Hiển thị các bài đăng có nhãn giai cấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giai cấp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

CON ĐƯỜNG, CÁC GIAI ĐOẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Cùng với việc phát hiện ra SMLS của GCVS, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra con đường để thực hiện SMLS đó - con đường cách mạng XHCN và chứng minh tính tất yếu của cuộc cách mạng đó. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Cách mạng là tất yếu không những vì không thể lật đổ giai cấp thống trị bằng một phương thức nào khác mà còn vì chỉ có trong cách mạng giai cấp đi lật đổ giai cấp khác mới có thể quét sạch mọi sự thối nát của chế độ cũ đang bám chặt theo mình và trở thành có năng lực xây dựng cơ sở mới cho xã hội”.

Trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, một mặt, C.Mác “… coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”; nhưng, mặt khác, ông lại khẳng định rằng con đường để chuyển HTKT-XH TBCN thành HTKT-XH CSCN lại phải thông qua con đường cách mạng vô sản. Người viết: “Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị”. Đồng thời, các ông đã phác thảo một cách khái quát về các giai đoạn của quá trình đó. Các ông cho rằng cuộc đấu tranh của GCCN để thực hiện SMLS của mình là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn từ thấp đến cao, từ tự phát nhỏ lẻ dần đến ngày càng có tính chất tự giác hơn, cuối cùng là cuộc đấu tranh hoàn toàn có tính tự giác trong phạm vi của từng quốc gia, từng khu vực và trong phạm vi toàn cầu. Con đường này, thực hiện qua các giai đoạn cơ bản kế tiếp nhau.

Giai đoạn thứ nhất, giai đoạn mà GCVS đấu tranh “chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ”.C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Thoạt đầu, cuộc đấu tranh được tiến hành bởi những công nhân riêng lẻ; kế đến, bởi những công nhân cùng một công xưởng; và sau đó, bởi những công nhân cùng một ngành công nghiệp, cùng một địa phương, chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ”.

Giai đoạn thứ hai, giai đoạn đấu tranh có tổ chức của GCCN để giành chính quyền. Chính cuộc đấu tranh chính trị cùng môi trường lao động đại công nghiệp đã rèn luyện GCCN và làm cho nó không chỉ là một lực lượng tiềm tàng, có thể thủ tiêu CNTB mà còn làm chín muồi dần các điều kiện, các yếu tố khách quan và chủ quan để có thể biến khả năng tiềm tàng ấy thành hiện thực. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen  đã viết: Sự tiến bộ của công nghiệp - mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó và không đủ sức chống lại nó - đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, thay cho sự chia rẽ của công nhân do cạnh tranh giữa họ gây nên. Như vậy, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn đấu tranh xây dựng, hoàn thiện và sử dụng chính quyền để tiến hành cải tạo triệt để xã hội cũ, xây dựng và bảo vệ chế độ mới-chế độ XHCN (giai đoạn thấp của CNCS) và CSCN (giai đoạn cao của CNCS). Đặc biệt, khi phân tích khó khăn trong cuộc đấu tranh giai cấp của GCCN ở các nước TBCN phát triển kém hơn so với các nước TBCN khác, C. Mác đã viết: “Trong tất cả các lĩnh vực khác thì cũng giống như các nước khác ở lục địa Tây Âu, chúng ta (nước Đức- Người viết chú thích) đau khổ không những vì sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ”. Sau này, trong quá trình xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin lại nhắc lại tư tưởng này để khẳng định những khó khăn khi chưa có CNTB, đồng thời phải tận dụng những thành tựu của CNTB thế giới trong quá trình xây dựng CNXH.

Đặc biệt là, C.Mác, Ph.Ăngghen quan tâm tới sự phong phú của phương pháp cách mạng. Các ông yêu cầu các Đảng Cộng sản phải vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở trong nước và quốc tế.

Trong bối cảnh châu Âu (nước Anh) vào những năm 40 của thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh đến vai trò của bạo lực trong cách mạng vô sản. Sau này (1886), khi điều kiện lịch sử nước Anh đã thay đổi thì trong “Lời tựa viết cho bản tiếng Anh” cho tác phẩm “Tư bản –Tập I” của C. Mác, chính Ph.Ăngghen lại nhấn mạnh đến “phương pháp hòa bình và hợp pháp”. Ông viết: Không còn nghi ngờ gì nữa, trong một lúc như vậy, người ta cần phải nghe tiếng nói của một người (tức của Các Mác - giải thích của người trích dẫn) mà toàn bộ học thuyết là kết quả của suốt một đời nghiên cứu lịch sử kinh tế và tình hình kinh tế nước Anh, một người mà việc nghiên cứu ấy đã dẫn đến kết luận nói rằng: ít nhất là ở châu Âu, nước Anh là nước duy nhất mà cuộc cách mạng xã hội tất yếu sẽ có thể hoàn toàn thực hiện được bằng phương pháp hòa bình và hợp pháp. Dĩ nhiên, ông không bao giờ quên nói thêm rằng, vị tất đã có thể mong chờ được các giai cấp thống trị ở nước Anh sẽ chịu khuất phục trước cuộc cách mạng hòa bình và hợp pháp …”. Ngoài sự “mong chờ” đó, Ph.Ăngghen còn gắn khả năng thực hiện cách mạng “bằng phương pháp hòa bình và hợp pháp” với sự trưởng thành về nhận thức và hành động của GCVS trong quá trình thực hiện SMLS của mình.

 Như vậy, Chủ nghĩa Mác không tuyệt đối hóa về con đường giành chính quyền của GCCN bằng bạo lực cách mạng như các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo. Các ông đã có cái nhìn toàn diện, bao quát dựa trên nền tảng nhân văn cộng sản chủ nghĩa để đưa ra quan điểm về phương thức giành chính quyền của GCCN vừa mang tính khách quan và vừa mang tính khoa học. Vì vậy, dù bối cảnh xã hội hôm nay có nhiều biến đổi, nhưng các quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

GIỮ VỮNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Suốt mấy chục năm qua, nhất là những năm gần đây, các thế lực thù địch không ngừng tấn công vào Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ vũ cho con đường phát triển "kinh tế thị trường tự do", "đa nguyên, đa đảng", tìm mọi cách thủ tiêu, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng... nhưng đều nhận lấy sự thất bại và không bao giờ hiện thực được những mưu đồ, tâm địa xấu xa. Bài học xương máu được Đảng ta rút ra sau hơn 35 năm đổi mới là, để giữ vững định hướng và kiên định con đường đã chọn là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thì Đảng phải giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của mình. Đây nguyên tắc bất di bất dịch, bởi sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường và mọi hoạt động xã hội. Trong nhịp điệu và tiến trình của công cuộc đổi mới, vai trò lãnh đạo của Đảng rất quan trọng, ở những bước chuyển giai đoạn thì vai trò lãnh đạo của Đảng càng đặc biệt được khẳng định. Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Trước hết, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên cần giữ vững bản chất giai cấp và tính tiên phong của Đảng. Bản chất giai cấp của Đảng thể hiện trước hết ở mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Khi định ra đường lối, chính sách, Đảng phải luôn luôn đứng vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng kiên định lập trường có tính nguyên tắc của mình là lãnh đạo nhân dân xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh theo con đường XHCN. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình hình trong nước và thế giới dù khó khăn, phức tạp đến đâu, Đảng cũng vững vàng, không xa rời mục tiêu, lý tưởng của mình, đấu tranh không mệt mỏi cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Hai là, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đại hội VII của Đảng chính thức khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo quan điểm của Đảng ta, cho đến nay tuy có những vấn đề cần bổ sung và phát triển, nhưng Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là học thuyết cách mạng và khoa học nhất, tiên tiến nhất, không thể bác bỏ, phủ nhận (cả về phương pháp luận cũng như hệ thống những luận điểm cơ bản). Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại. Đó là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam gắn liền với những biến động của thế giới, có quan hệ đến đời sống của giai cấp và dân tộc, xã hội và con người, quốc gia và quốc tế.

