Hiển thị các bài đăng có nhãn sáng tạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sáng tạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÁC ĐỊNH CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam vào phạm trù cách mạng vô sản là sáng tạo lớn đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta. Ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích đúng tính chất xã hội Việt Nam, đề ra đường lối chính trị đúng đắn: trước hết làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản. Điều đó toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu phải đi tới cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH đã quyết định lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia và phương pháp của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Thứ hai, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ là sáng tạo thứ hai của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc; nhờ đó, đoàn kết tất cả mọi lực lượng toàn dân tộc chống đế quốc và giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Thứ ba, chủ trương đúng đắn, sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến phải rải từng bước để phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, khi chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức, Đảng ta đã tập hợp lực lượng đông đảo của cả dân tộc: công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ vừa, nhỏ và cả tầng lớp trên trong bộ máy chính quyền phong kiến, tạo nên sức mạnh vĩ đại.

Thứ tư, sáng tạo vĩ đại trong nhận thức về con đường phát triển của cách mạng trong xu thế mới của thời đại, sáng tạo trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra cho mỗi thời kỳ. Nhờ giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, lật nhào ách đô hộ gần 80 năm của chủ nghĩa thực dân, lật nhào chế độ phong kiến thống trị hàng nghìn năm, lập nên chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mở đường cho dân tộc Việt Nam phát triển theo định hướng XHCN.

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

PHÁT HUY TINH THẦN SÁNG TẠO, CHỦ ĐỘNG CỦA THANH NIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

Thanh niên Quân đội hiện nay cơ bản có trình độ văn hóa cao, khả năng sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin tốt, nhanh nhạy với cái mới, do đó, các cấp bộ đoàn cần động viên, khuyến khích đoàn viên, thanh niên ra sức học tập nâng cao trình độ mọi mặt, phát triển tư duy lý luận của mình bằng những tri thức khoa học mới gắn với thực tiễn sinh động để góp phần đấu tranh, phản bác những “chiêu trò” xuyên tạc, hướng lái dư luận,… hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Để đạt hiệu quả, các đơn vị đẩy mạnh hoạt động của Câu lạc bộ Lý luận trẻ theo Hướng dẫn số 508/HD-TN, ngày 31/5/2019 của Ban Thanh niên Quân đội và tích cực vận động cán bộ, đoàn viên, thanh niên hưởng ứng Cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp” trên mạng xã hội theo Hướng dẫn số 868/HD-TN, ngày 09/10/2018 của Ban Thanh niên Quân đội. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa, tham gia mạng xã hội lành mạnh, trong sạch để không ngừng phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm, sự hiểu biết cho đoàn viên, thanh niên trước “ma trận” thông tin thật, giả, đúng, sai, nhằm tăng cường khả năng “miễn dịch”, nâng cao “sức đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Cùng với đó, căn cứ tình hình thực tiễn, tổ chức đoàn các cấp chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chỉ huy đơn vị kiện toàn, mở rộng lực lượng, bảo đảm vật chất, phương tiện, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh, rút kinh nghiệm hoạt động đối với cán bộ, đoàn viên, thanh niên là lực lượng nòng cốt đấu tranh của đơn vị. Đồng thời, tăng cường trao đổi, chia sẻ, học tập những kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả và chấn chỉnh, xử lý kịp thời những hạn chế, yếu kém, sai phạm.

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

PHÁT HUY VAI TRÒ XUNG KÍCH, SÁNG TẠO CỦA THANH NIÊN TRONG CÁC NHIỆM VỤ

Đổi mới nội dung hoạt động của Đoàn, đẩy mạnh các phong trào thanh niên, chú trọng phát huy vai trò của đoàn viên trong xây dựng cơ quan, đơn vị, khu dân cư văn hóa. Cụ thể hóa việc phát huy vai trò của thanh niên đối với xây dựng văn hóa bằng những nhiệm vụ cụ thể, thiết thực là xây dựng, phát huy truyền thống của gia đình, dòng họ, cơ quan, đơn vị, địa bàn dân cư, xóm làng và địa phương. Đóng góp xây dựng địa phương vững mạnh toàn diện. Sự cộng hưởng từ những việc làm cụ thể, thiết thực của mỗi cá nhân, tổ chức sẽ trực tiếp quyết định việc giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng văn hóa.


Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

GIẢI PHÁP CƠ BẢN THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XIII VỀ KIÊN ĐỊNH, PHÁT TRIỂN VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Để thực hiện những quan điểm chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, cần chú ý đến những giải pháp cơ bản như sau:

