Hiển thị các bài đăng có nhãn giai cấp vô sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giai cấp vô sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2024

CÁC CUỘC ĐẤU TRANH ĐỘC LẬP ĐẦU TIÊN CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN CÓ Ý NGHĨA GÌ?

 

Các cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên của giai cấp vô sản tuy thất bại, nhưng đã để lại nhiều giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại sâu sắc:

Đã chứng tỏ chủ nghĩa tư bản ngay từ khi mới ra đời, khi còn tiến bộ đã chứa đầy mâu thuẫn và chỉ có giai cấp công nhân mới có thể giải quyết được mâu thuẫn đó bằng đấu tranh cách mạng. Giai cấp công nhân quốc tế đã trở thành lực lượng chính trị độc lập, triệt để cách mạng. Từ đây giai cấp vô sản trên toàn thế giới bắt đầu đứng trên vũ đài chính trị, với tư cách là giai cấp đối kháng trực tiếp về lợi ích với giai cấp tư sản.

Đã phản ánh mâu thuẫn đối kháng trong xã hội tư bản được bộc lộ. Ngay từ khi ra đời, giai cấp vô sản đã là lực lượng đối lập với giai cấp tư sản. Từ đây đánh dấu giai cấp vô sản sẽ là lực lượng tiên phong đi đầu trực tiếp đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, là lực lượng đối kháng trực tiếp về mọi mặt đối với giai cấp tư sản.

Khẳng định cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh, thực sự là giai cấp tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, được tôi luyện có tinh thần cách mạng triệt để, tinh thần kỷ luật nhất và tính quốc tế vô sản cao cả.

Chính từ sự phát triển của phong trào công nhân lúc này cho phép và đòi hỏi phải có lý luận tiên phong soi đường mới có thể giành thắng lợi triệt để. Đây là tiền đề cơ sở cho sự ra đời của học thuyết Mác - học thuyết cách mạng và khoa học của giai cấp vô sản toàn thế giới. Học thuyết Mác sẽ thâm nhập vào phong trào vô sản với tư cách là vũ khí lý luận tiên phong dẫn đường cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân về sau này.

NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA CÁC CUỘC ĐẤU TRANH ĐỘC LẬP ĐẦU TIÊN CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN Ở CHÂU ÂU NHỮNG NĂM 30 - 40 THẾ KỶ XIX LÀ GÌ?

 

Các cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên của giai cấp công nhân các nước châu Âu diễn ra, mà tiêu biểu là các cuộc đấu tranh của công nhân dệt Pháp, ở Đức và Phong trào Hiến chương ở Anh song cuối cùng đều thất bại do các nguyên nhân chủ yếu sau:

Giai cấp công nhân mới ra đời, còn non trẻ, chưa phát triển toàn diện về mọi mặt, chưa có một chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Giai cấp công nhân chưa được tổ chức chặt chẽ, các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh còn riêng lẻ, tự phát trong phạm vi hẹp, chưa có mối liên hệ và tập hợp lực lượng một các quy mô có tổ chức với nông dân và công nhân ở các thành phố khác.

Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chưa có hệ tư tưởng tiên tiến dẫn đường, chưa có lý luận tiên phong. Những phong trào đấu tranh, khởi nghĩa diễn ra cơ bản là tự phát, mang tính quần chúng là chủ yếu, chưa có tổ chức chặt chẽ. Trong phong trào chưa có sự thống nhất về tư tưởng và sách lược, phong trào chưa thuần nhất là phong trào vô sản, còn hỗn tạp nhiều thành phần, chưa phản ánh và phát huy tối đa sức mạnh của giai cấp công nhân.

Giai cấp tư sản lúc này đang lên, trở thành giai cấp trung tâm, đóng vai trò là lực lượng tiến bộ xã hội, có tiềm lực mạnh, đang tăng cường sức mạnh để củng cố địa vị thống trị xã hội của mình, do đó bằng mọi cách ra sức trấn áp các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Yếu tố thời đại lúc này cũng chưa cho phép giai cấp vô sản đứng vững trên vũ đài chính trị của mình, cần có thời gian nhất định chuẩn bị “vật chất” và “tinh thần”, nhất là công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

QUỐC TẾ CA - BẢN HÙNG CA CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐẬP TAN XIỀNG XÍCH

“Quốc tế ca” là bài ca chính thức của giai cấp vô sản trên thế giới, ra đời từ phong trào công nhân của Pháp cuối thế kỷ 19. “Quốc tế ca” nguyên là một bài thơ được phổ thành nhạc. Lần đầu tiên, bài hát được giới thiệu tới công chúng là ngày 23/6/1888, khi Ban đồng ca công nhân của thành phố Lille (Pháp) biểu diễn bài hát này trong Ngày hội công nhân của thành phố.

"Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian

Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn

Sục sôi nhiệt huyết trong tim đầy chứa rồi

Quyết phen này sống chết mà thôi".

Đó là những lời đầu của bài thơ L’Internationale, dịch nghĩa là “Quốc tế”của Eugène Potier, một nhà thơ lớn, người chiến sĩ trung kiên của cách mạng vô sản Pháp. Lenin gọi Eugène Potier là “nhà tuyên truyền vĩ đại của cách mạng vô sản”.

Potier sinh năm 1816, trong một gia đình nghèo khổ ở Paris. Lớn lên trong giai đoạn bão táp đấu tranh giai cấp ở châu Âu cuối thế kỷ 19, phong trào cách mạng sôi nổi của Pháp lúc bấy giờ đã tác động đến Potier. Ông sớm tiếp thu tư tưởng của Marx và Engels, đã tham gia đấu tranh trên cả mặt trận tư tưởng và là người chiến sĩ cấm súng chiến đấu cho đến phút cuối cùng trong “Tuần lễ tháng 5 đẫm máu”.

Bài thơ “Quốc tế” được Potier viết năm 1871, sau khi Công xã Paris bị đàn áp dẫn đến thất bại. Potier chất chứa nỗi xót thương hàng triệu người nô lệ trên thế giới đang phải sống trong đói rét. Từ quá trình chiến đấu của mình, ông liên tưởng đến những người đồng chí vì theo đuổi chân lý mà dốc cạn bầu nhiệt huyết. Từ những ngày vui sướng giai cấp công nhân được làm chủ, ông liên tưởng đến cảnh huy hoàng khi giai cấp vô sản thế giới được hoàn toàn giải phóng. Công xã đã thất bại nhưng cách mạng sẽ tiếp tục.

Năm 1888, nhạc sĩ người Pháp Pierre Degayter, người phụ trách Đội hợp xướng Tiếng nói Công nhân ở thành phố Lille đã phổ nhạc bài thơ thành bài hát. Ngày 23/6/1888, Ban đồng ca công nhân của thành phố Lille đã biểu diễn lần đầu tiên bài ca “Quốc tế” trong Ngày hội công nhân của thành phố.

Sau lần biểu diễn đầu tiên, “Quốc tế ca” đã gây được tiếng vang rất lớn trong công nhân. Mọi người vô cùng yêu thích bài ca chiến đấu này. Từ đó, nó được lan truyền rất nhanh ở nước Pháp và các nơi trên thế giới, trở thành tiếng kèn lệnh chiến đấu của các chiến sĩ cộng sản và nhân dân lao động. Sức truyền cảm của điệu nhạc và lời ca đã có sức cổ vũ, động viên, kêu gọi mạnh mẽ tinh thần “vô sản thế giới đoàn kết lại”, lật đổ chế độ bóc lột, mang sức ta mà giải phóng cho ta.

Đầu thế kỷ 20, các đại biểu đi dự Quốc tế Cộng sản đã học thuộc đem về phổ biến ở đất nước mình. Năm 1902, Quốc tế ca được dịch ra tiếng Nga. Sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (năm 1917), “Quốc tế ca” được lấy làm Quốc ca của Liên Xô. Đến năm 1944, sau khi thông qua bài Quốc ca mới, Đảng Cộng sản Liên Xô quyết nghị giữ bài Quốc tế ca làm Đảng ca.

Ở Việt Nam, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên phỏng dịch “Quốc tế ca” thành thơ lục bát và giới thiệu trên một số tờ báo vào năm 1927.

"Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên!

Bất bình này chịu sao yên,

Phá cho tan nát một phen cho rồi!

Bao nhiêu áp bức trên đời,

Sạch sành sanh phá cho rồi mới tha!

Cuộc đời này đã đổi ra,

Xưa kia con ở nay là chủ ông!"