Ba là, giữ vững và bảo vệ các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng. Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh. Sức mạnh của Đảng là ở tính thống nhất, đoàn kết chặt chẽ "trăm người tiến đánh chỉ như một người". Xa rời hoặc không thực hiện nghiêm túc tập trung dân chủ thì Đảng không thể có được sức mạnh. Bên cạnh đó, thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Bốn là, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Bác Hồ khẳng định, Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, lo đến cả "tương cà, mắm muối” và những thứ cần thiết cho đời sống thường ngày của nhân dân. Phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phải cải tiến, đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước; Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống chính trị.

Quán triệt và thực hiện tốt những vấn đề đó, chúng ta sẽ từng bước đổi mới, chỉnh đốn Đảng có kết quả, đồng thời tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; làm cho Đảng có đủ trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức, đoàn kết thống nhất, có sức chiến đấu cao, đảm đương sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VỚI LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ GIAI CẤP

Tuyệt đối trung thành với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của Internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường; các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐỘI TIỀN PHONG CỦA GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

Khi nói về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn thể phong trào. Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là một bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”.

Cùng với đó, “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản” cũng ghi rõ điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành đảng viên cộng sản, trong đó, không thể không nhắc đến các yêu cầu như thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; không tham gia vào mọi tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc chống cộng sản; hoạt động phù hợp với mục đích của Đảng; có nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành khi tiến hành công tác tuyên truyền; giữ bí mật công việc của Đảng; được một chi bộ đồng ý kết nạp… Điều đó có nghĩa là, Đảng Cộng sản là tổ chức của những con người thực sự tiêu biểu, vượt trội về nhận thức, tư tưởng, hành động hơn quần chúng ngoài Đảng và đảng viên của Đảng Cộng sản phải là những người có đủ năng lực, phẩm chất để tuyên truyền, vận động, thuyết phục giai cấp công nhân và các tầng lớp khác tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp bóc lột.

Ở Việt Nam, được xây dựng và phát triển theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnít chân chính, Đảng Cộng sản là một tổ chức của những con người tiên tiến nhất. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Trong một chỉnh thể được tổ chức chặt chẽ, thống nhất ấy, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng; sinh hoạt gắn liền và chịu sự lãnh đạo, quản lý, kiểm tra của tổ chức Đảng. Để trở thành một thành viên của tổ chức ấy, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930) đã ghi rõ tại mục III: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng thời được vào Đảng”. Trong từng giai đoạn cách mạng, từng thời điểm cụ thể, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của Đảng và trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúng, Đảng đề ra điều kiện, tiêu chuẩn đảng viên phù hợp và chặt chẽ, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Cụ thể, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội lần thứ XI, tháng 1-2011) quy định tại mục 2, Điều 1 là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”.

Từ quy định trong Điều lệ vắn tắt và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể thấy rõ rằng, người/quần chúng muốn trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam thì tất yếu phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Đó gọi là “tính Đảng”, đồng thời cũng chính là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng; với lý tưởng cách mạng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà Đảng lựa chọn. Người được kết nạp vào Đảng nhất định phải là những người ưu tú trong quần chúng; phải có giác ngộ chính trị tốt, thể hiện được tính tiên phong trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường; đồng thời, có khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đó chính là giá trị cao quý của Đảng để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong; đồng thời cũng là giá trị của mỗi người đảng viên trong quá trình phấn đấu, trưởng thành. Điều đó cũng có nghĩa là quần chúng đã muốn/đã quyết tâm phấn đấu vào Đảng thì đều phải nhận thức sâu sắc rằng, đã "gọi là đảng viên thì phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì…Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng… Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.

Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”, song “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân”. Vì thế, Người yêu cầu "Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”, thông qua quá trình phát hiện, bồi dưỡng quần chúng về mọi mặt; đồng thời, các tổ chức cơ sở Đảng “cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Và phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng” để đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng.

Vì nghiêm túc trong công tác phát triển đảng viên và coi đó là một nội dung quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong hơn 90 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phương hướng phát triển đảng viên được đẩy mạnh theo từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Theo nghị quyết các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và kế hoạch công tác hằng năm, các cấp ủy Đảng đã căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung phát triển Đảng toàn diện; đặc biệt, đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân và các thành phần khác như sinh viên đang học tập tại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các học viện, nhà trường, ở các vùng nông thôn hay tại các doanh nghiệp, trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và lao động tự do tại các địa phương… tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân/mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

BẢN HÙNG CA THÁNG 10

Hơn 100 năm qua, lịch sử loài người đã chứng minh Cách mạng Tháng 10 Nga là một trong những sự kiện vĩ đại nhất của thế kỷ XX, có tầm ảnh hưởng sâu rộng và thay đổi trật tự thế giới vì sự tiến bộ của nhân loại. Từ đó đến nay, những thay đổi mang đậm tính cách mạng về giai cấp trong xã hội của Cách mạng Tháng 10 Nga vẫn còn nguyên vẹn với sự thay đổi của thời cuộc.

ĐỘNG LỰC MẠNH MẼ

Cách đây 104 năm, ngày 25-10-1917 theo lịch cũ của nước Nga (tức ngày 7-11-1917), đã ghi nhận ngày thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa vĩ đại đầu tiên ở nước Nga, được gọi là Cách mạng Tháng 10 Nga.

Cách mạng Tháng 10 Nga được đánh dấu là cột mốc mới trong lịch sử phát triển của nhân loại, khi đã đập tan ách áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến và giai cấp tư sản ở nước Nga, đưa giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động lên nắm chính quyền. Cách mạng Tháng 10 Nga mở ra thời đại mới, tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; giải phóng các dân tộc phụ thuộc đế quốc Nga.

Trong lịch sử loài người, chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế vì nó đã mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn nhân loại, khi lần đầu tiên đưa giai cấp công nhân và nông dân lên nắm quyền ở quốc gia có lãnh thổ rộng nhất thế giới.

Cách mạng Tháng 10 Nga không chỉ là động lực cổ vũ các dân tộc thuộc địa đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc mình, mà còn thúc đẩy phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tiếp theo tinh thần của Cách mạng Tháng 10 Nga, nhiều dân tộc trên thế giới đã vùng lên, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân, đế quốc thiết lập; xây dựng chế độ xã hội mới do người lao động làm chủ.