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Vì bối cảnh thực tiễn đã có nhiều thay đổi, đặt ra nhiều vấn đề mới cần giải quyết nên để tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu lớn về những vấn đề cơ bản, nền tảng nhằm tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, cần chắt lọc, đề xuất những vấn đề cần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn nước ta giai đoạn hiện nay. Đây không phải là “xét lại” chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh như một số học giả phi mácxít đã lợi dụng sự phát triển của thực tiễn để mổ xẻ, phê phán, phủ nhận chủ nghĩa Mác; mà là tiếp thu tinh thần biện chứng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Bản thân các ông không coi học thuyết của mình là chìa khóa vạn năng, nhất thành bất biến mà là một học thuyết mở cần được bổ sung, phát triển, cần được “thêm da thêm thịt” bằng thực tiễn sinh động đúng như Ph.Ăngghen đã từng khẳng định: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”. Do đó, kiên trì nhưng không bảo thủ, giáo điều; bổ sung, phát triển nhưng không xa rời những lý luận nền tảng, những nguyên tắc cơ bản là cách thức cần thiết để kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, kiên quyết đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Bên cạnh việc khẳng định, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cần tiếp tục đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Trước hết, cần hệ thống hóa các nội dung đang bị các thế lực chống phá, từ đó xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác trên từng vấn đề cụ thể. Đồng thời, chuyển trọng tâm của việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên mặt trận tư tưởng, lý luận truyền thống là chủ yếu sang đấu tranh trên internet và mạng xã hội. Đây là một sự chuyển hướng cần thiết nhằm nắm bắt xu thế tất yếu của thời đại. Đó là sự chống phá ngày càng tinh vi, quyết liệt của các thế lực thù địch trên không gian mạng khiến mạng xã hội trở thành không gian tranh chấp chính trên trận tuyến đặc biệt quan trọng này. Điều này cũng được Đảng ta chỉ rõ ở Đại hội XIII như sau: “Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội”. Ngoài ra, cần áp dụng những quy định của pháp luật để xử lý nghiêm minh những đối tượng có hành vi xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dưới bất kỳ hình thức nào.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Tùy theo yêu cầu của mỗi cấp học, bậc học, cần đổi mới nội dung chương trình giảng dạy các môn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng “khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn”. Nội dung chương trình cần bố trí hợp lý giữa kiến thức lý luận với những vấn đề thực tiễn, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng vận dụng những kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ: “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để xây dựng cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định, thực thu chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Ngoài ra, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, áp dụng những phương pháp giảng dạy tích cực, đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại để kiểm tra, giám sát nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở nước ta thời gian qua: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị; khắc phục tình trạng ngài học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên”.

Thứ tư, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm, tính sáng tạo trong việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Để tiếp tục kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận chính trị; có ý thức khắc phục triệt để bệnh “lười” học tập lý luận chính trị. Ngoài ra, cần quán triệt quan điểm biện chứng và nguyên lý phát triển khi học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là vừa không ngừng củng cố, nâng cao kiến thức để tăng “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch song cũng vận dụng sáng tạo, không ngừng bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể; tránh tư duy dập khuôn, máy móc, giáo điều làm xơ cứng, nghèo nàn những quan điểm, tư tưởng của các bậc tiền bối.

Như vậy, kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguyên tắc quan trọng, có ý nghĩa sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay. Do đó, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Đây tuy là một nhiệm vụ rất quan trọng với nhiều khó khăn, thử thách nhưng với niềm tin sắt son, bằng sự quyết tâm và tinh thần đồng sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, chúng ta sẽ vẫn tiếp tục vững vàng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho Đảng ta, dân tộc ta trên chặng đường đổi mới tiếp theo./.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ KIẾN TẠO MỘT KIỂU XÃ HỘI MỚI VỀ CHẤT, HOÀN TOÀN KHÔNG HỀ ĐƠN GIẢN, DỄ DÀNG

Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. 

Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Với cách nhìn khoa học, biện chứng như vậy, không thể lấy hiện tượng, vấn đề cụ thể là những hạn chế tồn tại, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH, quy kết đó là kết quả đi theo con đường CNXH mang lại.

 Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trong hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là kết quả của công cuộc đổi mới, của quá trình CNH, HĐH, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. Để cuối cùng “với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”./.

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN, ĐOÀN KẾT, NHÂN HẬU, THỦY CHUNG, BAO DUNG, CẦN CÙ, LAO ĐỘNG SÁNG TẠO

Từ xa xưa, trong sâu thẳm đời sống tâm linh người Việt luôn tôn trọng, thành kính và biết ơn các thế hệ đi trước. Các thành viên “trong gia đình trên kính dưới nhường, thờ phụng tổ tiên”; “Thờ phụng những người đã quá cố” đã trở thành “một việc rất thiêng liêng và thiết tha của người An Nam, thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ mình. Trong hàng ngàn năm lịch sử, cha ông ta đã có tinh thần cố kết cộng đồng để đấu tranh dựng nước và giữ nước. Có được những thành quả đó là do biết bao nhiêu mồ hôi và xương máu của ông cha ta, của những người anh hùng dân tộc đã xây đắp, gìn giữ và phát huy như: “Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tinh thần đoàn kết là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của dân tộc, quyết định đến sự tồn vong của đất nước. Người chỉ rõ: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Tiếp thu, giáo dục và phát huy truyền thống “ăn quả nhớ người trồng cây”, Người căn dặn: “Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”.Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm nước ta có bốn mùa nhưng nhận thấy rõ nhất là hai mùa khí hậu đặc trưng: Mùa hè nóng ẩm với gió mùa tây nam và mùa đông lạnh khô với gió mùa đông bắc, để tồn tại và phát triển, nhân dân ta đã tích cực chinh phục, cải tạo tự nhiên, tiến hành lao động sản xuất. Vì thế, “Nhân dân ta sẵn có truyền thống tốt đẹp là lao động cần cù, sinh hoạt giản dị". Trong cuộc sống dù vất vả, khó khăn đến đâu, nhưng nhân dân ta vẫn luôn động viên, tương trợ, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau về cả vật chất tinh thần để vượt qua hoạn nạn với phương châm “lá lành đùm lá rách”. Trong sinh hoạt ứng xử cộng đồng, gia đình, nhân dân ta luôn thể hiện tính  nhân văn, kính trọng người già, thương yêu con trẻ, thờ cúng tổ tiên. Bởi: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế”.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

KẾT HỢP CHẶT CHẼ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VỚI ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ, LẤY NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀ TRUNG TÂM, XÂY DỰNG ĐẢNG LÀ THEN CHỐT

Trong tiến trình 35 năm đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được coi là vấn đề “then chốt”, bảo đảm cho Đảng giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã tổng kết 5 bài học lớn; trong đó, bài học hàng đầu là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát huy và phát triển sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, vững vàng vượt qua những khó khăn, thách thức trong giai đoạn cách mạng mới.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) quyết định đường lối đổi mới toàn diện đất nước cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Năm 1986, đất nước khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, lạm phát 774,7%, tổng thu nhập quốc dân khoảng 14 tỷ USD với hơn 50 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người khoảng 280 USD. Trong hoàn cảnh đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, với trách nhiệm của Đảng cầm quyền, Đảng nhận thức rõ đổi mới là mệnh lệnh của cuộc sống, là trách nhiệm của Đảng đối với đất nước và nhân dân. Làm sao đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân? Ngay từ đầu, Đảng chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; phải tập trung phát triển kinh tế và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới phong cách làm việc, phương thức lãnh đạo của Đảng.

