Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc (tộc người). Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc dù quá trình tộc người khác nhau nhưng luôn luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với truyền thống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Cái “giàn” mà ông cha ta đã tổng kết chính là Tổ quốc Việt Nam của tất cả chúng ta. Xuất phát từ đặc điểm đó, ông cha ta đã thực thi nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trước yêu cầu phát triển quốc gia, đặc biệt là trong thời cổ trung đại và di sản về vấn đề dân tộc trong lịch sử đã để lại nhiều bài học quý giá cho hôm nay khi giải quyết vấn đề dân tộc. Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc. Có thể khẳng định chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước.
Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai.
Từ Đại hội IV đến Đại hội X của Đảng, chính sách dân tộc đã được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể. Các nội dung cơ bản trên đây đã được thể chế hóa và triển khai thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1. Vị trí của vấn đề dân tộc trong sự nghiệp cách mạng
Đây là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong việc xác định nguyên tắc cũng như chính sách của Đảng ta về vấn đề dân tộc. Đại hội Đảng lần thứ IV xác định: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới đều xác định vị trí của vấn đề dân tộc trên hành trình đổi mới của đất nước. Đó là vấn đề “có vị trí chiến lược lớn’’, “luôn luôn có vị trí chiến lược’’, “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta’’.
Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX đã ra nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng ta về vấn đề này trong kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết chỉ rõ: Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xem vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển’’. Trải qua các thời kỳ cách mạng, công tác dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước. Trên cơ sở đánh giá toàn diện vấn đề dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của tình hình mới, Nghị quyết khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên, vấn đề dân tộc được xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài có tính xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, đồng thời Đảng ta còn xác định đây là vấn đề cấp bách. Đây là luận điểm rất quan trọng thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới trong bối cảnh quốc gia và quốc tế của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
Việc xác định vị trí của vấn đề dân tộc của Đảng trên chính là xuất phát từ đặc điểm của cộng đồng quốc gia dân tộc ở nước ta và coi đó là bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển đất nước. Đây là cơ sở rất quan trọng để từ đó định ra các nguyên tắc cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Lênin đã từng chỉ rõ: “những sai biệt về mặt dân tộc và quốc gia giữa các dân tộc và các nước, những sai biệt này sẽ còn tồn tại lâu dài ngay cả sau khi nền chuyên chính vô sản được thiết lập trong phạm vi toàn thế giới’’. Điều đó cho thấy chừng nào còn có sự khác biệt về dân tộc thì dân tộc vẫn tồn tại và vẫn còn cơ sở xã hội và thực tiễn cũng như nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn dân tộc và xung đột dân tộc, do đó, vấn đề dân tộc vẫn tiếp tục đặt ra.
Đối với nước ta, vấn đề dân tộc thiểu số vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề miền núi, vừa là vấn đề biên cương, vấn đề an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, đồng thời đây cũng là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, mà Đảng ta đã đề ra. Bài học của nhiều quốc gia trên thế giới những năm cuối thế kỷ XX cho thấy nếu coi nhẹ vấn đề dân tộc và không xác định đúng vị trí vấn đề dân tộc trong chiến lược phát triển quốc gia thì tất yếu dẫn đến xung đột dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến sự tồn vong quốc gia.
Sự tồn tại lâu dài của vấn đề dân tộc nhất là trong điều kiện quốc gia đa tộc người, đa dạng về văn hóa là đặc điểm lớn ở nước ta, làđặc trưng diện mạo lịch sử, văn hóa Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam (Điều 5).
Khi xác định vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta. Điều này tiếp tục được khẳng định trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách của Nhà nước trong những năm đổi mới, đặt nền tảng quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn, giải quyết thành công vấn đề dân tộc.
2. Các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc
Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Trong thời kỳ đổi mới, các nguyên tắc cơ bản này tiếp tục được khẳng định và bổ sung thêm. Nếu như trong các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh: đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc thì từ Đại hội VI trở đi các nguyên tắc này đã được xác định là“Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI), “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau” (Đại hội VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X).
Bình đẳng giữa các dân tộc: là một nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và các Hiến pháp ở nước ta. Hiến pháp đầu tiên ở nước ta năm 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo’’. Các Hiến pháp tiếp theo đã thể hiện rõ nguyên tắc quan trọng này.