Với cuộc cách mạng này, quyền con người chuyển sang một thời đại mới - thời đại đấu tranh, bảo vệ quyền con người gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, quyền tự quyết của các dân tộc được thực hiện.

KHÔNG THAY ĐỔI THEO BIẾN ĐỘNG CỦA THẾ GIỚI

Thắng lợi của Cách mạng Tháng 10 Nga và sau đó là sự ra đời của Nhà nước Xô viết do lãnh tụ Lenin sáng lập đã làm thay đổi căn bản số phận dân tộc Nga, đưa nước Nga dần trở thành một cường quốc kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục... hàng đầu thế giới; đưa quần chúng công - nông từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; vai trò, vị thế của nước Nga trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Trong vòng 300 năm qua, trên thế giới, không có sự kiện nào vĩ đại hơn Cách mạng Tháng 10 Nga. Dưới sự lãnh đạo của chính đảng tiền phong do lãnh tụ Lenin đứng đầu, quần chúng lao động Nga đã làm nên một sự kiện làm rung chuyển toàn thế giới khi đánh đổ chế độ quân chủ chuyên chế, lập nên Nhà nước Xô viết kiểu mới của những người nông dân, công nhân. Cách mạng Tháng 10 Nga đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.

Từ sau Cách mạng Tháng 10 Nga thắng lợi, chủ nghĩa xã hội được biết đến không chỉ là một học thuyết mà còn là một chế độ xã hội mới tốt đẹp, trở thành tấm gương để các dân tộc bị áp bức noi theo. Cách mạng Tháng 10 Nga đã nêu một tấm gương giải quyết vấn đề dân tộc một cách thật sự tiến bộ.

Bà Laura Mikhailova, thành viên Phong trào vì “Chủ nghĩa xã hội mới”, từng bày tỏ: “Cách mạng Tháng 10 vĩ đại là thành tựu không chỉ đối với nước Nga mà cả loài người trên thế giới. Dưới chế độ Xô viết, theo sắc lệnh do lãnh tụ Lenin ký, phụ nữ cùng con nhỏ lần đầu tiên được đi nghỉ dưỡng. Lần đầu tiên trên thế giới, người dân được hưởng giáo dục, chăm sóc sức khỏe hoàn toàn miễn phí và ở mức độ cao”.

Hơn 100 năm đã trôi qua kể từ ngày Cách mạng Tháng 10 Nga giành thắng lợi. Khoảng thời gian ấy không dài so với lịch sử nhân loại, nhưng đủ để chúng ta nhìn nhận, đánh giá khách quan giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng 10 Nga. Thực tế những năm qua cho thấy, mặc dù tình hình thế giới đang có nhiều biến động nhưng không làm thay đổi nội dung, tính chất và giá trị của Cách mạng Tháng 10 Nga đối với thế giới.

Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, đang tạo nên những mâu thuẫn nội tại sâu sắc. Những mâu thuẫn này giúp củng cố niềm tin rằng, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội, tuy không phải theo cách hoàn toàn giống nhau. Mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều thách thức, nhưng sẽ có bước phát triển mới.

Sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ lần đầu tiên đến nước Nga, đặt chân đến thành phố St.Petersburg, quê hương của Cách mạng Tháng 10 Nga, năm 1923. Từ đó, dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng 10 Nga, trực tiếp là Luận cương của V. Lenin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Người đã đúc kết bài học quý báu, lãnh đạo Cách mạng Việt Nam tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA 1917

Cho đến nay, mặc dù Cách mạng Tháng Mười Nga đã diễn ra hơn một thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn rất sâu đậm trong đời sống chính trị-xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ chỗ chỉ là ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực và có sức mạnh vô cùng to lớn, mở đường cho các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới được xem là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của thế kỷ 20; trở thành biểu tượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với phong trào cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra đã đáp ứng đầy đủ những yêu cầu cấp thiết của lịch sử là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa để xây dựng một chế độ xã hội mới-chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Để có được thắng lợi vang dội đó, những người Bolshevik Nga dưới sự lãnh đạo của V.I.Lenin đã chuẩn bị về mọi mặt như chính trị, tư tưởng, tổ chức, quân sự...

Dưới ánh sáng của “Luận cương tháng Tư” và sự chỉ đạo của V.I.Lênin, những người Bolshevik xác định nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất cho toàn Đảng là phải lôi cuốn đông đảo giai cấp công nhân và nhân dân lao động về phía cách mạng; thành lập đội quân chính trị đông đảo đủ sức mạnh đánh bại lực lượng phản cách mạng; thành lập lực lượng vũ trang cách mạng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị và chủ động đối phó với sự thay đổi của tình hình. Do đó, không thể nói thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự “ăn may” mà nó được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng và hội tụ đầy đủ cả điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã chín muồi.

Sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin và Đảng Bolshevik Nga đã tập trung củng cố chính quyền Xô viết, xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho quần chúng nhân dân. “Sắc lệnh hòa bình” và “Sắc lệnh ruộng đất” được ban hành ngay sau khi cách mạng thành công đáp ứng được ý nguyện của quần chúng nhân dân lao động Nga về một cuộc sống hòa bình, tự do và hạnh phúc.

Sự thống nhất về mặt lợi ích của giai cấp vô sản với nhân dân lao động đã hình thành và phát triển một nguyên tắc đạo đức mới, đó là chủ nghĩa tập thể. Vì thế, những luận điệu cho rằng Cách mạng Tháng Mười Nga là “cuộc bẻ ghi đường tàu”, “đưa một phần nhân loại vào đường vòng”, vào “khúc quanh của lịch sử” là hoàn toàn phiến diện, xuất phát từ dã tâm của những kẻ cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử và chống phá sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân Liên Xô.

Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười đối với phong trào cách mạng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngay từ những năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật không phải tự do, bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang ở bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong thế giới” .

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga; luôn kiên định với con đường cách mạng vô sản mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã lựa chọn. Ngay cả khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào rồi khủng hoảng, sụp đổ vào những năm 90 của thế kỷ 20, Đảng ta vẫn luôn vững vàng niềm tin về tương lai của lịch sử loài người là chủ nghĩa xã hội: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”; “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” .

Sự kiên định đó cũng chính là tình cảm, là niềm tin dành cho Cách mạng Tháng Mười Nga và là luận cứ để phản bác những luận điệu của những kẻ cố tình xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng này.