Trải qua 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Năm 1996, Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; năm 2008, ra khỏi tình trạng một nước kém phát triển, có mức thu nhập trung bình và năm 2020, với gần 100 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người đạt 3.521 USD. Diện mạo đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn gấp nhiều lần, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt về vật chất, văn hóa, tinh thần, về mức sống và chất lượng cuộc sống; nhất là về ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, dịch vụ cuộc sống. Hệ thống chính trị được xây dựng, củng cố vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc. Đối ngoại, hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng, kết hợp nội lực với ngoại lực, nâng cao vị thế của Việt Nam, tạo môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nêu rõ và Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Nhìn lại tiến trình 35 năm đổi mới và nhiệm kỳ vừa qua, Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết 5 bài học lớn; trong đó, bài học hàng đầu là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2021

PHÁT HUY TINH THẦN SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRONG PHÒNG, CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID-19

Sáng tạo trong lao động là một giá trị cốt lõi trong nội dung bản sắc văn hoá dân tộc, là một trong những sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Truyền thống sáng tạo trong lao động đã được thể nghiệm và chứng minh, chưng cất từ chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Ngày nay, người Việt Nam đang phát huy tinh thần sáng tạo ấy để đương đầu với thách thức to lớn - đại dịch Covid-19.

Tinh thần được hình thành từ chính quá trình thực tiễn sinh tồn và lao động sản xuất, nơi mà đòi hỏi con người Việt Nam phải sáng tạo, linh hoạt để vượt qua và thích nghi với sự khắc nghiệt của tự nhiên trong nền sản xuất nông nghiệp truyền thống; để kiên cường vượt qua mọi thử thách chiến đấu và chiến thắng các thế lực ngoại xâm hung tàn. Từ trong quá trình sinh tồn và phát triển ấy, tại mỗi thời khắc và giai đoạn đối diện với những khó khăn và hiểm nguy, người dân Việt Nam lại phát huy giá trị bản sắc này, biến nó thành sức mạnh vật chất để tồn tại và phát triển, minh chứng cho tinh thần và trí tuệ Việt Nam.

Đại dịch Covid – 19 hiện vẫn đang diễn biến phức tạp trên thế giới cũng như trong nước. Việt Nam đang ở trong làn sóng thứ tư của đại dịch với bao thách thức, khó khăn. Từ bối cảnh ấy, sức mạnh sáng tạo của người Việt lại được phát huy hơn bao giờ hết. Tinh thần sáng tạo được thể hiện trong hoạt động của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và từng người dân, ở mọi cấp, mọi ngành, mọi tầng lớp nhân dân, dù ở trong hay ngoài nước.

Từ rất sớm, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo, đưa ra những phương thức, cách làm quyết liệt với tinh thần hết sức sáng tạo, như tinh thần “chống dịch như chống giặc”, “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”, quan điểm thực hiện “mục tiêu kép” (vừa sẵn sàng phòng, chống dịch, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội), “thần tốc, thần tốc hơn nữa trong truy vết, khoanh vùng”, phương châm “Bốn tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện và vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ), chú trọng vai trò chủ động của chính quyền các địa phương…

Trên cơ sở đó, các địa phương cũng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nhiều địa phương trở thành điển hình trong phòng, chống Covid. Đó là cách làm sáng tạo khoanh ổ dịch “3 lớp” tại những nơi bị cách ly của huyện Đông Anh (Hà Nội), vừa bảo đảm an toàn phòng dịch, vừa “không ngăn sông cấm chợ”; mô hình xét nghiệm mẫu gộp 5 của Đà Nẵng, tiết kiệm chi phí xét nghiệm, trở thành kinh nghiệm cho các địa phương khác; nhiều địa phương thành lập các tổ tuyên truyền và giám sát cộng đồng, sáng kiến phát phiếu đi chợ (Hải Dương, Đà Nẵng…)…

Sự sáng tạo cũng được thể hiện thông qua chủ trương và hoạt động của các ngành, các lĩnh vực, nhất là Y tế - ngành chủ lực và trực tiếp trong đối đầu với đại dịch. Điển hình như thông điệp “5K” (Khẩu trang – Khử khuẩn – Khoảng cách – Không tụ tập – Khai báo y tế), từ đó đã khơi dậy nhiều ý tưởng sáng tạo như: những bức tranh 5K, đồng dao 5K, thơ 5K, bài hát 5K…; và giờ đây là "5T" (Tuân thủ nghiêm 5K - Thực phẩm đủ tại nhà - Thầy, thuốc đến tại gia - Test Covid tất cả - Tiêm chủng tại phường, xã), thông điệp có vần điệu dễ hiểu, dễ nhớ; hay như việc phát động chiến dịch truyền thông lan toả thông điệp “Niềm tin chiến thắng”, tổ chức các cuộc thi vẽ tranh tuyên truyền, cổ động kêu gọi cộng đồng phòng, chống dịch…

Bên cạnh đó, các tổ chức và cá nhân ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau, với tinh thần trách nhiệm cộng đồng, đã phát huy tính sáng tạo cùng cả nước chung tay chống đại dịch. Đó là các kỹ sư ngày đêm miệt mài, chạy đua với thời gian để sáng chế ra những sản phẩm hỗ trợ các y bác sĩ ở tuyến đầu chống dịch (buồng khử khuẩn được rất nhiều tổ chức, cá nhân tham gia sáng chế; ứng dụng bluezone, khai báo y tế điện tử, thiết lập các “điểm kiểm dịch” bằng việc quét mã QR; chế tạo robot xét nghiệm chống nóng; cải tiến công nghệ, chế tạo bộ đồ bảo hộ chống dịch, như làm mát bộ đồ bảo hộ; sáng kiến tiếp nước cho những người mặc quần áo bảo hộ y tế…).