Khi Đảng cộng sản Đông Dương thành lập năm 1930, bài “Quốc tế ca” được bí mật phổ biến và sau đó được hát công khai trong những cuộc biểu tình. Các bản dịch khác nhau đã được các đồng chí đảng viên thống nhất, hoàn chỉnh lại như lời ca hiện nay.

Trong những năm đấu tranh cách mạng gian khổ, “Quốc tế ca” là nguồn an ủi, sự thúc giục góp phần giữ vững ý chí chiến đấu cho biết bao chiến sĩ cách mạng trung kiên. Bị giặc bắt, họ hát “Quốc tế ca”. Khi ra trước tòa án, khi ra pháp trường, “Quốc tế ca” vang lên một cách hiên ngang, bất khuất. Trong nhà tù, họ dạy nhau hát “Quốc tế ca” để giữ vững tinh thần. Khi mít tinh, biểu tình, “Quốc tế ca” vang lên để tập hợp quần chúng đấu tranh.

“Quốc tế ca” là một tác phẩm âm nhạc phổ biến khắp thế giới. Âm nhạc và thơ ca ở đây không còn là nghệ thuật đơn thuần mà đã trở thành một vũ khí đấu tranh thực sự./.

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2021

NGỌN CỜ TƯ TƯỞNG CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

Cách đây 173 năm, ngày 24-2-1848, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” do Karl Marx và Friedrich Engels soạn thảo đã được xuất bản. Sự ra đời của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đánh dấu sự hình thành cơ bản của chủ nghĩa Marx và là văn kiện đánh dấu bước ngoặt sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, K.Marx và F.Engels trình bày rõ những quan điểm cơ bản về chủ nghĩa duy vật lịch sử, về đấu tranh giai cấp, về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản, về xây dựng chính đảng của giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, K.Marx và F.Engels còn trình bày tính tiên phong của Đảng Cộng sản, mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và giai cấp, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, một số nguyên lý chiến lược, sách lược cách mạng... K.Marx và F.Engels khẳng định rằng, giai cấp vô sản không thể giải phóng mình nếu không đồng thời giải phóng toàn xã hội. Song, giai cấp vô sản không thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử nếu không tổ chức thành chính đảng của giai cấp. Đảng được hình thành và phát triển xuất phát từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.

Những nguyên lý được K.Marx và F.Engels trình bày trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; phản ánh đúng đắn, sâu sắc các quy luật vận động, phát triển của lịch sử nhân loại. Giá trị thực tiễn của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã được minh chứng sống động bằng Công xã Paris, thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917; bằng sự ra đời và phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn không thể phủ nhận; bằng sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân ở chính trong lòng các nước tư bản chủ nghĩa; bằng phong trào đòi độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên phạm vi toàn cầu và bằng sự thành công của mô hình CNXH hiện thực ở một số nước hiện nay, trong đó có Việt Nam. Lãnh tụ V.I.Lenin từng nhận xét: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách, tinh thần của nó, đến bây giờ, vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và chiến đấu của thế giới văn minh”.

Là người Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Marx-Lenin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, huy động được mọi nguồn lực của đất nước, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại để giành những thắng lợi vẻ vang và vững bước đi lên CNXH.

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam trong 35 năm qua là minh chứng sống động thể hiện sự vận dụng, phát triển đúng đắn, sáng tạo tinh thần của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” trong điều kiện mới. Trong bài phát biểu tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng ngày 26-1 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được trong những năm qua tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của đất nước ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam. Điều đó một lần nữa khẳng định, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” sẽ tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng soi sáng con đường đi tới chủ nghĩa cộng sản của nhân loại, trong đó có Việt Nam.