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2021

ĐỖ NGÀ LẠI “BẺ CONG” SỰ THẬT

Với hàng trăm bài viết xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta, cái tên Đỗ Ngà đã không còn xa lạ với cộng đồng mạng xã hội. Mới đây, Đỗ Ngà tiếp tục đăng tải bài viết “Ngu dân hóa và những thủ đoạn bẩn thỉu đằng sau nó”, thể hiện những luận điệu xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Đỗ Ngà đã suy diễn, quy chụp rằng, “Đảng Cộng sản muốn lợi dụng dân tộc này phục vụ cho lợi ích của nó chứ nó không hề có thật lòng phục vụ dân tộc”. Đây là luận điệu ác ý và hoàn toàn là sai trái. Bởi sự thật, ngay từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là người đại diện xứng đáng và đấu tranh cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, thông qua Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930), Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (02/1951), Người khẳng định: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Nhất quán với quan điểm này, năm 1961, khi miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Người tiếp tục chỉ rõ: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị”.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã chỉ rõ: “Khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, chúng ta không tách rời Đảng và giai cấp với các tầng lớp nhân dân lao động khác, với toàn thể dân tộc. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã mang trong mình tính thống nhất giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc. Chính lập trường và lợi ích giai cấp công nhân đòi hỏi trước hết phải giải phóng dân tộc. Đảng tìm thấy nguồn sức mạnh không chỉ ở giai cấp công nhân mà còn ở các tầng lớp nhân dân lao động, ở cả dân tộc”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích phụng sự giai cấp, phụng sự nhân dân, phụng sự dân tộc. Đảng ta ra đời, tồn tại, phát triển không chỉ vì lợi ích của giai cấp công nhân, mà còn vì lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Trong quá trình xây dựng, phát triển, dù tên gọi có thay đổi, nhưng bản chất của Đảng luôn mang bản chất giai cấp công nhân, là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng uy tín của Đảng để trục lợi, đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, dân tộc đều bị xử lý nghiêm minh, “không có vùng cấm”. Vì thế, trong những năm qua, nhiều cán bộ cấp cao, tổ chức đảng vi phạm, trong đó có cả các trường hợp là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng đã bị xử lý kỷ luật; làm nghiêm từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài… Lần đầu tiên trong lịch sử tố tụng Việt Nam, những người là Ủy viên Bộ Chính trị vi phạm pháp luật đã bị cơ quan tiến hành tố tụng truy tố và đưa ra xét xử công khai, nghiêm minh. Đây là việc chưa từng có trước đây. Sự thật lịch sử này đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc của Đỗ Ngà khi cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có “trục lợi dân”.

Thiết nghĩ, dẫu thiện chí hay không, cũng không ai có thể bác bỏ được sự thật, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn lợi ích nào khác. Hình ảnh Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khắc ghi sâu đậm trong lòng nhân dân Việt Nam và lan toả trong lòng bạn bè thế giới là minh chứng sinh động bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc của Đỗ Ngà và các thế lực thù địch./.

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

NHIỀU ĐẢNG PHÁI CHÍNH TRỊ RA ĐỜI NHƯNG ĐỀU BẤT LỰC TRƯỚC ĐÒI HỎI CỦA DÂN TỘC

Lịch sử Việt Nam hơn 91 năm qua, nhìn bao quát, có thể nói là lịch sử của sự lựa chọn, khẳng định và thực thi mục tiêu phát triển gắn với sự lựa chọn đảng chính trị lãnh đạo đất nước, dẫn dắt dân tộc, vì mục tiêu đó. Ngay từ những thập niên đầu tiên tới những năm 50 của thế kỷ 20 đã và luôn là lịch sử thăng trầm của sự đào thải, sàng lọc, kiểm nghiệm và lựa chọn đó.  

Năm 1930, qua hơn nửa thế kỷ, kể từ năm 1858, lúc bấy giờ, đất nước rên xiết trong vòng nô lệ của chủ nghĩa thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Nhu cầu tất yếu dân tộc phải độc lập, nhân dân phải được tự do và dân chủ, hoàn toàn bế tắc, chưa thấy tương lai. Độc lập tự do hay là chết? Hàng loạt cuộc khởi nghĩa do giai cấp nông dân, các sĩ phu yêu nước Việt Nam ngõ hầu trả lời câu hỏi lịch sử đó, nhưng đều lần lượt thất bại. Các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội ở nước ta, lúc bấy giờ, nhảy ra tranh đoạt vũ đài chính trị dân tộc, cũng đông đúc chưa từng thấy. Ai cũng biết, từ đảng của giai cấp nông dân (Nghĩa hưng, năm 1907); đảng của giai cấp tư sản, địa chủ (Lập hiến, năm 1923)... tới đảng của tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức tiểu tư sản (Việt Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, Đảng An Nam độc lập (năm 1927), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927)... rồi đảng của bọn tay sai của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, (Đại Việt quốc gia xã hội đảng, Đại Việt quốc dân đảng (những năm 1940 tới khi Việt Nam giành được độc lập bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945); chen chúc các đảng phản động (Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)... thật huyên náo, tới mức hỗn loạn chính trường. Trong số ấy, chỉ một số đảng mong chấn hưng đất nước nhưng “lực bất tòng tâm”, số còn lại những mưu toan tính biến đất nước thành nơi thử nghiệm những mưu đồ chính trị của giai cấp, tầng lớp họ.

Nhưng rốt cuộc, tất cả những đảng đó đã lùi vào dĩ vãng của lịch sử và bị lịch sử dân tộc chôn vùi rất lặng lẽ trái với sự huyên náo đến mức hỗn loạn lúc các đảng này xuất hiện và khua chiêng gõ mõ trên chính trường Việt Nam lúc bấy giờ. Các đảng này hoặc tự phải diệt vong hoặc bị giải tán. Theo đó, các giai cấp, tầng lớp đại diện cho các đảng đó cũng cáo chung vai trò lãnh đạo dân tộc. Thách thức của lịch sử về vị trí, vai trò của đảng chính trị đối với vận mệnh cứu đất nước khỏi vòng nô lệ, nhân dân khỏi xiềng xích vong quốc nô vẫn đang bỏ ngỏ. Điều đó ai nấy đều rõ.

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2020

THẾ GIỚI THAY ĐỔI KHÔN LƯỜNG, NỘI DUNG THỜI ĐẠI KHÔNG THAY ĐỔI

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, CNXH ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười cũng chấm hết.

Đây đúng là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng, thành quả mà Cách mạng Tháng Mười đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó quyết không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười. Lịch sử đã tỏ rõ, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội TBCN đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Hà Lan, Anh, Pháp... thì hình thái kinh tế-xã hội TBCN mới thực sự thắng thế trước hình thái kinh tế-xã hội phong kiến.

Sự phát triển của xã hội loài người từ sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười không chỉ là ngọn đèn pha tỏa sáng dẫn đường, mà còn có những đóng góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của CNTB. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười làm cho CNTB bị đổ vỡ một mảnh lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới với sự hình thành và phát triển của CNXH làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của CNTB, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của CNTB. CNTB không thể sống tự nó nữa mà đã phải cố gắng vì sự tồn tại của nó. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội... ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều do kết quả đấu tranh của những người lao động để giành quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và sâu xa hơn là được ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định rằng, mặc dù tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới có nhiều thay đổi, có khi là thay đổi khôn lường, nhưng bản chất của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động, nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức.


Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2020

DI SẢN VỀ TRÍ TUỆ CỦA PH.ĂNGGHEN TRONG VIỆC XÂY DỰNG LÝ LUẬN CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN

V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: “Từ ngày mà vận mệnh đã gắn liền Các Mác với Phri-đrich Ăng-ghen thì sự nghiệp suốt đời của hai người bạn ấy trở thành sự nghiệp chung của họ. Cho nên muốn hiểu Phri-đrich Ăng-ghen đã làm gì cho giai cấp vô sản thì phải nhận rõ ý nghĩa của học thuyết và hoạt động của Mác đối với sự phát triển của phong trào công nhân hiện đại”. Trong lĩnh vực này, Ph.Ăngghen là người đã cùng C.Mác và độc lập với C.Mác xây dựng thành công cả ba bộ phận cấu thành lý luận của giai cấp vô sản, gồm: triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học.