Giới nghệ sỹ cũng luôn thể hiện tinh thần sáng tạo của mình cùng cộng đồng tham gia phòng chống Covid – 19. Họ đã sáng tác nhiều ca khúc, tạo ra những sản phẩm nghệ thuật khác nhau với chủ đề kêu gọi cộng đồng chung tay chống dịch. Đó không chỉ là những ca khúc nhạc trẻ có hiệu quả tuyên truyền cao như “Vũ điệu rửa tay”, “Việt Nam ơi! Đánh bay Covid…, mà các nghệ sĩ cải lương, bolero, hoạ sĩ…cũng giới thiệu đến công chúng những sáng tác nghệ thuật để giúp mọi người có thêm niềm tin, động lực vượt qua giai đoạn khó khăn, đẩy lùi dịch bệnh…

Đây chỉ là những nét chấm phá cho tinh thần sáng tạo không ngừng nghỉ của con người Việt Nam trước những hoàn cảnh khó khăn và những thách thức nghiêm trọng. Tiếp tục phát huy giá trị ấy, Việt Nam nhất định sẽ chiến thắng đại dịch, vượt qua mọi gian nguy để thực hiện thành công các mục tiêu hiện tại và tương lai.

Tinh thần sáng tạo là truyền thống Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, được hình thành và phát triển từ trong thực tiễn, được tôn lên bởi tinh thần yêu nước, từ ý thức trách nhiệm với cộng đồng, từ truyền thống đoàn kết để tạo nên sức mạnh trường tồn cho dân tộc Việt Nam. Đó là cơ sở để “phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Bằng phương pháp tiếp cận khoa học, sáng tạo, sát thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh, luôn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo các nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người đã bổ sung nhiều luận điểm góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, xây dựng được một hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ giá trị thực tiễn của việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh.

Trước hết, về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Từ luận điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: Cách mạng vô sản sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển; cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí là một nước riêng lẻ của chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa. Người đã phát triển thêm một bước nhận thức lý luận khi cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp tại Việt Nam. Từ thực tiễn Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, Người xác định con đường cách mạng vô sản tại Việt Nam phải là cách mạng giải phóng dân tộc rồi mới đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong Chính cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Người khởi thảo: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Nhận thức lý luận đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển một cách sáng tạo lý luận Mác - Lênin về đảng cộng sản vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Người xác định, Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Người đã dày công xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; quan tâm giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, mỗi cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận Mác - Lênin về tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng. Người khẳng định, động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta là đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó để quy tụ, tập hợp sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của các lực lượng yêu nước với thế trận chiến tranh nhân dân để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dựa trên nguyên tắc pháp quyền. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển một hệ thống các quan điểm sáng tạo về nhà nước kiểu mới: Tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, một nhà nước của nhân dân, chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương do nhân dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do nhân dân tổ chức nên, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

Thứ sáu, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy quan điểm Mác - Lênin làm nền tảng để phát triển tư duy, lý luận về văn hóa, đạo đức và quan hệ quốc tế trong tiến trình cách mạng Việt Nam: Về văn hóa, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa có tính dân tộc đó là củng cố, phát huy và khắc phục những thiếu hụt những giá trị văn hóa truyền thống, sáng tạo những giá trị văn hóa mới; về đạo đức cách mạng: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng; về đoàn kết quốc tế: kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để hoàn thành sự nghiệp cách mạng nước nhà, đóng góp cho phong trào cách mạng thế giới.

Những luận điểm sáng tạo về tư duy lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nỗ lực tìm tòi, khám phá không ngừng, bằng trí tuệ mẫn tiệp, kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm thực tiễn với nghiên cứu, lý luận. Thực tiễn biến đổi không ngừng, vì vậy, lý luận phải không ngừng vận động và phát triển để phù hợp với thực tiễn./.

Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ MẠNH DẠN TÌM RA NHỮNG LỐI ĐI MỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành tìm đường sang nước Pháp và các nước phương Tây không chỉ bởi muốn tìm hiểu những “bí ẩn” đằng sau những khẩu hiệu về tự do, bình đẳng, bác ái mà thực dân Pháp luôn rêu rao trong quá trình cai trị Việt Nam; không chỉ muốn tìm hiểu thêm những trào lưu tư tưởng mới mà còn bởi Nguyễn Tất Thành đã nhìn thấy những hạn chế của các phong trào đấu tranh theo các khuynh hướng yêu nước trước đó. Thế nên anh đã có sự sáng tạo, chọn con đường đi mới, đó là sang nước Pháp và các nước phương Tây để tìm con đường cứu nước, cứu dân.

Ngày nay, tinh thần dám đổi mới, sáng tạo đó vẫn rất cần thiết cho đất nước, đặc biệt là cho thế hệ trẻ bởi đây là những chủ nhân tương lai của đất nước; là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực chất lượng cao. Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu đòi hỏi thế hệ trẻ không chỉ có nhiệt tình cách mạng, không chỉ cần nhanh nhạy mà còn phải luôn luôn đổi mới sáng tạo, tìm ra các cách thức mới, con đường mới, phương pháp mới phục vụ cho sự phát triển chung, đưa đất nước nhanh chóng sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn.