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA NĂM 1917

Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi là sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã thức tỉnh các giai cấp, các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới và đã vạch ra con đường giải phóng cho các giai cấp, các dân tộc bị áp bức trên hành tinh. Thắng lợi vĩ đại ấy không chỉ có ý nghĩa lịch sử to lớn, để lại cho cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam nhiều bài học quý:
Bài học đồng thời giải quyết tốt hai nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giai cấp; chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa vô sản quốc tế cao cả.  Cách mạng Tháng Mười Nga đã biết chớp thời cơ “biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, phát huy chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa vô sản quốc tế cao cả, thực hiện tốt các nghĩa vụ quốc tế vô sản. Liên Xô thực sự trở thành căn cứ địa, thành trì cách mạng thế giới. Các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được sự ủng hộ giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, vào giai đoạn những năm 1970 -1980, cơ chế quan hệ, hợp tác và tính hiệu quả trong tương trợ, giúp đỡ giữa các nước xã hội chủ nghĩa chưa tốt đã phần nào hạn chế đến sức mạnh của mỗi nước và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Bài học về tính tất yếu phải liên minh giai cấp công nhân- nông dân. Cách mạng Tháng Mười đã xây dựng được khối liên minh công - nông, nhất là liên minh với những người nông dân mặc áo lính, nhờ đó vừa đã phân hoá, làm tan rã kẻ thù vừa tăng cường được lực lượng cách mạng đã làm nên một cuộc cách mạng “Mười ngày rung chuyển thế giới”. Trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, khối liên minh công – nông – trí đã không ngừng được củng cố, tăng cường, góp phần làm nên sức mạnh Xô viết. 
Bài học về sử dụng bạo lực kiên quyết, triệt để, mau lẹ để giành và giữ chính  quyền. Trong Cách mạng Tháng Mười, khi kẻ thù đã sử dụng bạo lực để đàn áp cách mạng, Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã chỉ đạo sử dụng bạo lực, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Quyết định mau lẹ, quyết đoán, sáng tạo, kịp thời đó là một trong  những nguyên nhân quan trọng làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Mười. Trong 70 năm tồn tại, Đảng Cộng sản, Nhà nước Liên Xô luôn chú trọng xây dựng quân đội và hải quân hùng mạnh để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên vào giai đoạn  những năm 1970 – 1980, nhất là trong cải tổ vấn đề này chưa được quan tâm và giải quyết đúng, nên đã phải trả giá đắt. Hiện nay, các thế lực thù địch luôn đe dọa sử dụng vũ lực chống phá cách mạng, thì các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa càng phải tăng cường sức mạnh quốc phòng – an ninh để bảo vệ vững chắc tổ quốc mình. 
Bài học về đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng chống cộng, cơ hội, xét lại. Trong suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền, xây dựng, phát triển đất nước, Lênin, Đảng Bôn sê vich Nga, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng chống cộng của các đế quốc; tư tưởng cơ hội xét lại trong các phái: Mensevích, Khơrútsốp… Tuy nhiên, trong giai đoạn cải tổ, các tư tưởng chống cộng điên cuồng trong chiến lược diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc; tư tưởng cơ hội, xét lại của Goocbachốp, Enxin... không được nhận diện kịp thời và đấu tranh kiên quyết nên đã làm phân liệt, tan rã Đảng Cộng sản, Nhà nước Xô viết. Hiện nay, các tư tưởng chống cộng, cơ hội xét lại xuất hiện càng ngày càng nhiều thì càng đòi hỏi các Đảng Cộng sản cảnh giác, chủ động đấu tranh, loại bỏ nó.
Bài học về tính tất yếu phải có chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo. Đảng Bônsêvích Nga lãnh đạo là một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, của chiến tranh Vệ quốc và xây dựng phát triển đất nước. Đảng đã nắm vững tình thế, thời cơ cách mạng; xác định rõ mục tiêu, lực lượng, phương pháp cách mạng, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, chiến đấu bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước đạt nhiều thành tựu mọi mặt, làm thay đổi bộ mặt hành tinh, buộc chủ nghĩa đế quốc phải điều chỉnh, thích ứng. Tuy vậy, về sau nhất là vào những năm 1970 - 1980, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phạm phải không ít sai lầm, sai lầm nghiêm trọng về tư tưởng, chính trị và tổ chức, vì không thực hiện đúng học thuyết xây dựng đảng kiểu mới của V.I.Lênin như: vi phạm dân chủ, quan liêu, bao biện làm thay nhà nước, tham nhũng; cải tổ không đúng nguyên tắc, xa rời, từ bỏ hệ tư tưởng của Đảng - chủ nghĩa Mác – Lênin…và đã phải trả giá đắt – đó là sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa. Đây là bài học đắt giá cho các đảng cộng sản trên thế giới nghiên cứu, khắc phục. Đảng cộng sản lãnh đạo nhà nước, xã hội là thành tựu, là giá trị và là vấn đề có tính quy luật mà chế độ xã hội Xô-viết đã sáng tạo ra. Mỗi khi dao động, từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản thì chế độ xã hội chủ nghĩa có nguy cơ bị tiêu diệt. Lịch sử Liên- Xô và bài học trong cải tổ đã cho chúng ta nhận thức rõ hơn vấn đề này.