Bình đẳng giữa các dân tộc là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Bình đẳng còn thể hiện trong quyền phát triển, được đảm bảo và tạo mọi điều kiện để các dân tộc thực hiện và có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác. Để thực hiện bình đẳng dân tộc thì phải làm giảm, tiến tới từng bước xóa bỏ khoảng cách giữa các dân tộc do các điều kiện lịch sử quy định trên thực tế mang lại ấm no hạnh phúc của nhân dân.
Đoàn kết dân tộc: là một nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc mà Đảng ta xác định. Phát triển nguyên tắc đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc của Lênin, trên nền tảng truyền thống Việt Nam, Đảng ta coi đoàn kết dân tộc có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước. Hồ Chí Minh đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công’’. Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn để giành lại nền độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc. Trong công cuộc đổi mới, đoàn kết các dân tộc nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc ở nước ta được làm chủ vận mệnh của mình trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách dân tộc của Đảng.
Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc: Nguyên tắc này xuất phát từ một thực tế lịch sử là sự phát triển không đều giữa các dân tộc khi chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cho thấy, sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội là một đặc điểm lớn. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau là sự giúp đỡ của dân tộc này với dân tộc khác, không phải là sự giúp đỡ một chiều. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của sự phát triển, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc gia dân tộc. Đó cũng chính là bản chất của chính đảng vô sản. Để thực hiện vấn đề này, vai trò của nhà nước và hệ thống chính trị rất quan trọng. Trong các văn kiện của Đảng, nguyên tắc tương trợ được bổ sung các thành tố tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ. Có thể coi đây là một nguyên tắc đối với vấn đề dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
Bình đẳng là cơ sở để đoàn kết, đoàn kết là biểu hiện thực hiện bình đẳng và tương trợ giúp đỡ nhau là điều kiện để thực hiện bình đẳng và đoàn kết. Các nguyên tắc cơ bản trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, được xác định và triển khai đồng bộ trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta.
3. Những vấn đề cơ bản của chính sách dân tộc
Trên cơ sở những nguyên tắc trên, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã đề ra những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc trong giai đoạn mới của cách mạng. Có thể nói, đây là thời kỳ có không ít tác động đối với các dân tộc thiểu số. Đó là tác động của cơ chế thị trường, của nền kinh tế nhiều thành phần và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đấy là chưa nói đến quá trình toàn cầu hóa và tác động từ bối cảnh chung của tình hình quốc tế phức tạp. Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề dân tộc phải có các chính sách hệ thống, toàn diện đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, phù hợp với quá trình phát triển của đất nước.
Nội dung của chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước ta tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
- Chính sách về phát triển kinh tế vùng các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng đồng bào các dân tộc, gắn với kế hoạch phát triển chung của cả nước, đưa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cùng cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là một trong những vấn đề có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện chính sách dân tộc trong hoàn cảnh và điều kiện mới với mục tiêu tạo sự chuyển biến căn bản diện mạo và đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số.
- Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hóa, y tế... nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và các cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các điều kiện tham gia vào quá trình phát triển, để trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào.
- Chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các địa bàn chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc trong mối liên hệ tộc người, giữa các tộc người và liên quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI mở đầu công cuộc đổi mới đã khẳng định: “Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc. Trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ. Chống những thái độ và những biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn’’ và những biểu hiện của dân tộc hẹp hòi’’.
Để triển khai những định hướng cơ bản đó, ngày 27-11-1989, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Tiếp sau đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã thể chế hóa bằng Quyết định số 72-HĐBT ngày 13-2-1990 về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Đây là hai văn kiện quan trọng đánh dấu sự đổi mới hoạt động công tác dân tộc và chính sách dân tộc.
Từ những định hướng quan trọng đó, bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã vạch ra những nội dung cơ bản về chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc và làm rõ thêm: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người’’.
Lần đầu tiên chính sách phát triển kinh tế hàng hóa vùng dân tộc thiểu số đã được đề cập trong điều kiện cụ thể lúc bấy giờ. Trong các văn kiện của Đại hội cũng đã đề cập về chính sách đối với người Hoa và người Khơme nhằm tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Cùng với việc xác định công tác dân tộc ở một số dân tộc cụ thể, Đảng và Nhà nước ta còn đưa ra các chính sách đối với các vùng dân tộc như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên trên cơ sở xem xét tính đặc thù của từng vùng và yêu cầu phát triển đối với khu vực và quốc gia.