Năm xưa, Nguyễn Tất Thành chịu cảnh tủi nhục, đau đớn khi nước mất nhà tan mà quyết tâm ra đi tìm được con đường cứu nước đúng đắn mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, mặc dù đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của đất nước. Các nguy cơ đối với cách mạng nước ta đã được Đảng chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đặt ra quyết tâm đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1945; đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Trong đó, nòng cốt phải là thế hệ trẻ với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm, vượt mọi khó khăn thử thách như tinh thần của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc năm xưa.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ MẠNH DẠN TÌM RA NHỮNG LỐI ĐI MỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành tìm đường sang nước Pháp và các nước phương Tây không chỉ bởi muốn tìm hiểu những “bí ẩn” đằng sau những khẩu hiệu về tự do, bình đẳng, bác ái mà thực dân Pháp luôn rêu rao trong quá trình cai trị Việt Nam; không chỉ muốn tìm hiểu thêm những trào lưu tư tưởng mới mà còn bởi Nguyễn Tất Thành đã nhìn thấy những hạn chế của các phong trào đấu tranh theo các khuynh hướng yêu nước trước đó. Thế nên anh đã có sự sáng tạo, chọn con đường đi mới, đó là sang nước Pháp và các nước phương Tây để tìm con đường cứu nước, cứu dân.

Ngày nay, tinh thần dám đổi mới, sáng tạo đó vẫn rất cần thiết cho đất nước, đặc biệt là cho thế hệ trẻ bởi đây là những chủ nhân tương lai của đất nước; là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực chất lượng cao. Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu đòi hỏi thế hệ trẻ không chỉ có nhiệt tình cách mạng, không chỉ cần nhanh nhạy mà còn phải luôn luôn đổi mới sáng tạo, tìm ra các cách thức mới, con đường mới, phương pháp mới phục vụ cho sự phát triển chung, đưa đất nước nhanh chóng sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn.

Năm xưa, Nguyễn Tất Thành chịu cảnh tủi nhục, đau đớn khi nước mất nhà tan mà quyết tâm ra đi tìm được con đường cứu nước đúng đắn mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, mặc dù đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của đất nước. Các nguy cơ đối với cách mạng nước ta đã được Đảng chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đặt ra quyết tâm đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1945; đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Trong đó, nòng cốt phải là thế hệ trẻ với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm, vượt mọi khó khăn thử thách như tinh thần của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc năm xưa.

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

ĐIỂM NHẤN VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ xây dựng, phát triển con người bên cạnh nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa ở mục VII: “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người”. Trước đó trong BCCT Đại hội X, XI mới tập trung nhấn mạnh đến nhiệm vụ “Phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội” (mục VII, Đại hội X), “Chăm lo phát triển văn hóa” (mục VI, Đại hội XI). Tại Dự thảo lần này, nhiệm vụ phát huy sức mạnh con người Việt Nam được đặc biệt nhấn mạnh, bởi nguồn lực con người được đánh giá là nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình phát triển. Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030 xác định: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hoá, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”, “tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”.

Cùng với điểm nhấn về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước thì tinh thần “đổi mới sáng tạo”, gắn liền với tinh thần, trí tuệ, sức sáng tạo, trí thông minh, nhạy bén của người Việt cũng là một điểm nhấn trong Dự thảo trình Đại hội XIII.

Trong Dự thảo đặc biệt nhấn mạnh đến việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp. Theo đó, phải “phát triển con người toàn diện”, “khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển của dân tộc, tinh thần yêu nước, tự hào, ý chí tự cường và lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội”, “đề cao ý thức, trách nhiệm, đạo đức xã hội, sống và làm việc theo pháp luật”.

Nếu như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI  năm 2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước có nhấn mạnh đến nhiệm vụ: “Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo”, thì trong  Dự thảo lần này lại nhấn mạnh đến nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng, hình thành con người mới với những phẩm chất, đặc tính cơ bản là: “giàu lòng nhân ái, khoan dung, chân thành, tín nghĩa, trọng đạo lý, đức tính cần cù, chăm chỉ, tiết kiệm, sáng tạo, hiện đại”.

Để xây dựng, hình thành những con người mới có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, Dự thảo đề ra nhiều nhiệm vụ: “Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho thanh niên”; “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”; “Khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân được phát huy các năng lực tự do sáng tạo trong đời sống kinh tế, xã hội”. Trong giáo dục con người, vai trò của gia đình có ý nghĩa quan trọng, vì thế các cấp các ngành cần “đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”; đề cao tinh thần gương mẫu, tiên phong của người lãnh đạo, quản lý, tạo môi trường, không gian văn hóa lành mạnh, dân chủ, nhân văn; khuyến khích tinh thần tự do, đổi mới sáng tạo vì mục tiêu phát triển đất nước.

Nhằm khắc phục những khuyết tật của mặt trái nền kinh tế thị trường, tâm lý, lối sống đề cao giá trị vật chất, đồng tiền ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức xã hội và quá trình xây dựng, hình thành nhân cách con người, Dự thảo đề ra yêu cầu phải “xây dựng văn hoá doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh”, “xây dựng môi trường văn hoá công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn”, “xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hoá trong lãnh đạo, quản lý”, “đề cao tính tiên phong, gương mẫu trong văn hoá ứng xử của người lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức và đảng viên”. Sự gương mẫu, tiên phong của cán bộ, đảng viên và những người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng, truyền đi cảm hứng, thông điệp nhân văn, lan tỏa những giá trị cao đẹp cho cộng đồng.