[1] Hồ Chí Minh,Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG. H. 1995, tr.280.
[2]Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG. H. 1995, tr.266
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG. H. 1995, tr.268.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG. H. 1995, tr.280

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

NỘI DUNG SỨ MỆNH LỊCH SỬ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

 Là sản phẩm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với phát triển kinh tế tri thức ngày càng hiện đại hoá và quốc tế hoá, GCCN là giai cấp tiên tiến, luôn nằm ở vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội. Xuất phát từ địa vị KT -XH và  từ đặc điểm riêng có của mình, GCCN có sứ mệnh lịch sử là giai cấp thống trị về chính trị, lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, sáng tạo ra xã hội mới, và thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp.
Về nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN, Ph.Anghen đã khẳng định “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, – đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”[9]. Lênin cũng chỉ rõ “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”[10]
Vậy là, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, phạm trù sứ mệnh lịch sử của GCCN trong thời đại mới, bao gồm ba nội dung cơ bản nhất:
Một là,  là giai cấp thống trị về chính trị.
Với địa vị thống trị về chính trị, GCCN là giai cấp quyết định xu hướng phát triển của lịch sử;  giai cấp cầm quyền ở mốt số quốc gia trên thế giới. Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, thời đại mới, thời đại quá độ CNTB lên CNXH đã mở ra trên phạm vi toàn thế giới.
Hội nghị 1957 và 1960 đã xác định nội dung căn bản của thời đại là sự quá độ từ CNTB lên CNXH mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga vĩ đại. Mặc dù chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, CNXH lâm vào thoái trào, song tính chất, nội dung của thời đại vẫn không thay đổi.
Thứ hai, GCCN là động lực, lực lượng lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm thủ tiêu mọi sự  áp bức, bóc lột và sự tha hoá con người, sáng tạo ra xã hội mới .
Nhân loại đã từng trải qua nhiều chế độ áp bức, bóc lột. Ở đó, con người bị đẩy đến tận cùng của sự tha hoá cả trong lao động và trong quyền lực. Thủ tiêu áp bức, bóc lột và mọi hình thức tha hoá, thực hiện sự giải phóng triệt để con người, đòi hỏi, GCVS trước hết phải giành lấy dân chủ, giành lấy chính quyền, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã nói hơn 160 năm trước đây.
 Sau khi trở thành giai cấp cầm quyền, GCCN trở thành lực lượng lãnh đạo, tổ chức và thực hiện quá trình xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN và CSCN trên phạm vi mỗi dân tộc và trên toàn thế giới, thực hiện sự  nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người
Thứ ba, GCCN là lực lượng lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp.
Sứ mệnh lịch sử GCCN không phải vì duy trì GCCN, mà vì giải phóng triệt để con người. “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đã khẳng định: “Toàn bộ lý luận của chủ nghĩa cộng sản là thủ tiêu chế độ tư hữu”. Một khi chế độ tư hữu không còn thì nguyên nhân phân chia xã hội thành giai cấp, nhà nước cũng bị xoá bỏ. Và, do đó, với tư cách là một giai cấp, giai cấp công nhân cũng sẽ không còn lý do tồn tại. Tất nhiên con đường đi tới xã hội không giai cấp còn quanh co và nhiều phức tạp. Nhận thức đúng về  tính tất yếu để xây dựng lý tưởng, mục tiêu, song không được ảo tưởng, chủ quan, duy ý chí.
Đối với giai cấp công nhân Việt Nam, có thể khái quát  nội dung sứ mệnh lịch sử  như sau: GCCN thông qua ĐCS Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng: ĐLDT và CNXH, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Trước mắt, trong những năm tới, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH, HĐH đất nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ công bằng xã hội; tăng cường QP và AN , mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định CT - XH; đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để sớm nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Trong nội dung tổng quát về sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam, nội dung kinh tế của sứ mệnh được xác định là: “Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đưa nước trở thành nước công nghiệp; ưu tiên phát triển LLSX, đồng thời xây dựng QHSX phù hợp theo định hướng XHCN; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phát huy dân chủ và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường quốc phòng - an ninh”. Khái quát là : xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN Ở THẾ KỶ XXI

