Hiển thị các bài đăng có nhãn vô sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vô sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2020

DI SẢN VỀ TRÍ TUỆ CỦA PH.ĂNGGHEN TRONG VIỆC XÂY DỰNG LÝ LUẬN CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN

V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: “Từ ngày mà vận mệnh đã gắn liền Các Mác với Phri-đrich Ăng-ghen thì sự nghiệp suốt đời của hai người bạn ấy trở thành sự nghiệp chung của họ. Cho nên muốn hiểu Phri-đrich Ăng-ghen đã làm gì cho giai cấp vô sản thì phải nhận rõ ý nghĩa của học thuyết và hoạt động của Mác đối với sự phát triển của phong trào công nhân hiện đại”. Trong lĩnh vực này, Ph.Ăngghen là người đã cùng C.Mác và độc lập với C.Mác xây dựng thành công cả ba bộ phận cấu thành lý luận của giai cấp vô sản, gồm: triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học.

Về triết học, triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Với chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngoài những tác phẩm viết chung với C.Mác, những tác phẩm Ph.Ăngghen viết độc lập như “Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên”, “Lút vích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, v.v. đã để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc về thế giới quan duy vật biện chứng khi Ông khẳng định: Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất; thế giới thống nhất ở tính vật chất; vận động, không gian, thời gian là những phương thức tồn tại của vật chất; mọi vận động trong thế giới vật chất đều tuân theo những quy luật chung nhất, vốn có của nó như “Quy luật về sự chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng và ngược lại”, “Quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập”, “Quy luật về sự phủ định của phủ định”, v.v.  Ph.Ăngghen cũng là người đầu tiên đã vận dụng những quy luật này vào việc nhận thức sự vận động của giới tự nhiên, luận giải rõ mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên - con người - xã hội…

Với chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác phẩm “Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị” - công trình lớn đầu tiên của Ph.Ăngghen về kinh tế được viết trong năm 1843 và đầu năm 1844 - giữ vai trò rất quan trọng đối với quá trình hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong tác phẩm này, ngoài việc phê phán các nhà kinh tế học tư sản, Ph.Ăngghen đã nhìn nhận sâu sắc cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh, nội dung kinh tế và ảnh hưởng xã hội của nó. Tác phẩm cung cấp nhiều tư liệu quan trọng cho “Hệ tư tưởng Đức”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị - Lời tựa” và một số tác phẩm khác của C.Mác và Ph.Ăngghen sau này; trong đó “Hệ tư tưởng Đức” là tác phẩm viết chung của hai Ông, thể hiện những quan điểm duy vật mang tính nền tảng cho việc nhận thức lịch sử - xã hội. Theo đó, sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại của xã hội và tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đạt được quyết định trạng thái của xã hội; không phải ý thức quyết định đời sống của con người mà chính đời sống của con người quyết định ý thức của họ… Những tư liệu này được C.Mác hệ thống, khái quát thành tư tưởng cơ bản nhất quan điểm duy vật về lịch sử, thể hiện trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị - Lời tựa” của Ông là: Sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, sự phát triển này là quá trình lịch sử - tự nhiên, tuân theo những quy luật khách quan, trong đó trước hết và quan trọng nhất là quy luật về lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất, quy luật về cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng.

Sự hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đã xác lập một thế giới quan khoa học và một phương pháp luận khoa học, nó không chỉ giải thích thế giới mà còn là công cụ định hướng cho con người cải tạo thế giới.

Về kinh tế chính trị, Ăngghen đã cùng Các Mác xây dựng lên một học thuyết kinh tế mới, đem lại một cuộc cách mạng trong kinh tế học chính trị.