 Với những thành tựu đạt được và cả những hạn chế, yếu kém qua 35 năm đổi mới, việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc được đề ra như sứ mệnh, nhiệm vụ cấp thiết, thiêng liêng trong bối cảnh hiện nay, đòi hỏi quyết tâm chính trị lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cơ sở phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa truyền thống và sức mạnh tinh thần thời đại của con người Việt Nam. Vì thế, việc nhận thức đẩy đủ, sâu sắc về giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được đề cập trong Dự thảo có ý nghĩa quan trọng, góp phần quyết định việc thực hiện thành công những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đã đề ra./.

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2020

NIỀM TIN VỮNG CHẮC VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Nước ta quá độ lên CNXH tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước, nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, không chỉ có thời cơ mà còn có cả những thách thức, những nguy cơ. Trong hợp tác kinh tế với các nước, nhất là với các nước tư bản phát triển, là những trung tâm kinh tế, kỹ thuật hùng mạnh, họ có thể lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để gây sức ép đối với chúng ta, nhất là trong những lúc chúng ta gặp khó khăn, buộc chúng ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho họ, hòng lái chúng ta đi chệch khỏi định hướng XHCN. Mặc dù hòa bình, hợp tác, phát triển là xu hướng của thời đại nhưng còn một xu hướng khác đối lập là xu hướng cường quyền, áp đặt. Mưu toan của các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang thể hiện trong các điểm nóng trên nhiều khu vực của thế giới, đang là những mưu toan độc chiếm các vùng biển đảo, xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước khác.

Đó là những thách thức, những nguy cơ mà chúng ta cần có sự nhận thức sâu sắc và tỉnh táo, không một chút mơ hồ, mất cảnh giác, để có những chủ trương, biện pháp ngăn ngừa, đối phó hữu hiệu. Chúng ta thực hiện phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc về mục tiêu chiến lược và mềm dẻo linh hoạt về sách lược. Đấu tranh không phải để phá vỡ hợp tác mà để phát triển sự hợp tác. Phải biết khéo tận dụng thời cơ, tranh thủ quan hệ với các nước lớn trong xu hướng đa cực hóa để mở rộng sự hợp tác vừa có lợi, vừa bảo vệ được mình và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Một vấn đề nữa cũng không kém phần quan trọng là khi nước ta hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, chúng ta cũng chịu sự tác động hai chiều tích cực và tiêu cực đến kinh tế của nước ta. Tác động tích cực khi kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ổn định phát triển, tác động tiêu cực khi kinh tế thế giới và kinh tế khu vực rơi vào trì trệ khủng hoảng. Chúng ta cần có chính sách sử dụng tốt mặt tích cực và ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực, giữ cho nền kinh tế nước ta ổn định và phát triển. Đây là bài học thực tế đã xử lý trước những tác động tiêu cực của cơn khủng hoảng tài chính-tiền tệ và khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới trong thời gian qua.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ TBCN theo quan điểm của V.I.Lênin, người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; nhất định thực hiện được mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

KIÊN ĐỊNH GẮN LIỀN VỚI ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được xây dựng trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là sự lựa chọn của lịch sử. Đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin, xác định độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu xuyên suốt, được xây đắp, bảo vệ bằng xương máu của bao thế hệ người dân đất Việt. Sự lựa chọn và kiên định đó đã đem lại thành quả, để đất nước có “vị thế và cơ đồ” như ngày hôm nay. Bởi vì chủ nghĩa, tư tưởng, chế độ ấy bảo vệ lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân lao động, có Đảng Cộng sản là đội quân tiên phong của giai cấp công nông lãnh đạo, tổ chức cách mạng, vì lợi ích của dân tộc, nhân dân.

Chính vì vậy, trong bài viết “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại Hội XIII của Đảng, đưa đất bước vào một giai đoạn phát triển mới”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Đây là nền tảng vững chắc của Đảng ta. Thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên đổi mới không phải là “đổi màu”, “hòa tan” như các thế lực thù địch mong muốn.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG

- Nhờ có sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về điều kiện ra đời của đảng cộng sản ở các nước thuộc địa như Việt Nam đã dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Luận điểm chung của chủ nghĩa Mác - Lênin là: đảng cộng sản ra đời là sự kết hợp giữa phong trào công nhân và chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong điều kiện Việt Nam, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, phong trào yêu nước đang tập hợp được tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân tham gia chống Pháp, để thành lập được đảng cộng sản phải bắt đầu từ sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào yêu nước, vào giai cấp công nhân, giác ngộ họ, hình thành các tổ chức cộng sản. Sau này, Người tổng kết: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước”.

- Từ đặc điểm, hoàn cảnh ra đời và nhiệm vụ hàng đầu đặt ra đối với Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam, khẳng định là “Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của dân tộc Việt Nam”; “Đảng ta là con nòi của dân tộc”. Mục đích của Đảng được Người khẳng định gồm 8 chữ là: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. 

- Tư tưởng về các nguyên tắc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam của Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo các nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới của của V.I. Lênin. Người nêu rõ 5 nguyên tắc xây dựng Đảng là: (1) Tập trung dân chủ. (2) Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. (3) Tự phê bình và phê bình. (4) Kỷ luật nghiêm minh và tự giác. (5) Đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đặc biệt, Người rất đề cao xây dựng Đảng về đạo đức, xác định mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, để Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh”.

- Luận điểm về tự chỉnh đốn, tự đổi mới của Đảng là một điểm sáng tạo mới, thống nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ điều kiện của một xã hội quá độ từ sản xuất nhỏ, lạc hậu đi lên, Người chỉ rõ: Đảng ta như cơ thể sống, tồn tại trong xã hội, không thể không chịu ảnh hưởng của xã hội, nhất là những hạn chế, thói hư tật xấu trong xã hội. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh” mới lãnh đạo được nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựa vào dân để xây dựng Đảng khẳng định mối quan hệ “máu thịt” giữa Đảng với nhân dân, với dân tộc và niềm tin của Người vào nhân dân trong xây dựng Đảng.

Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng và phát triển tư tưởng của Người trong mỗi giai đoạn cách mạng là công việc hết sức cần thiết. Dựa trên những nguyên lý lý luận, quan điểm cơ bản, cốt lõi, phương pháp luận khoa học Hồ Chí Minh để vận dụng, phát triển một cách sáng tạo trong giải quyết các vấn đề đặt ra của mỗi giai đoạn cách mạng, không đơn giản, giáo điều, máy móc hay chủ quan, duy ý chí, vô nguyên tắc là điều kiện của thành công trong học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay./.

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Vận dụng các tư tưởng đạo đức tốt đẹp của dân tộc và nhân loại là sáng tạo nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tư tưởng về đạo đức. Khẳng định vai trò quan trọng hàng đầu của đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ các bậc vĩ nhân trong lịch sử nhân loại, như Đức Phật Thích ca, Chúa Gie-su, Khổng tử, Lênin, Găng-đi, Tôn Dật tiên…đều là những con người mẫu mực về đạo đức, cống hiến cuộc sống của mình cho loài người. Vận dụng những giá trị đạo đức truyền thống của nhân loại, kết hợp với đạo đức cộng sản, Người khẳng định vai trò quan trọng hàng đầu của đạo đức: Đạo đức là gốc, “như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối”; đạo đức là chỗ dựa của con người chân chính, khi có đạo đức thì “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”. Ngược lại, “người không có đạo đức thì không làm nổi việc gì”...

- Kết hợp những giá trị đạo đức truyền thống với đạo đức cộng sản Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết nên những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam thời đại mới. Từ quan niệm đạo đức của Nho giáo “trung quân ái quốc, hiếu đễ với cha mẹ”, Người nêu giá trị đạo đức mới là: Trung với nước, hiếu với dân. Từ truyền thống “bầu ơi thương lấy bí cùng” của dân tộc, Người khẳng định phẩm chất đạo đức “Yêu thương con người, sống có nghĩa có tình” của người cách mạng. Kế thừa giá trị đạo đức trong Nho giáo về “tu thân”, Người khẳng định, trong quan hệ đối với mình, ai ai cũng phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Trong điều kiện của thời đại mới, người cách mạng phải có tinh thần quốc tế quốc tế trong sáng… Những phẩm chất đạo đức mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên trên đây thể hiện sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng đạo đức truyền thống và hiện tại, làm khuôn mẫu ứng xử trong quan hệ với mình, với người, với việc của mỗi con người.  

- Không chỉ nêu những tư tưởng về phẩm chất đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới. Đó là “Nói đi đôi với làm”; “Phải nêu gương về đạo đức”; “Xây đi đối với chống” và “Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời”. Về sự cần thiết phải tu dưỡng đạo đức suốt đời, Người viết: “Một đảng, một dân tộc và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại được mọi người yêu mến và ca ngợi không có nghĩa là hôm nay vẫn được yêu mến và ca ngợi nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. 

VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ GIẢI QUYẾT THÀNH CÔNG NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN ĐẶT RA HIỆN NAY

Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam 90 năm qua (1930-2020), Đảng luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; không ngừng phấn đấu, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực tổ chức, giải quyết thành công những vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... trong nhiều năm qua đã khẳng định vai trò to lớn về sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, Đảng và nhân dân ta luôn trung thành, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Nhờ đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại.

Đảng ta nhận thức sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mang bản chất cách mạng và khoa học. Vì thế, trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước phải kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều, áp dụng kinh nghiệm của nước ngoài một cách rập khuôn, máy móc.

Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng đã thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng. Nêu cao tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đảng tăng cường xây dựng về tư tưởng, tổ chức, đạo đức gắn liền với xây dựng Đảng chính trị. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng.

Càng đứng trước nhiều khó khăn thách thức, càng phải kiên định nền tảng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, càng thấm nhuần sâu sắc và thực hiện thật tốt những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, càng ý thức yêu cầu phải tiếp tục vận dụng đúng đắn, sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn mới của đất nước; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trên thực tế, từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, Trung ương 5 (khóa XII) của Đảng, cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Nhiều vụ án tham nhũng lớn đã được phát hiện, đưa ra xét xử công khai. Đó là bằng chứng bác bỏ luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động về vai trò lãnh đạo của Đảng. Kết quả đó có ý nghĩa to lớn góp phần tiếp tục khẳng định vị thế, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam với nền tảng tư tưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là đảng duy nhất có đủ năng lực lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, hơn 75 năm qua, luôn là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thực sự là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng khen ngợi Quân đội nhân dân Việt Nam luôn chủ động, nhạy bén, tích cực đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị và bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ, Quân đội ta sẽ tiếp tục xung kích đi đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; các cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị trong toàn quân tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA

- Là “nhà văn hóa lớn kiệt xuất trên thế giới”, qua nghiên cứu, tích lũy trong cuộc đời bôn ba khắp 4 phương trời, ngay từ năm 1943, trong những trang cuối của cuốn Nhật ký trong tù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một định nghĩa đầy đủ về văn hóa. Người viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn".  Điều thú vị là định nghĩa văn hóa của UNESCO mãi sau này mới có, có nội dung cơ bản giống như định nghĩa văn hóa do Hồ Chí Minh nêu ra từ năm 1943.

Trong những bài viết trước cách mạng Tháng Tám, Người đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản nhất của nền văn hóa Việt Nam là “dân tộc, khoa học, đại chúng”, bao quát cả truyền thống và cách mạng của nền văn hóa mới.