Liệu giai cấp vô sản ở thể kỷ XXI có còn đại diện cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa và còn là chủ thể trong việc hiện thực hoá chủ nghĩa xã hội như trước đay nữa hay không? Luận giải về tính khách quan của XHCN trong bối cảnh của CNXH ở cuối thế kỷ XX thoái lui trên diện rộng – là công việc đặc biệt khó khăn và đầy trách nhiệm. Dựa vào qui luật kinh tế của xã hội đương thưòi, K. Marx đã kết luận về tính tất yếu của sự chuyển hoá xã hội TBCN lên xã hội XHCN. Kết luận này vẫn còn là một thực tế khoa học cho tới tận ngày nay.
Trong nền sản xuất công nghiệp, với sự bá chủ của công nghiệp dựa vào kỹ thuật cơ khí là chính, giai cấp vô sản (đặc biệt là những công nhân lao động chân tay) luôn chiếm vị trí hàng đầu. Pháp triển công nghiệp không chỉ có nghĩa là gia tăng sản phẩm và số lượng công nhân, mà còn kéo theo sự tập trung hoá nhanh chóng máy móc và những công nhân phục vụ máy móc đó. Quyền lợi của người công nhân và sự tập trung hoá công nhân trong nền sản xuất công nghiệp đã làm cho giai cấp vô sản trở thành động lực trí truệ và là người thực hiện cuộc đấu tranh vì CNXH. Chính trong giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật công nghiệp của lực lượng sản xuất, giai cấp vô sản đã thực hiện bước đột phá mang tính chất XHCN trong hệ thống quan hệ sản xuất tư bản trên thế giới. Ở giai đoạn này đã diễn ra ba đợt khủng hoảng chung của CNTB, nhưng khi đó, CNXH đã không đủ khả năng chiến thắng CNTB trên qui mô toàn thế giới.
 Trên thực tế, những bứt phá mạnh mẽ nhất trong chuỗi mắt xích của CNTB lại được thực hiện tại những nước tiền công nghiệp hoặc mới ở giai đoạn đầu công nghiệp. Chính quyền lực của công nghiệp đã làm cho những nước xây dựng CNXH không đủ sức vượt qua thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH. Cho tới cuối nhứng năm 1980, Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN Đông Âu chưa ra khỏi giai đoạn chuyển tiếp giữa 2 hình thái xã hội nói trên. Ở những nước này mới chỉ có xã hội tiền XHCN. Cũng trong những năm 80 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản ở các nước tư bản phát triển đã suy yếu căn bản, biểu hiện ở qui mô và tính gay gắt của các phong trào bãi công giảm sút; đại diện của các Đảng Cộng sản trong nghị viện ở các nước Tây Âu giảm; hiện tượng khủng hoảng của các Đảng Cộng sản đã có ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ đối với các tiến trình trong nước, mà cả quốc tế. Thực trạng đó là kết quả của hai tác nhân mới có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới.
Một là, các nước tư bản phát triển ở một chừng mực nào đó đã đưa được tính đối kháng của quan hệ bóc lột ra ngoài biên giới của chúng, chuyển nó thành, mâu thuẫn Bắc – Nam. Sự chênh lệch về trình độ của lực lượng sản xuất đã cho phép tư  bản xuyên quốc gia không chỉ thiết lập ách thống trị về mặt kinh tế, chính trị và tinh thần theo kiểu chủ nghĩa thực dân mới đối với phía Nam, mà về căn bản còn tư sản hoá được giai cấp vô sản đất nước mình, biến họ thành những người cùng tham gia bóc lột đối với các vùng kém phát trtiển về kinh tế. Sự thất bại tạm thời của CNXH ở Liên Xô một lần nữa làm cho sự bóc lột những người công nhân làm thuê ở các nước kinh tế phát triển Tây Âu tăng thêm. Dường như một mô hình mới của sự phát triển TBCN đã hình thành. Phân tích mô hình này, Ramon Montovani (Đảng Phục hưng cộng sản Italia) nhận xét, “ở phía Nam” là những nước tuy có nhiều đầu tư lớn của tư bản nước ngoài và sự gia tăng đáng kể tổng sản phẩm trong nước, nhưng lại không mở rộng được thị trường nội địa và không nâng cao được thu nhập cho người dân; không chỉ là sự cách biệt ngày càng tăng giữa người giàu và người nghèo, mà còn là sự gia tăng tuyệt đối con số đói nghèo ở những nước miền Nam này; thậm chí ở nước giàu, nạn thất nghiệp, nghèo đói, căng thẳng xã hội vẫn tăng lên. Đây là tình trạng xung đột trung tâm – ngoại vi ở cấp độ toàn cầu, khu vực, quốc gia và địa phương – cục bộ. Trong “mô hình mới của sự phát triển TBCN” giai cấp vô sản ở các nước giàu vẫn chỉ là “công nhân quí tộc” thôi.