Từ những tác phẩm đầu tay của mình như “Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị”, “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh” cùng nhiều bài viết khác, Ph.Ăngghen đã vạch rõ sự khốn cùng của người lao động, kịch liệt phê phán kinh tế chính trị tư sản biện hộ cho hệ thống tư bản chủ nghĩa, từ đó Ông chỉ ra nguyên nhân sâu xa của những bất bình đẳng, bất công xã hội, nguyên nhân sâu xa của sự khốn cùng mà giai cấp công nhân và người lao động đang gánh chịu là chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, nhất là chế độ sở hữu tư sản. Chính những phát hiện ban đầu mang tính khoa học này của Ph.Ăngghen đã gợi mở cho Các Mác một hướng nghiên cứu mới về xã hội tư bản chủ nghĩa - hướng nghiên cứu chuyển từ triết học và luật học sang nghiên cứu kinh tế chính trị. Đúng như V.I.Lênin đã  nhận định: “Rõ ràng là mối quan hệ với Ăngghen đã thúc đẩy Mác bắt tay vào nghiên cứu chính trị kinh tế học, là khoa học trong đó những tác phẩm của Mác đã gây ra cả một cuộc cách mạng”. Cuộc cách mạng mà V.I.Lênin đề cập đến là sự ra đời của Học thuyết giá trị thặng dư - Học thuyết được coi là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lý luận về kinh tế chính trị của C.Mác vì nó đã phát hiện ra quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, làm sáng tỏ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Về chủ nghĩa xã hội khoa học - lĩnh vực “thể hiện về mặt lý luận của phong trào vô sản” được V.I.Lênin khái quát: “Có thể vắn tắt nêu công lao của Mác và Ăngghen đối với giai cấp công nhân như sau: hai Ông đã dạy cho công nhân tự nhận thức được mình và có ý thức về mình, và đã đem khoa học thay thế cho mộng tưởng”. Ngay trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” - văn kiện cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản khoa học do C.Mác và Ph.Ăngghen viết được công bố vào đầu năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ những quy luật phát triển của xã hội dẫn đến sự thay thế nhau của các phương thức sản xuất để luận chứng cho sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản, chỉ rõ những con đường xây dựng chế độ xã hội mới là chủ nghĩa cộng sản. Cũng trong chương này, các tác giả đã giải thích sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản với tư cách là lực lượng thực hiện cuộc cách mạng xã hội, để “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Với bản thân Ph.Ăngghen, có thể nói suốt cả cuộc đời, Ph.Ăngghen đã gắn bó chặt chẽ với giai cấp công nhân và phong trào công nhân từ tri thức, sự cảm thông, tấm lòng trung thành vô hạn và từ lập trường kiên định cách mạng của mình. Ngay cả khi ở trung tâm công nghiệp của Anh là Mansetxtơ, nơi Ph.Ăngghen đến một hãng buôn mà cha Ông có cổ phần, Ph.Ăngghen cũng không phải chỉ làm việc ở văn phòng mà Ông còn thường xuyên đi vào các khu phố bẩn thỉu - nơi công nhân sống chen chúc, thấy tận mắt sự khốn cùng và những nỗi khổ đau của họ.. Những chuyến đi này giúp Ph.Ăngghen trực tiếp nhận thấy nhu cầu bức thiết của một giai cấp bị áp bức, bị bóc lột tàn bạo nhất trong chủ nghĩa tư bản và phát hiện ra sức mạnh to lớn ở giai cấp này với tư cách là một một lực lượng xã hội đóng vai trò chủ đạo thực hiện cuộc cách mạng xóa bỏ mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng một xã hội mới vì sự phát triển của con người. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra một lực lượng bị buộc phải hoàn thành cuộc cách mạng ấy, nếu không sẽ bị diệt vong”, “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới …, - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

Nhìn nhận quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học, V.I.Lênin khẳng định: “Ăngghen là người đầu tiên đã nói rằng giai cấp vô sản không phải chỉ là giai cấp đau khổ, rằng chính địa vị kinh tế nhục nhã của giai cấp vô sản thúc đẩy, một cách không gì ngăn cản nổi, nó tiến lên và buộc nó phải đấu tranh cho sự giải phóng cuối cùng của nó. Và giai cấp vô sản đấu tranh sẽ tự mình giúp bản thân mình. Phong trào chính trị của giai cấp công nhân nhất định sẽ dẫn công nhân đến chỗ hiểu rằng đối với họ, không có lối thoát nào khác hơn là chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, chủ nghĩa xã hội chỉ sẽ là một sức mạnh, khi nó đã trở thành mục tiêu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân. Đó là những tư tưởng chủ chốt trong cuốn sách của Ăngghen viết về tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh”.