 - Khi trở thành lãnh tụ, lãnh đạo đất nước, Người nhấn mạnh: Văn hóa là một trong 4 lĩnh vực luôn luôn phải quan tâm thực hiện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”; Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; “Văn hóa soi đường quốc dân đi”. Yêu nước là nấc thang giá trị cao nhất của dân tộc Việt Nam và của nền văn hoá Việt Nam. Với các lĩnh vực hoạt động của văn hóa, Người coi "văn hoá, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị"; “văn hóa là một mặt trận và anh chị em văn nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận ấy”. 

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của phát triển kinh tế ngay sau Cách mạng Tháng Tám qua câu nói: “Độc lập mà dân vẫn đói khổ thì độc lập cũng chẳng để làm gì”. Đó là sự diễn đạt mới về mục đích, nhiệm vụ phát triển kinh tế là đảm bảo và không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Xuất phát từ đặc điểm của thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, khi mức sống của nhân dân còn rất thấp và con người là lực lượng sản xuất chủ yếu nhất, Người chủ trương: “Phát triển kinh tế đến đâu, cải thiện đời sống nhân dân đến đấy”.

- Trong bối cảnh cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung đang được đề cao và thực hiện phổ biến, đồng loạt ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, Hồ Chí Minh đã khẳng định sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ. Người viết: “Nền kinh tế Việt Nam tồn tại bốn hình thức sở hữu chính: Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân; sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”. “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công  nghiệp (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Nói về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, Người đã sớm nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế quá độ, khi viết: “Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”.

- Điểm sáng tạo trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là sự nhấn mạnh về tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, tăng gia sản xuất phải đi đôi với thực hành tiết kiệm. Người coi “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”. Điểm nổi bật là tư tưởng của Người về chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong nền kinh tế, coi đó là những “giặc nội xâm”, đồng minh với giặc ngoại xâm.

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ

- Sáng tạo nổi bật trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Phân tích sự cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương được thực hiện bằng bạo lực, đàn áp đẫm máu những người yêu nước, phản kháng lại sự cai trị đó, Hồ Chí Minh đi đến khẳng định: cần dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng dưới hình thức cuộc khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền. Lực lượng thực hiện cuộc khởi nghĩa đó là lực lượng chính trị của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang được xây dựng trong các phong trào của quần chúng. Trong cao trào cách mạng giải phóng dân tộc 1941-1945, đầu tiên, Hồ Chí Minh lựa chọn những du kích tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn lập ra đội tự vệ. Năm 1944 Người chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, xác định nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền, vận động quần chúng, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh cùng với nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ cách mạng. Thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong 12 ngày với sức mạnh áp đảo của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang hỗ trợ, chúng ta đã giành được chính quyền trong cả nước và hầu như không phải sử dụng đến vũ khí, không đổ máu, chết người... 
- Sau Cách mạng Tháng Tám, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, tư tưởng quân sự trong xây dựng quân đội quốc gia Việt Nam của Hồ Chí Minh là kết hợp giữa chính trị và quân sự. Người khẳng định: "Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng, lại có hại". Người đặc biệt quan tâm đến xây dựng sức mạnh tinh thần, giác ngộ của quân đội với quan điểm “người trước, súng sau”. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ Đội Việt Nam tuyên truyền, giải phóng quân, kết hợp nhiệm vụ tuyên truyền và nhiệm vụ chiến đấu, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực sự là đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”…

- Sáng tạo trong tư tưởng quân sự nổi bật của Hồ Chí Minh thể hiện trong quan điểm xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương, chiến tranh nhân dân và xây nền quốc phòng toàn dân. Điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng căn cứ địa cách mạng là "trận địa lòng dân", "có dân là có tất cả", nơi ở "gần dân không gần đường". Trong quá trình đấu tranh giành chính quyền, từ bản Cốc Pó, căn cứ địa của cách mạng đã không ngừng được mở rộng, trở thành vùng rộng lớn Cao - Bắc - Lạng, Thái - Hà - Tuyên, cùng với các "an toàn khu" ngay sát các đô thị lớn, làm cơ sở cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Với tầm nhìn xa rộng, sau Cách mạng Tháng Tám, các cơ quan đảng, chính phủ, đoàn thể chuyển về Hà Nội, Người đã cử đồng chí Phạm Văn Đồng ở lại Tuyên Quang để xây dựng căn cứ địa "nhờ đồng bào một lần nữa" trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1946-1954. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại hội III của Đảng, tháng 9 năm 1960 đã xác định xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà.

- Sáng tạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ trong tư tưởng chỉ đạo “dám đánh, quyết đánh, biết đánh”. Đứng trước sức mạnh quân sự hùng hậu của thực dân Pháp vào năm 1946 hay sự hung hăng, tàn bạo của đế quốc Mỹ năm 1966, Hồ Chí Minh không hề nao núng, khẳng định quyết tâm chiến thắng cuộc chiến tranh phi nghĩa, xâm lược của chúng với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”; “…Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ, Không có  gì quý hơn độc lập tự do”… Đó là tư tưởng sáng tạo của chiến tranh nhân dân “trường kỳ kháng chiến”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; "lấy yếu đánh mạnh", "lấy ít đánh nhiều", "lấy nhỏ đánh lớn"; “càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng”. Trong đánh địch, với truyền thống lấy đại nghĩa thắng hung tàn của dân tộc, Người không cho rằng trận thắng mà để chết nhiều người (cả ta và địch) là trận thắng hay; đề cao công tác địch vận, “đánh mà chiếm được đồn là giỏi, nhưng không đánh mà chiếm được đồn thì còn giỏi hơn…” 

- Sáng tạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn thể hiện trong khởi đầu, kết thúc chiến tranh và con đương đi đến thắng lợi. Biểu hiện đầy đủ nhất của tư tưởng này là các câu thơ trong bài thơ chúc tết năm 1969: Vì độc lập, vì tự do, Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Tiến lên chiến sỹ đồng bào, Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn. Thực tế giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước dã diễn ra đúng như thế.