Cùng với tiến trình đổi mới, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta tiếp tục được Đảng ta bổ sung và cụ thể hóa. Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định: “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân... Xây dựng Luật dân tộc. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ nay (tức năm 1996 - T.G) đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch, vững mạnh’’.
Chính sách dân tộc trong giai đoạn này đặc biệt chú trọng vào việc xác định mục tiêu phát triển và định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc thiểu số với những trọng tâm rất quan trọng về đời sống và dân trí. Chính vì thế, chủ trương xóa đói, giảm nghèo đã được triển khai khá rộng khắp ở nước ta tại vùng các dân tộc thiểu số. Cùng với chương trình xóa đói, giảm nghèo, Chương trình 135 về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa được triển khai đã mang lại những chuyển biến to lớn ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi và không phải ngẫu nhiên sự thành công của chính sách này đã được thế giới đánh giá là tiêu điểm trong sự phát triển kinh tế - xã hội vì con người và mục tiêu thiên niên kỷ của nhân loại.
Trên cơ sở đó, Đại hội lần thứ IX của Đảng cụ thể hóa và đưa ra những chủ trương định hướng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhất quán về nguyên tắc và những luận điểm của các đại hội Đảng đã đề ra trước đó, Đảng ta tiếp tục chủ trương đối với các dân tộc thiểu số cần phải: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang dân trí..., thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu có uy tín trong dân tộc và địa phương. Chống kỳ thị chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc’’. Văn kiện cũng đề ra chủ trương: nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.
 Tư tưởng công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi là một trong những định hướng rất quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng ta cùng với những nội dung khá toàn diện khác liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đào tạo cán bộ...
Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX đã đề ra một số quan điểm cơ bản và xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2010, đồng thời nêu lên những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cũng như các giải pháp cụ thể về công tác dân tộc trong thời kỳ mới.
Một số quan điểm cơ bản được Đảng ta xác định cùng với việc khẳng định vị trí của vấn đề dân tộc là:
- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
- Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.
Trên cơ sở đánh giá những hạn chế yếu kém về công tác dân tộc trong công tác dân tộc giai đoạn này, Nghị quyết cũng đề ra những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách là:
 - Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trong những năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
 Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơme Nam Bộ.
Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới. Làm tốt công tác định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới; công tác quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân cư, nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, gắn với bảo vệ an ninh, quốc phòng.
- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số, làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, gìn giữ và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các dân tộc.
Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hóa phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc, đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự bị dân tộc ở miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ người dân tộc thiểu số.
Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp; nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian.
- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, kiên quyết khắc phục tình trạng xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc...
- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những điểm “nóng’’ về an ninh trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi.
Tiếp tục phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa.
Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân.
- Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới.
Các quan điểm và những nhiệm vụ cấp bách, cơ bản trên tiếp tục được khẳng định và làm rõ thêm tại Đại hội lần thứ X của Đảng. Văn kiện Đại hội chỉ rõ: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc’’12.
Đại hội X của Đảng đã đề ra những vấn đề cơ bản nhất về chính sách dân tộc hiện nay ở nước ta. Để triển khai những vấn đề quan trọng trên đây, trong những năm qua, Chính phủ đã triển khai và ban hành hàng loạt các chương trình dự án nhằm tạo nên sự chuyển biến cơ bản, toàn diện vùng các dân tộc thiểu số. Gần đây, trên cơ sở những thành tựu của Chương trình 135 giai đoạn I, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng như hàng loạt các chính sách, biện pháp về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc.
Chính sách dân tộc của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới chính là sự kế thừa và phát triển chính sách dân tộc của Đảng đã được vạch ra cùng với sự ra đời và trưởng thành của Đảng; là sự vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Đó chính là tiền đề, là điều kiện quan trọng nhất để giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta trên hành trình đổi mới.