Về triết học, triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Với chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngoài những tác phẩm viết chung với C.Mác, những tác phẩm Ph.Ăngghen viết độc lập như “Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên”, “Lút vích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, v.v. đã để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc về thế giới quan duy vật biện chứng khi Ông khẳng định: Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất; thế giới thống nhất ở tính vật chất; vận động, không gian, thời gian là những phương thức tồn tại của vật chất; mọi vận động trong thế giới vật chất đều tuân theo những quy luật chung nhất, vốn có của nó như “Quy luật về sự chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng và ngược lại”, “Quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập”, “Quy luật về sự phủ định của phủ định”, v.v.  Ph.Ăngghen cũng là người đầu tiên đã vận dụng những quy luật này vào việc nhận thức sự vận động của giới tự nhiên, luận giải rõ mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên - con người - xã hội…

Với chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác phẩm “Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị” - công trình lớn đầu tiên của Ph.Ăngghen về kinh tế được viết trong năm 1843 và đầu năm 1844 - giữ vai trò rất quan trọng đối với quá trình hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong tác phẩm này, ngoài việc phê phán các nhà kinh tế học tư sản, Ph.Ăngghen đã nhìn nhận sâu sắc cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh, nội dung kinh tế và ảnh hưởng xã hội của nó. Tác phẩm cung cấp nhiều tư liệu quan trọng cho “Hệ tư tưởng Đức”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị - Lời tựa” và một số tác phẩm khác của C.Mác và Ph.Ăngghen sau này; trong đó “Hệ tư tưởng Đức” là tác phẩm viết chung của hai Ông, thể hiện những quan điểm duy vật mang tính nền tảng cho việc nhận thức lịch sử - xã hội. Theo đó, sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại của xã hội và tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đạt được quyết định trạng thái của xã hội; không phải ý thức quyết định đời sống của con người mà chính đời sống của con người quyết định ý thức của họ… Những tư liệu này được C.Mác hệ thống, khái quát thành tư tưởng cơ bản nhất quan điểm duy vật về lịch sử, thể hiện trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị - Lời tựa” của Ông là: Sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, sự phát triển này là quá trình lịch sử - tự nhiên, tuân theo những quy luật khách quan, trong đó trước hết và quan trọng nhất là quy luật về lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất, quy luật về cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng.

Sự hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đã xác lập một thế giới quan khoa học và một phương pháp luận khoa học, nó không chỉ giải thích thế giới mà còn là công cụ định hướng cho con người cải tạo thế giới.

Về kinh tế chính trị, Ăngghen đã cùng Các Mác xây dựng lên một học thuyết kinh tế mới, đem lại một cuộc cách mạng trong kinh tế học chính trị.

Từ những tác phẩm đầu tay của mình như “Lược khảo phê phán khoa kinh tế chính trị”, “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh” cùng nhiều bài viết khác, Ph.Ăngghen đã vạch rõ sự khốn cùng của người lao động, kịch liệt phê phán kinh tế chính trị tư sản biện hộ cho hệ thống tư bản chủ nghĩa, từ đó Ông chỉ ra nguyên nhân sâu xa của những bất bình đẳng, bất công xã hội, nguyên nhân sâu xa của sự khốn cùng mà giai cấp công nhân và người lao động đang gánh chịu là chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, nhất là chế độ sở hữu tư sản. Chính những phát hiện ban đầu mang tính khoa học này của Ph.Ăngghen đã gợi mở cho Các Mác một hướng nghiên cứu mới về xã hội tư bản chủ nghĩa - hướng nghiên cứu chuyển từ triết học và luật học sang nghiên cứu kinh tế chính trị. Đúng như V.I.Lênin đã  nhận định: “Rõ ràng là mối quan hệ với Ăngghen đã thúc đẩy Mác bắt tay vào nghiên cứu chính trị kinh tế học, là khoa học trong đó những tác phẩm của Mác đã gây ra cả một cuộc cách mạng”. Cuộc cách mạng mà V.I.Lênin đề cập đến là sự ra đời của Học thuyết giá trị thặng dư - Học thuyết được coi là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lý luận về kinh tế chính trị của C.Mác vì nó đã phát hiện ra quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, làm sáng tỏ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Về chủ nghĩa xã hội khoa học - lĩnh vực “thể hiện về mặt lý luận của phong trào vô sản” được V.I.Lênin khái quát: “Có thể vắn tắt nêu công lao của Mác và Ăngghen đối với giai cấp công nhân như sau: hai Ông đã dạy cho công nhân tự nhận thức được mình và có ý thức về mình, và đã đem khoa học thay thế cho mộng tưởng”. Ngay trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” - văn kiện cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản khoa học do C.Mác và Ph.Ăngghen viết được công bố vào đầu năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ những quy luật phát triển của xã hội dẫn đến sự thay thế nhau của các phương thức sản xuất để luận chứng cho sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản, chỉ rõ những con đường xây dựng chế độ xã hội mới là chủ nghĩa cộng sản. Cũng trong chương này, các tác giả đã giải thích sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản với tư cách là lực lượng thực hiện cuộc cách mạng xã hội, để “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Với bản thân Ph.Ăngghen, có thể nói suốt cả cuộc đời, Ph.Ăngghen đã gắn bó chặt chẽ với giai cấp công nhân và phong trào công nhân từ tri thức, sự cảm thông, tấm lòng trung thành vô hạn và từ lập trường kiên định cách mạng của mình. Ngay cả khi ở trung tâm công nghiệp của Anh là Mansetxtơ, nơi Ph.Ăngghen đến một hãng buôn mà cha Ông có cổ phần, Ph.Ăngghen cũng không phải chỉ làm việc ở văn phòng mà Ông còn thường xuyên đi vào các khu phố bẩn thỉu - nơi công nhân sống chen chúc, thấy tận mắt sự khốn cùng và những nỗi khổ đau của họ.. Những chuyến đi này giúp Ph.Ăngghen trực tiếp nhận thấy nhu cầu bức thiết của một giai cấp bị áp bức, bị bóc lột tàn bạo nhất trong chủ nghĩa tư bản và phát hiện ra sức mạnh to lớn ở giai cấp này với tư cách là một một lực lượng xã hội đóng vai trò chủ đạo thực hiện cuộc cách mạng xóa bỏ mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng một xã hội mới vì sự phát triển của con người. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra một lực lượng bị buộc phải hoàn thành cuộc cách mạng ấy, nếu không sẽ bị diệt vong”, “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới …, - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

Nhìn nhận quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học, V.I.Lênin khẳng định: “Ăngghen là người đầu tiên đã nói rằng giai cấp vô sản không phải chỉ là giai cấp đau khổ, rằng chính địa vị kinh tế nhục nhã của giai cấp vô sản thúc đẩy, một cách không gì ngăn cản nổi, nó tiến lên và buộc nó phải đấu tranh cho sự giải phóng cuối cùng của nó. Và giai cấp vô sản đấu tranh sẽ tự mình giúp bản thân mình. Phong trào chính trị của giai cấp công nhân nhất định sẽ dẫn công nhân đến chỗ hiểu rằng đối với họ, không có lối thoát nào khác hơn là chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, chủ nghĩa xã hội chỉ sẽ là một sức mạnh, khi nó đã trở thành mục tiêu đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân. Đó là những tư tưởng chủ chốt trong cuốn sách của Ăngghen viết về tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh”.