Hai , cuộc đấu tranh vì CNXH của giai cấp vô sản ở các nước Tây Âu suy yếu, do hình thức bóc lột lao động của tư bản đã biến đổi, giá cả sức lao động tại các nước giàu tăng vọt. Công nghệ sản xuất được đẩy nhanh; sự ứng dụng đại trà công nghệ tin học vào sản xuất; cơ sở vật chất kỹ thuật đang được tin học hoá…; tất cả những yếu tố đó là nền tảng cho bước nhảy vọt về chất trong sự phát triển lực lượng sản xuất. Trong hệ thống lực lượng sản xuất, máy tính sẽ thực hiện chức năng là “người lao động bán phần”. Như vậy sẽ không cần đến sự tập trung hoá lực lượng sản xuất nữa. Và do đó, nội dung lao động của một bộ phận đáng kể những người công nhân làm thuê đã thay đổi về cơ bản- máy tính hoá đã làm cho lao động trở thành trí óc là chính. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ tạo ra bước nhảy về chất trong nội dung lao động, mà còn kéo theo những hậu quả tâm lí - xã hội khác, có tác động quan trọng đến diện mạo của giai cấp vô sản trong thời kỳ mới. Một mặt, việc trí thức hoá lực lượng công nhân làm thuê có khả năng tạo ra ảo tưởng tâm lí về sự phi vô sản hoá lực lượng làm thuê. Mặc khác, nó làm cho sự khác biệt giữa những người “cổ cồn xanh” và “cổ cồn trắng” (tức là về nội dung của lao động) không còn mang tính nguyên tắc nữa. Một khi sự phân biệt đó biến mất thì sự phân biệt trong mối quan hệ đối với tư liệu sản xuất sẽ hiện ra rõ nét. Điều đó có nghĩa là sự đối kháng giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản sẽ tăng lên mạnh hơn.
Từ phân tích trên, cú thể khẳng định rằng đã có đủ cơ sở để nhìn nhận giai cấp vô sản ở thế kỷ XXI  là “động lực trí tuệ và đạo đức”, và là “người thực thi” bước quá độ từ CNTB lên CNXH. Thứ nhất, nhờ tin học hoá quá trình sản xuất vật chất và tinh thần mà lao động xã hội mang tính tập thể trở thành cái phổ biến. Điều đó đang làm mâu thuẫn cố hữu của CNTB (mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của lao động và hình thức chiếm hữu tư nhân) thêm sâu sắc và biến nó thành mâu thuẫn đối khảng giữa tính chất phổ biến của lao động với hình thức chiếm hữu tư nhân. Giai cấp vô sản mới được “vũ trang” bằng máy tính để chống lại giai cấp tư sản xuyên quốc gia. Thứ hai, máy tính hoá sản xuất dẫn đến việc tăng khả năng giao tiếp giữa những người vô sản có cùng chung lợi ích, vì khi đó vô sản có cùng chung lợi ích, vì khi đó giao tiếp không đòi hỏi phải có “sự tiếp xúc”. Do vậy, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản mới có điều kiện chuyển mạnh mẽ từ “trạng thái tự phát” lên “tự giác”. Thứ ba, chính giai cấp tư sản đóng góp phần gắn kết giai cấp vô sản mới, mà cụ thể là giúp hình thành nên chủ nghĩa tập thể và tinh thần đoàn kết của những người vô sản mới.
Với những lý do đó, giai cấp vô sản mới sẽ đại diện cho tư tưởng XHCN và là chủ thể xây dựng CNXH trong thế kỷ XXI; vận mệnh của họ là giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa lao động và tư bản.
Tuy nhiên, do tính chất không đồng đều trong sự phát triển của các vùng khác nhau trên thế giới, ở ngưỡng cửa thế kỷ XXI, sẽ vẫn tồn tại ba nhóm nước với các mối quan hệ giữa các giai cấp và các mâu thuẫn đặc trưng riêng của từng nhóm.
Nhóm thứ nhất là các nước giàu “miền Nam”, đủ sức “đưa” sự đối kháng của quan hệ bóc lột “ra ngoài”, tức là đẩy về ngoại vi. Giai cấp tư sản thuộc nhóm này cố gắng “mua chuộc” giai cấp vô sản dân tộc để duy trì sự phát triển “bình yên” của CNTB. Song, nguy cơ phá sản hệ thống tài chính quóc tế hoặc nguy cơ không thoả thuận được về nguyên tắc phân chia thế giới giữa các trung tâm tư bản như Mỹ, Tây Âu và Đông Nam Á rất có thể sẽ làm chấm dứt sự phát triển “bình yên” ấy.
Nhóm thứ hai là các nước thuộc thế giới thứ ba, nơi mới chỉ bắt đầu quá trình công nghiệp hoá. Với các nước thuộc nhóm này, đâu tranh giải phóng dân tộc vẫn là xu hướng chủ đạo của cuộc đấu tranh giai cấp. Trong giai đoạn cao trào, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc được bổ sung XHCN; còn lúc thoái trào thì nó trở lại vòng “thân thuộc” của thế giới quan tư sản và tiểu tư sản dân tộc. Tuy nhiên việc ứng dụng công nghệ máy tính trong sản xuất sẽ góp phần làm hồi sinh tình đoàn kết giai cấp đã được hình thành trong nửa đầu và giữa thế kỷ XX giữa giai cấp vô sản ở chính quốc và ở thuộc địa.
Nhóm thứ ba gồm các nước đang quá độ từ phương thức sản xuất công nghiệp sang phương thức sản xuất “máy tính hoá”. Tác giả cho rằng, đặc điểm của các nước thuộc nhóm này là giai cấp vô sản ở đó chiếm ưu thế về số lượng. Trong cuộc đấu tranh vì xu hướng phát triển XHCN nhất thiết phải dựa vào họ, đó là tất yếu lịch sử. Xét về mặt lịch sử, giai cấp vô sản công nghiệp sẽ phải nhường lại vai trò tiên phong cho giai cấp vô sản mới (“được vũ trang bằng máy tính”, điều đó có nghĩa là các công nhân “cổ cồn trắng” sẽ có vai trò tích cực hơn “cổ cồn xanh”).