        -------------------
Nguồn: http://dangcongsan.vn/

NGHĨ VỀ QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Việt Nam có bờ biển dài khoảng trên 3.260 km, diện tích biển rộng trên 1 triệu ki-lô-mét vuông, chiếm 30% diện tích Biển Đông, có khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Trong những năm gần đây, tình hình Biển Đông đã và đang có những diễn biến hết sức phức tạp vì những hành động ngày càng leo thang và ngang ngược từ phíaTrung Quốc. Đối với vấn đề này, Việt Nam khẳng định: Việt Nam có chủ quyền lãnh thổ không bàn cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, tuân thủ các nguyên tắc và cam kết đã thỏa thuận, không để ảnh hưởng đến tổng thể quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc cũng như hòa bình phát triển ở khu vực.
Đó là quan điểm nhất quán của của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề Biển Đông. Ngay trong Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã nêu rõ: “Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam sẽ cùng các nước có liên quan thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên”. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, được công bố ngay sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất, khẳng định nguyên tắc giải quyết tranh chấp, bất đồng liên quan tới biển với các nước liên quan thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế.
Đặc biệt, trong Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, tại Kỳ họp thứ 5, ngày 23/6/1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982” và có hiệu lực từ ngày 16/11/1994, nhấn mạnh: “Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven  biển  đối với vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực”. Quốc hội nêu rõ: “Cần phân biệt vấn đề tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với các vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982”. Nghị quyết cũng nêu rõ: “Quốc hội khẳng định chủ quyền của nước CHXHCN Việt Nam đối với các vùng nội thuỷ, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của công ước và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam”.
Chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng, Nhà nước ta đã và đang thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc gia. Với thiện chí gìn giữ hoà bình trên Biển Đông, Việt Nam luôn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình, không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực; thông qua con đường đàm phán với các nước hữu quan để tìm ra giải pháp phù hợp cho vấn đề hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thế nhưng, trước những hành động sai trái của Trung Quốc, vi phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trong thời gian qua, có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam nhu nhược trong vấn đề tranh chấp Biển Đông? Tại sao không dám đánh Trung Quốc? Thậm chí trên mạng internet có nhiều đối tượng còn kêu gọi nhân dân đối lập với chính quyền, ở một số nơi còn để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng kích động xuống đường biểu tình phản đối hành động sai trái của Trung Quốc. Yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta, nhưng hãy tỉnh táo để thể hiện hành động yêu nước, không để kẻ thù lợi dụng làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Mỗi người hãy bình tĩnh suy nghĩ, thử tự hỏi và tự mình trả lời, liệu chúng ta sẽ được gì và mất gì khi xung đột vũ trang xảy ra?
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và kiên cường đấu tranh bảo vệ Tổ quốc trước sự xâm lược của thế lực ngoại bang phương bắc và gần đây là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta tự hào về một dân tộc anh hùng, giàu lòng yêu nước, không khất phục trước kẻ thù xâm lược hùng mạnh. Đồng thời, lịch sử cũng cho thấy tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta. Chúng ta có thể nhún nhường để có hòa bình và giữ gìn mối quan hệ bang giao hữu hảo với các dân tộc khác, chúng ta chỉ thực hiện quyền tự vệ chính đáng khi bị kẻ thù xâm lược, để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.
Hơn nữa, Việt Nam có cơ sở để giải quyết vấn đề tranh chấp trên biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Trong công trình nghiên cứu của mình, bà Monique Chemillier - Gendreau đánh giá cao các nguồn tư liệu của Việt Nam, bà khẳng quyết: “Ứng cử viên nghiêm chỉnh nhất giành danh nghĩa trên các đảo này (Hoàng Sa và Trường Sa) về cả căn cứ lịch sử cổ xưa của họ lẫn cơ chế pháp lý về thừa kế các quyền đã được thực dân khẳng định, đúng là Việt Nam. Nam Việt Nam đến năm 1975 rồi nước Việt Nam tái thống nhất sau đó đã xác định sự có mặt rộng rãi nhất có thể có bằng cách chiếm đóng một số đảo nhỏ”[1]. Cần nói thêm rằng, Trung Quốc tự dựng lên tranh chấp, còn Việt Nam khẳng định chủ quyền chứ không tranh chấp với Trung Quốc về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bởi hai quần đảo này của Việt Nam. Đó là một sự thật hiển nhiên.