Có thể khẳng định rằng: Kho tàng lý luận định hướng cho giai cấp vô sản nhận thức và hoạt động được hình thành và phát triển trong thế kỷ XIX in rất đậm dấu ấn trí tuệ và tình cảm của Ph.Ăngghen, kể cả trong triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nghiên cứu toàn bộ kho tàng lý luận ấy, V.I.Lênin đã nhận định: Sau C.Mác, không ai khác, Ăngghen chính là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh.

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2020

HỒ CHÍ MINH CÓ PHẢI LÀ NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA DÂN TỘC KHÔNG?

Câu trả lời dứt khoát là “CÓ”-nhưng đó là chủ nghĩa dân tộc vô sản-tức là không như các thế lực phản động, các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, bất mãn ở trong, ngoài nước vẫn xuyên tạc và cáo buộc. Cùng quan điểm này, tác giả Dương Quốc Dũng đã kết luận thực chất đó trong bài viết cùng tên Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản đăng trên Tạp chí Cộng sản, ngày 19-5-2011; đồng thời khẳng định sự sai lầm về nhận thức, tính phản động về tư tưởng và sự nguy hại của luận điệu trên: “Kết luận trên cũng có nghĩa là luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một cách hiểu và diễn đạt không chính xác, không đầy đủ và xuyên tạc tư tưởng của Người. Luận điểm sai trái ấy đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH-tư tưởng chỉ đạo chiến lược lớn xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam. Rõ ràng luận điểm ấy muốn Việt Nam từ bỏ ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, từ bỏ con đường mà dân tộc ta đã lựa chọn và quyết hy sinh phấn đấu trong hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Theo đó, cũng rút ra kết luận Chủ tịch Hồ Chí Minh là chiến sĩ cộng sản chân chính.

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

SỰ KHÁC NHAU GIỮA DÂN CHỦ VÔ SẢN VÀ DÂN CHỦ TƯ SẢN

So sánh và phân biệt dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa) với dân chủ tư sản, V.I.Lênin đã khẳng định: “ dân chủ vô sản là nền dân chủ gấp triệu lần hơn dân chủ tư sản”. Sự khác nhau căn bản giữa hai nền dân chủ đó thể hiện ở bản chất mục tiêu của dân chủ, đó là  ở chỗ dân chủ thuộc về ai. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ của đại đa số nhân dân lao động, đại diện và phục vụ cho lợi ích của nhân dân lao động. Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ thiểu số của giai cấp tư sản, đại diện và phục vụ cho lợi ích của thiểu số bóc lột.
Khác nhau ở bản chất của giai cấp dân chủ: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thông qua sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa; là nền dân chủ nhất nguyên bảo đảm vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng mácxít - Lênin. Còn dân chủ tư sản là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp tư sản, thông qua sự quản lý của nhà nước tư sản; dù có nhiều đảng thay nhau lãnh đạo dưới hình thức đa nguyên, nhưng về bản chất nó vẫn là phục tùng sự lãnh đạo của giai cấp tư sản bóc lột.
Khác nhau ở cơ sở khách quan quy định bản chất giai cấp dân chủ:
Cơ sở khách quan quy định bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, phù hợp với tính chất, trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất, cho phép tạo nên sự bình đẳng về quyền lực của đại đa số nhân dân lao động. Còn cơ sở khách quan quy định bản chất của chế độ dân chủ tư sản là chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thừa nhận chế độ người bóc lột người, tạo nên sự bất bình đẳng, đối kháng sâu sắc về lợi ích trong xã hội.
          Khác nhau ở cơ sở chính trị - xã hội của chế độ dân chủ: Cơ sở chính trị - xã hội của chế độ dân cng dân, chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của giai cấp công nhân, khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, đội ngũ tri thức và các tầng lớp lao động khác dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Còn cơ sở chính trị - xã hội của giai cấp tư sản là bản chất của giai cấp tư sản.
          Khác nhau ở hình thức, cơ chế thực hiện dân chủ: Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện thông qua nhà nước pháp quyền XHCN, còn đối với dân chủ tư sản đó là nhà nước pháp quyền tư sản.
Khác nhau ở mục tiêu của dân chủ: Mục tiêu của dân chủ xã hội xã hội chủ nghĩa là hướng tới giải phóng con người, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân. Thực hiện một nền dân chủ thực sự trên mọi mặt đời sống xã hội. Còn mục tiêu của dân chủ tư sản là nhằm duy trì, thiết lập, bảo vệ lợi ích, sự áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, sự bất công trong xã hội, sự bất bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc, kìm hãm sự tiến bộ, văn minh của nhân loại. Thực hiện một nền dân chủ giả hiệu, giả dối và cắt xén.
Những sự khác biệt căn bản đó là cơ sở để nhận thức, đồng thời là cơ sở để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Đồng thời là cơ sở để đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch phản động xuyên tạc về dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và Việt Nam nói riêng.