Khi vai trò và sứ mệnh của công nghệ máy tính, cũng như sứ mệnh của giai cấp vô sản mới tăng lên thì ý nghĩa của cuộc đấu tranh giai cấp dưới hình thức hệ tư tưởng càng tăng mạnh. Khi đã xuất hiện hệ thống kiểu như Internet thì sẽ không thể có một xã hội đóng kín về tư tưởng. Việc sử dụng rộng rãi máy tính đã hạn chế mạnh khả năng của nhà nước trong việc kiểm soát thông tin – tư tưởng. Đây chính là một nét mới của cuộc đấu tranh giai cấp. Nền sản xuất áp dụng công nghệ máy tính đòi hỏi những thay đổi về cấu trúc và tổ chức chính trị của những người lao động. Bên cạnh một đảng tiên phong được tổ chức tốt, có thể sẽ xuất hiện một mạng lưới gồm các tổ chức chính trị thống nhất trong mặt trận tổ quốc- dưới sự lãnh đạo của đảng. Cách mạng vô sản là một tất yếu vì “Dù thế nào đi chăng nữa, thì việc chuyển sang phương thức sản xuất công nghệ mới – máy tính hóa, đã đánh dấu một giai đoạn mới trong sự khủng hoảng chung của CNTB và chỉ bằng cách tạo ra cái nền tảng của CNXH mới có thể giải quyết được sự khủng hoảng ấy”.