Có thể khẳng định rằng: Kho tàng lý luận định hướng cho giai cấp vô sản nhận thức và hoạt động được hình thành và phát triển trong thế kỷ XIX in rất đậm dấu ấn trí tuệ và tình cảm của Ph.Ăngghen, kể cả trong triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nghiên cứu toàn bộ kho tàng lý luận ấy, V.I.Lênin đã nhận định: Sau C.Mác, không ai khác, Ăngghen chính là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh.

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2020

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT GIAI CẤP CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Trên cơ sở nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh vạch rõ Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất của giai cấp công nhân. Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, chiến đấu vì lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp công nhân, được Đảng tổ chức và xây dựng, chịu sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là đặc trưng cơ bản nhất của quân đội cách mạng. Quân đội nghiêm chỉnh chấp hành sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nhân tố quyết định sự trưởng thành và sức mạnh chiến đấu, bản lĩnh chính trị của quân đội: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”.

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

BẢN CHẤT GIAI CẤP, TÍNH NHÂN DÂN VÀ TÍNH DÂN TỘC

Giai cấp, nhân dân, quân đội và dân tộc là những phạm trù có mối quan hệ mật thiết với nhau. Song, không ngang bằng nhau mà mỗi yếu tố có vị trí, vai trò lịch sử của nó. Giai cấp, nhân dân, quân đội và dân tộc không thể thay thế lẫn nhau mặc dù giữa chúng có một số nội dung tương đồng, có quan hệ tương tác lẫn nhau, quy định, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Sẽ là sai lầm nếu xem xét, tách rời mối quan hệ giai cấp, nhân dân, quân đội và dân tộc hoặc đem quy mối quan hệ này vào mối quan hệ kia, chẳng hạn coi quan hệ dân tộc cũng là quan hệ giai cấp hay quan hệ giai cấp cũng là quan hệ nhân dân và quân đội.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

GIẢI PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

Thứ nhất, tổ chức đảng, tổ chức chính trị-xã hội phải thường xuyên chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ công nhân, người lao động.
Đây là một hoạt động quan trọng nhằm trực tiếp trang bị kiến thức, bồi dưỡng nhận thức, lập trường chính trị, góp phần hình thành bản lĩnh chính trị, ý thức chính trị cho giai cấp công nhân và người lao động. Nội dung tuyên truyền giáo dục tập trung vào giáo dục cho công nhân hiểu rõ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của lực lượng mình trong công cuộc đổi mới đất nước. Giáo dục, tuyên truyền những nội dung cơ bản về chủ trường, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước, nhất là những chính sách, quy định liên quan trực tiếp, sát sườn tới quyền lợi, lợi ích thiết thực của đội ngũ công nhân và người lao động. Đồng thời, cũng cần chú trọng đúng mức tới giáo dục truyền thống dân tộc, lịch sử hào hùng của dân tộc cho công nhân, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, trách nhiệm với vận mệnh của đất nước ở đội ngũ công nhân. Có nhiều chính sách khuyến khích, động viên, cổ vũ công nhân vươn lên trong lao động, sản xuất, kinh doanh, giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo tích cực làm giàu cho bản thân, quê hương, xây dựng đất nước giàu mạnh, hùng cường.
Thứ hai, tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho giai cấp công nhân.
Nhà nước cần có hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ và tương đối hoàn thiện để kịp thời điều chỉnh quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, bảo đảm cho họ có quyền tự chủ và tự do sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, có thu nhập tương xứng với công sức lao động bỏ ra. Hiện nay, vấn đề nơi ăn, chốn ở của đội ngũ công nhân và người lao động ở một số khu vực, doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, các điều kiện sinh hoạt không bảo đảm. Do đó, cần phải tiếp tục đầu tư, củng cố cải thiện về điều kiện sinh hoạt, điều kiện lao động cho công nhân. Theo đó, Nhà nước và các cấp chính quyền cần chủ động phối hợp với các doanh nghiệp, các cụm công nghiệp tiến hành đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân, thường xuyên hỗ trợ công nhân về đời sống sinh hoạt để họ yên tâm tập trung lao động, sản xuất. Bên cạnh đó, cũng cần phải quan tâm đúng mức tới xây dựng và không ngừng nâng cao đời sống văn hóa-tinh thần cho giai cấp công nhân. Bởi khi đời sống văn hóa-tinh thần của công nhân được nâng cao nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến sự hình thành, phát triển ý thức chính chị của họ. Muốn vậy, Nhà nước và các doanh nghiệp cần có các biện pháp hỗ trợ đảm bảo công nhân và người lao động có điều kiện tiếp cận với các nguồn sách, báo, tập chí, các phương tiện thông tin, đặc biệt cần thiết đầu tư các khu vui chơi, giải trí tại nơi sản xuất, có chế độ cụ thể và thường xuyên trong hoạt động thể thao, văn nghệ góp phần tích cực nâng cao mọi mặt đời sống cho người lao động.
Thứ ba, thúc đẩy nhanh chóng việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, hoàn thiện các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đội ngũ công nhân.
Hiện nay đang tồn tại một thực tế đáng buồn, đó là giới chủ (chủ yếu là người nước ngoài) đang tận dụng “bóc lột” quá mức đối với đội ngũ công nhân, người lao động ở những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là vấn đề gây ra không ít những bức xúc xã hội, trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống, làm suy giảm đời sống văn hóa, ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức chính trị của đội ngũ công nhân. Hiện nay, trong nhiều thỏa thuận lao động, trong nhiều tình huống có “trục trặc” xảy ra trong quá trình sản xuất thì phần lớn người phải chịu thiệt thòi vẫn là đội ngũ công nhân, người lao động làm thuê. Lý do là trong ký kết các thỏa ước lao động rất nhiều công nhân không được dân chủ tham gia đóng góp, hoặc khi ký kết thì quyền và lợi ích thường nghiêng hẳn về giới chủ… Do đó, Nhà nước cần sớm hoàn thiện về cơ chế, chính sách, buộc giới chủ phải cùng với người lao động tự nguyện ký kết thỏa ước lao động tập thể, chấm dứt tình trạng nhiều người lao động không được ký kết vào bản thỏa ước. Đặc biệt, cần phải có cơ chế, hình thức xử phạt nghiêm khắc với những người chủ nước ngoài mạt sát người lao động, xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm của họ. Bởi nếu không sớm chấm dứt các hiện tượng tiêu cực trên thì chắc chắn tâm tư, tình cảm và ý thức chính trị của người lao động nói chung và đội ngũ công nhân nói riêng ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng xấu.
Thứ tư, sớm xây dựng, hoàn thiện và kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng, tổ chức chính trị-xã hội, nhất là tổ chức công đoàn góp phần xây dựng, phát triển ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân.
Việc sớm xây dựng, kiện toàn các tổ chức ở đây chủ yếu muốn nói tới các doanh nghiệp ngoài nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bởi trên thực tế tại các doanh nghiệp này các tổ chức đảng, công đoàn thường ít phát huy được vai trò của mình trong đấu tranh, bảo vệ quyền lợi, lợi ích cho người lao động. Trên thực tế, các tổ chức chính trị- xã hội ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động hoạt động có chất lượng, hiệu quả rất thấp, thường bị giới chủ mua chuộc, lợi dụng, không phát huy được vai trò trong bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người lao động. Do vậy, Đảng và Nhà nước cần sớm có các chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với những cán bộ, viên chức thuộc các tổ chức chính trị-xã hội, để giúp họ yên tâm công tác, hết lòng với người lao động trong sản xuất và đấu tranh đảm bảo công bằng về quyền và nghĩa vụ. Đồng thời, Nhà nước nên sớm nghiên cứu, ban hành Luật Đình công, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu điều chỉnh và quản lý hoạt động đình công của người lao động hiện nay. Bởi đây là vấn đề đang diễn ra thường xuyên hiện nay, ảnh hưởng không nhỏ tới tâm tư, tình cảm và ý thức chính trị của giai cấp công nhân và người lao động.
Tóm lại, để xây dựng và phát triển ý thức chính trị cho giai cấp công nhân và người lao động trong thời buổi hiện nay cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức, ban ngành đoàn thể, sự quyết liệt của Đảng và Nhà nước trong ban hành, hoàn thiện chế độ, chính sách, văn bản pháp luật nhằm xây dựng khung pháp lý rõ ràng trong duy trì, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động. Đây cũng chính là “nhân tố” quan trọng để xây dựng và phát triển ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân hiện nay có chất lượng, hiệu quả.

Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

Ý thức chính trị thuộc phạm trù hình thái ý thức xã hội bao gồm những nét đặc trưng của ý thức xã hội nói chung. Theo đó, bao hàm những thái độ chính trị, tình cảm, tư tưởng chính trị hay lý luận chính trị của cộng đồng xã hội. Từ đó, có thể suy ra ý thức chính trị của giai cấp công nhân chính là những tình cảm, thái độ chính trị, quan điểm, tư tưởng chính trị, được hình thành, phát triển trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong quá trình đấu tranh giải phóng giai cấp, xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Ý thức chính trị trong quá trình hình thành, phát triển chịu sự tác động của nhiều điều kiện, hoàn cảnh đặc thù-trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội Xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, giai cấp công nhân vốn xuất thân chủ yếu từ nông thôn, nông nghiệp nên chịu chi phối nặng nề bởi những tập quán, sản xuất manh mún, tự phát, thái độ tự ti, tư tưởng bảo thủ, ngại thay đổi… Đây thực sự là những “rào cản” lớn, gây khó khăn trong quá trình xây dựng, nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân trong tình hình mới của sự nghiệp cách mạng.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay (năm 1986), nhìn chung đại bộ phận giai cấp công nhân Việt Nam có ý thức chính trị, nhận thức tương đối rõ về vị trí, vai trò của lực lượng mình đối với công cuộc đổi mới đất nước, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Giai cấp công nhân đã nhận thức sâu sắc được vai trò nòng cốt của lực lượng mình trong công cuộc kiến thiết đất nước, đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng. Không những thế, đa số công nhân đều tỏ rõ thái độ tự hào, trận trọng những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước và xu thế mở cửa hội nhập; tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng nước nhà.
Tuy nhiên, trong thời buổi tình hình trong nước, khu vực và thế giới luôn có sự biến động phức tạp khó lường về tình hình kinh tế, chính trị như hiện nay, nhất là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã khiến cho một bộ phận không nhỏ công nhân biểu hiện tư tưởng dao động, hoài nghi, thiếu tin tưởng vào công cuộc đổi mới đất nước, sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trong ý thức chính trị của giai cấp công nhân hiện nay còn có những biểu hiện yếu kém, hạn chế, cụ thể như: không ít công nhân chưa nhận thức đúng vị trí, vai trò của mình trong thời đại mới, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; một bộ phận công nhân nhận thức rằng, giai cấp mình không còn giữ vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn hiện nay; một số công nhân thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, khả năng quản lý của Nhà nước. Nhiều công nhân tỏ ra thiếu tin tưởng vào vị trí, vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ lợi ích cho mình; không ít công nhân nắm không vững các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền lợi, lợi ích của lực lượng mình; một bộ phận không nhỏ công nhân ít hiểu biết về đặc điểm, tình hình thế giới, thiếu tin tưởng vào tiền đồ của chủ nghĩa xã hội, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; một số khác lại ít quan tâm, tỏ ra kém hiểu biết về lịch sử dân tộc, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới đất nước; ngoài ra, có một số ít công nhân thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức, tay nghề, quá coi trọng giá trị vật chất, sống buông thả, chạy theo dục vọng và tiền tài… tất cả những vấn đề trên cho thấy một bộ phận không nhỏ của giai cấp công nhân đã và đang có sự yếu, kém về ý thức chính trị, không nhận thấy rõ vị trí, vai trò sứ mệnh của mình, từ đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, suy giảm tinh thần đấu tranh cho mục tiêu mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, song những nguyên nhân trực tiếp, quan trọng làm suy giảm ý thức chính trị của một bộ phận không nhỏ công nhân hiện nay phải kể đến như: sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và của lực lượng sản xuất ở các nước tư bản, sự khủng hoảng hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới gây ra sự dao động trong ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta; trong quá trình phát triển nền kinh tế trí thức ở nước ta, vấn đề tri thức hóa, trí tuệ hóa lao động ngày càng có xu hướng tăng lên, vai trò của trí thức được coi trọng, chính điều này đã phần nào tác động đến nhận thức của bộ phận công nhân tay nghề thấp; thực tiễn đời sống sinh hoạt tinh thần và vật chất của công nhân ở nhiều doanh nghiệp còn thấp kém, cường độ lao động tăng cao, dẫn tới một số nhận thức sai lệch, việc đáp ứng các nhu cầu văn hóa của công nhân cũng hạn chế; các tệ nạn xã hội tiêu cực, sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức xã hội, suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên cũng là yếu tố tác động xấu đến tình cảm, thái độ, quan điểm, tư tưởng của giai cấp công nhân hiện nay…
Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng “nòng cốt” trong công cuộc đổi mới đất nước, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Họ cũng là lực lượng tiên phong, “chủ công” của sự nghiệp cách mạng nước nhà, đảm nhiệm vai trò “sứ mệnh” lịch sử của mình với dân tộc-xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Để đảm nhiệm được vị trí, vai trò quan trọng đó, “đủ sức” thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của dân tộc đòi hỏi giai cấp công nhân Việt Nam phải thường xuyên được xây dựng và phát triển vững mạnh về ý thức chính trị, góp phần hình thành bản lĩnh, lập trường kiên định, nguyện trung thành với mục tiêu và con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

PHẢI CHĂNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY KHÔNG CÒN SỨ MỆNH LỊCH SỬ?