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2017

Cách mạng Tháng Mười đã khai sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, thiết lập nền chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động


Ngay trong đêm 25/10/1917, Đại hội lần thứ II Xôviết toàn Nga đã họp ra tuyên bố thành lập Chính quyền Xôviết do V.I.Lênin đứng đầu. Để thủ tiêu bộ máy nhà nước cũ, sa thải, cách chức các quan lại và tay chân của chính phủ lâm thời, ngày 20/12/1917, V.I.Lênin ký sắc luật thành lập Ủy ban đặc biệt toàn Nga - cơ quan an ninh quốc gia trực thuộc Hội đồng các ủy viên nhân dân. Sau khi thành lập, y ban đặc biệt này đã đập tan các tổ chức phản cách mạng và hành động phá hoại của chúng, bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chỉ trong 3 tháng sau khi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, bộ máy nhà nước chuyên chính vô sản được thiết lập và hoàn thiện từng bước từ Trung ương đến địa phương; đó là Ban Chấp hành Trung ương các Xôviết toàn Nga, Hội đng Ủy viên nhân dân (chính phủ), các cơ quan Trung ương và Xôviết các cấp. Vấn đề cơ bản nhất của cuộc cách mạng vô sản - vấn đề chính quyền bảo đảm cho sự thống trị chính trị của giai cấp công nhân chính thức trở thành hiện thực.

Với sự ra đời của Nhà nước Xôviết, giai cấp công nhân  và quần chúng lao động Nga từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột trở thành người làm chủ xã hội chân chính, giành chính quyền về tay mình, tổ chức cải tạo và xây dựng xã hội mới. Từ đây, những tàn tích của chế độ chuyên chế phong kiến Sa hoàng và tư sản phản động đã bị xóa bỏ. V.I.Lênin đã viết: Đã lâu rồi, đã hàng bao thế kỷ nay, thậm chí hàng ngàn năm nay, nhân loại mong ước thủ tiêu “lập tức” mọi sự bóc lột. Cách mạng Tháng Mười thành công, lý tưởng về giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, con người, nhân loại mới thành hiện hiện thực. Đây là cuộc cách mạng “giành được nước Nga từ trong tay bọn nhà giàu để giao lại cho những người nghèo, từ trong tay bọn bóc lột để giao lại những người lao động”. Sự phát triển tất nhiên của cuộc cách mạng như thế là quyền lực chính trị, xã hội thuộc về nhân dân lao động, thể hiện tập trung ở nhà nước. Đây là “vấn đề cơ bản” để nhân dân lao động Nga bắt tay vào xây dựng bộ máy nhà nước thực sự là “công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân”. V.I.Lênin đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với nhiệm vụ này. Chính quyền Xôviết đã ban hành hàng loạt các đạo luật, sắc lệnh xây dựng hệ thống bộ máy, cùng với những cơ chế đảm bảo cho nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt, V.I.Lênin đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ công chức thực sự gương mẫu, “Sống trong lòng quần chúng. Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng”. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh “không khoan nhượng” với tệ quan liêu, tham nhũng và hiện tượng vô trách nhiệm ở mỗi người”.