được, thì quyền lợi giai cấp ngàn vạn năm cũng không đòi lại được. Năm 1946, Người ra lời kêu toàn quốc kháng chiến: “...Thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”. Tư tưởng về việc đặt lợi ích dân tộc lên trên, lên trước được thể hiện cụ thể trong lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước năm 1966 bằng một khẩu hiệu, mang một chân chân lý bất hủ, có giá trị cho mọi thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

-  Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc có sự sáng tạo lớn, khi Người khẳng định chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn của đất nước. Năm 1924, từ sự phân tích đặc điểm giai cấp, dân tộc ở các nước phương Đông, Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”; “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống của họ”. Người kiến nghị về Cương lĩnh hành động của Quốc tế Cộng sản: “Phát động chủ nghĩa dân tộc nhân danh Quốc tế Cộng sản … Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi … nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”.

- Sáng tạo trong tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời đại và được chứng minh bằng thực tế thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Từ quan điểm chung: cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường của cách mạng vô sản; Cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân; “cách mạng không phải là việc riêng của một số người…”; cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc; cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng sự kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang trong nhân dân; được tiến hành dưới hình thức tổng khởi nghĩa toàn dân… Thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập Nhà nước cộng hòa dân chủ Việt Nam, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á đã khẳng định sự sáng tạo trong tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh.

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM 1917

Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã thức tỉnh các giai cấp, các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới và đã vạch ra con đường giải phóng cho các giai cấp, các dân tộc bị áp bức trên hành tinh. Thắng lợi vĩ đại ấy không chỉ có ý nghĩa lịch sử to lớn, để lại cho cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam nhiều bài học quý:
Bài học đồng thời giải quyết tốt hai nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giai cấp; chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa vô sản quốc tế cao cả.  Cách mạng Tháng Mười Nga đã biết chớp thời cơ “biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, phát huy chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa vô sản quốc tế cao cả, thực hiện tốt các nghĩa vụ quốc tế vô sản. Liên Xô thực sự trở thành căn cứ địa, thành trì cách mạng thế giới. Các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được sự ủng hộ giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, vào giai đoạn những năm 1970 -1980, cơ chế quan hệ, hợp tác và tính hiệu quả trong tương trợ, giúp đỡ giữa các nước xã hội chủ nghĩa chưa tốt đã phần nào hạn chế đến sức mạnh của mỗi nước và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Bài học về tính tất yếu phải liên minh giai cấp công nhân- nông dân. Cách mạng Tháng Mười đã xây dựng được khối liên minh công - nông, nhất là liên minh với những người nông dân mặc áo lính, nhờ đó vừa đã phân hoá, làm tan rã kẻ thù vừa tăng cường được lực lượng cách mạng đã làm nên một cuộc cách mạng “Mười ngày rung chuyển thế giới”. Trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, khối liên minh công – nông – trí đã không ngừng được củng cố, tăng cường, góp phần làm nên sức mạnh Xô viết. 
Bài học về sử dụng bạo lực kiên quyết, triệt để, mau lẹ để giành và giữ chính  quyền. Trong Cách mạng Tháng Mười, khi kẻ thù đã sử dụng bạo lực để đàn áp cách mạng, Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã chỉ đạo sử dụng bạo lực, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Quyết định mau lẹ, quyết đoán, sáng tạo, kịp thời đó là một trong  những nguyên nhân quan trọng làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Mười. Trong 70 năm tồn tại, Đảng Cộng sản, Nhà nước Liên Xô luôn chú trọng xây dựng quân đội và hải quân hùng mạnh để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên vào giai đoạn  những năm 1970 – 1980, nhất là trong cải tổ vấn đề này chưa được quan tâm và giải quyết đúng, nên đã phải trả giá đắt. Hiện nay, các thế lực thù địch luôn đe dọa sử dụng vũ lực chống phá cách mạng, thì các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa càng phải tăng cường sức mạnh quốc phòng – an ninh để bảo vệ vững chắc tổ quốc mình. 
Bài học về đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng chống cộng, cơ hội, xét lại. Trong suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền, xây dựng, phát triển đất nước, Lênin, Đảng Bôn sê vich Nga, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng chống cộng của các đế quốc; tư tưởng cơ hội xét lại trong các phái: Mensevích, Khơrútsốp… Tuy nhiên, trong giai đoạn cải tổ, các tư tưởng chống cộng điên cuồng trong chiến lược diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc; tư tưởng cơ hội, xét lại của Goocbachốp, Enxin... không được nhận diện kịp thời và đấu tranh kiên quyết nên đã làm phân liệt, tan rã Đảng Cộng sản, Nhà nước Xô viết. Hiện nay, các tư tưởng chống cộng, cơ hội xét lại xuất hiện càng ngày càng nhiều thì càng đòi hỏi các Đảng Cộng sản cảnh giác, chủ động đấu tranh, loại bỏ nó.
Bài học về tính tất yếu phải có chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo. Đảng Bônsêvích Nga lãnh đạo là một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, của chiến tranh Vệ quốc và xây dựng phát triển đất nước. Đảng đã nắm vững tình thế, thời cơ cách mạng; xác định rõ mục tiêu, lực lượng, phương pháp cách mạng, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, chiến đấu bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước đạt nhiều thành tựu mọi mặt, làm thay đổi bộ mặt hành tinh, buộc chủ nghĩa đế quốc phải điều chỉnh, thích ứng. Tuy vậy, về sau nhất là vào những năm 1970 - 1980, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phạm phải không ít sai lầm, sai lầm nghiêm trọng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, vì không thực hiện đúng học thuyết xây dựng đảng kiểu mới của V.I.Lênin như: vi phạm dân chủ, quan liêu, bao biện làm thay nhà nước, tham nhũng; cải tổ không đúng nguyên tắc, xa rời, từ bỏ hệ tư tưởng của Đảng - chủ nghĩa Mác – Lênin…và đã phải trả giá đắt – đó là sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa. Đây là bài học đắt giá cho các đảng cộng sản trên thế giới nghiên cứu, khắc phục. Đảng cộng sản lãnh đạo nhà nước, xã hội là thành tựu, là giá trị và là vấn đề có tính quy luật mà chế độ xã hội Xô-viết đã sáng tạo ra. Mỗi khi dao động, từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản thì chế độ xã hội chủ nghĩa có nguy cơ bị tiêu diệt. Lịch sử Liên- Xô và bài học trong cải tổ đã cho chúng ta nhận thức rõ hơn vấn đề này.




[1] Hồ Chí Minh,Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG. H. 1995, tr.280.
[2]Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG. H. 1995, tr.266
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG. H. 1995, tr.268.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG. H. 1995, tr.280