Không phải như vậy. Một câu trả lời dứt khoát cho những quan điểm sai trái, phản động.
Bởi lẽ, sự vận động tất yếu của lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua chính là bằng chứng chân thật để phủ nhận tuyên bố đó. Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn tồn tại và ngày càng phát triển trong cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.
Ngược dòng lịch sử, việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là công lao của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, năm 1917, cùng với sự phát triển phong trào cách mạng thế giới thế kỷ XX đã chứng minh một tất yếu không thể phủ nhận vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân: Xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Trong khi đó, bước vào đầu thập niên 1970, thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã có những bước phát triển mới do tận dụng được những thành tựu mới của cách mạng khoa học - công nghệ vào phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhưng bản chất bóc lột giá trị thặng dư của người lao động làm thuê trong nền sản xuất tư bản không hề thay đổi và ngày càng khắc nghiệt hơn, làm cho giai cấp công nhân ngày càng bần cùng hóa cùng với mỗi bước phát triển của chủ nghĩa tư bản. Do vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản cũng bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời chống lại “sự bóc lột công nhân, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn” của giai cấp tư sản.
Hiện nay, thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng học thuyết Mác vẫn sáng ngời, khẳng định giá trị của nó trong nhận thức chủ nghĩa tư bản hiện đại. Với niềm tin vững chắc vào tính tất yếu thắng lợi của sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đảng ta đã chỉ rõ “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới từ những thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra những bước phát triển mới, theo quy luật tiến hóa của lịch sử loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

NHẬN DIỆN DIỄN BIẾN HÒA BÌNH ĐỐI VỚI GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY

Đất nước ta đang trong cuộc tiến hành CNH, HĐH và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa -xã hội… Đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt - nhất là đời sống văn hóa của công nhân. Nhưng các thế lực, thù địch lợi dụng lợi dụng ở một số doanh nghiệp, công đoàn chưa làm tròn nhiệm vụ đại diện, bảo vệ lợi ích công nhân, lao động để công kích, bóp méo, xuyên tạc, kích động để chống phá Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Nội dung "diễn biến hòa bình" và tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch đối với giai cấp công nhân, tập trung vào một số nội dung chính sau đây:
1. Chúng phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH về đảng cầm quyền, cho rằng Hồ Chí Minh thích chiến tranh, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện; tiếp thu học thuyết Mác - Lênin một cách mù quáng...
2. Ở Việt Nam, công nghiệp chưa phát triển, số lượng, chất lượng công nhân hạn chế. Đảng Cộng sản Việt Nam không thể là Đảng của giai cấp công nhân được, vì trong Đảng có rất ít công nhân nên Đảng không mang tính chất giai cấp công nhân mà mang đậm tính chất nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. Với những điều kiện như vậy, giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo xây dựng CNXH được.
3. Để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, các thế lực thù địch đã đưa ra các luận điệu như: giai cấp công nhân bị hạn chế về trình độ học vấn, lãnh tụ của giai cấp công nhân có trình độ học vấn không cao nên có chăng chỉ có thể lật đổ xã hội cũ chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp.
4. Các thế lực phản động còn ra sức tuyên truyền, đề cao vai trò của đội ngũ trí thức trong thời đại hiện nav, thời đại ngày nay là thời đại của khoa học và công nghệ, của nền văn minh trí tuệ, cho nên chỉ có trí thức mới là lực lượng đủ sức lãnh đạo xã hội, lực lượng tiên phong của mọi cuộc cách mạng xã hội. Đó là quan điểm không đúng cả về khoa học và thực tiễn.
Trên đây là một số thủ đoạn âm mưu của các thế lực thù địch  dùng chiêu bài “DBHB” đối với giai cấp công nhân Việt Nam để tiến hành các hoạt động phá hoại sự nghiệp phát triển của đất nước. Vì vậy, đối với mỗi người dân đất Việt, đặc biệt là các bạn trẻ khi tham gia vào không gian mạng cần phải nêu cao cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh lật tẩy những mưu đồ đen tối, những kẻ đeo mặt nạ trá hình trước ánh sáng công lý và pháp luật. Đồng thời phải tỉnh táo nhận biết trước các thông tin, các luận điệu, thủ đoạn trên của những kẻ phá hoại. Mỗi chúng ta hãy là một người thông thái và có trách nhiệm khi tham gia không gian mạng!

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY ĐANG BỊ “TEO ĐI” CÓ PHẢI KHÔNG?

Như chúng ta đã biết: Ngày nay trong điều kiện mới, khoa học công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, giai cấp công nhân không chỉ bao gồm những người lao động chân tay mà còn cả trong các lĩnh vực khác.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức lao động thế giới (ILO) cho thấy: Năm 1900, trên thế giới mới có 80 triệu công nhân, năm 1990 có 615 triệu thì đến năm 2003 con số đó đã lên đến 800 triệu người. Hiện nay công nhân có khoảng 1,2 tỷ người. Như vậy, GCCN vẫn liên tục phát triển chứ không "teo" đi. Cùng với sự biến đổi về cơ cấu và thành phần, trong nội bộ GCCN cũng nảy sinh sự phân hóa không chỉ về thu nhập, mức sống, mà còn cả về lập trường, quan điểm chính trị do thay đổi nhu cầu về lợi ích, quan niệm, hệ giá trị. Điều này đặt ra những vấn đề mới cần phải giải quyết cho các Đảng Cộng sản, đồng thời xuất hiện xu hướng nổi bật - sự đa dạng của các hình thức đấu tranh mới của GCCN.
Tuy cơ cấu GCCN biến động mạnh mẽ, nhưng nó không xóa bỏ sự phân chia cơ bản về giai cấp xã hội trong chủ nghĩa tư bản – bán sức lao động vẫn là phương thức tồn tại của GCCN hiện đại. Đồng thời, GCCN vẫn luôn là người trực tiếp sản xuất, tham gia vào quá trình tạo ra những giá trị vật chất, những của cải to lớn của xã hội hiện nay, bao gồm những người lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, những nhà nghiên cứu, sáng chế, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ phục vụ cho sản xuất, những kỹ sư, kỹ thuật viên. GCCN có mặt trong các ngành kinh tế: Công nghiệp, Nông nghiệp, Lâm nghệp, Ngư nghiệp, Giao thông vận tải, trong đó công nhân công xưởng, nhà máy sản xuất công nghiệp hiện đại là bộ phận nòng cốt.
Trong giai đoạn hiện nay, GCCN vẫn đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ sản xuất. Họ vẫn là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử xã hội quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, với sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Như vậy, nhiều người khi hiểu về GCCN, họ quan niệm công nhân là người lao động chân tay, là người làm việc trong nhà máy, xí nghiệp, vất vả, "lấm lem". Đó là cách hiểu sai, hoặc chưa đầy đủ về GCCN hiện đại, và cũng là lý do khiến họ nghĩ rằng GCCN hiện nay đang bị "teo" đi./.