 Việt Nam giải quyết vấn đề tranh chấp bằng ngoại giao thông qua con đường hòa bình thể hiện sự tôn trọng đối với luật pháp quốc tế, tôn trọng các nước, tôn trọng cam kết cũng như luôn coi trọng vấn đề bảo vệ hòa bình, ổn định thế giới và khu vực. Và đó, cũng là xu hướng chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay. Trước những hành động sai trái của Trung Quốc, Việt Nam luôn bình tĩnh giải quyết, tôn trọng Luật biển quốc tế cũng như hiệp ước giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu Việt Nam cũng hành động như Trung Quốc liệu hòa bình có còn, liệu Việt Nam có được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế không? Mặt khác, hoàn cảnh thế giới hiện nay, đòi hỏi phải giải quyết vấn đề biển Đông một cách khéo léo, tỉnh táo, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm tư lợi hoặc tạo cớ can thiệp, phức tạp hóa tình hình. Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình không có nghĩa là dân tộc ta nhu nhược, mà là ta lựa chọn phương thức phù hợp nhất trong điều kiện hiện nay để bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc qia, chúng ta chỉ đánh khi đó là phương thức cuối cùng mà thôi.
Nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo có thể thấy, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết các tranh chấp trên biển Đông. Mỗi người cần có nhận thức đúng và tin tưởng vào chủ trương bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta; góp phần thiết thực để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển; đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia. Đó là hành động thiết thực, có ý nghĩa quyết định nhất để bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo trong điều kiện hiện nay. /.




[1] Monique Chemillier - Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb CTQG, H.1998, tr.10

Phòng, chống "Diễn biến hoà bình" trên lĩnh vực tư tưởng-văn hoá hiện nay


“Diễn biến hoà bình" (DBHB) là một chiến lược chống phá các nước XHCN bằng hình thức tổng hợp phi vũ trang là chính của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, với mục đích giành "chiến thắng mà không cần chiến tranh". Đó là một chiến lược phản động, cực kỳ nguy hiểm, nhằm xoá bỏ CNXH, hoặc chuyển hoá các nước XHCN vào quỹ đạo các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN). Ngày nay, chiến lược " DBHB " đang được các thế lực thù địch sử dụng với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn và đang phát triển từ " DBHB" kết hợp với bạo loạn, lật đổ sang " DBHB" kết hợp ly khai, bạo loạn lật đổ. Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược này với mục tiêu không che đậy như nhiều chính khách phương Tây tuyên bố: “ chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam theo kiểu Đông Âu", cụ thể là: xoá bỏ  vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ XHCN, chuyển hóa Việt Nam theo hướng TBCN. Bởi vậy, " DBHB" đã và đang là một trong các nguy cơ của cách mạng Việt Nam.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh “DBHB” chống phá ta toàn diện, trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an  ninh, đối ngoại... Và không loại trừ, khi có điều kiện và thời cơ, chúng kết hợp cả “DBHB”, bạo loạn lật đổ với biện pháp vũ trang, tiến hành chiến tranh xâm lược. Song, trọng tâm, then chốt vẫn là phá hoại về  chính trị-tư tưởng, trong đó lấy phá hoại về tư tưởng- văn hoá là khâu đột phá. Để thực hiện điều này, chúng đã và đang tổ chức phối hợp lực lượng phản động trong nước tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; kêu gọi và kích động đòi "đa nguyên chính trị", "đa đảng đối lập", đòi " tự do hoá về chính trị" theo hướng dân chủ tư  sản; núp dưới chiêu bài " dân chủ", "nhân quyền" để truyền bá tư tưởng tư sản và các quan điểm “xã hội dân chủ” ở Việt Nam. Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, chống tham nhũng và những sơ hở, yếu kém của một bộ phận tổ chức, cán bộ trong quản lý kinh tế, xã hội để kích động, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trắng trợn hơn, chúng còn nuôi dưỡng, bảo trợ, tiếp tay cho bọn phản động đội lốt tôn giáo, bọn ngụy quân, ngụy quyền trước đây không chịu cải tạo, cũng như những hoạt động của bọn cơ hội chính trị cấu kết với các thế lực phản động bên ngoài đẩy mạnh các hoạt động chống phá, kích động bạo loạn, lật đổ, nhằm gây bất ổn về chính trị, tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.
Qua nghiên cứu những dạng thức mà các thế lực thù địch tiến hành "DBHB" đối với Việt Nam, chúng ta thấy có một dạng thức chống phá giấu mặt bằng can dự, gây sức ép và tìm mọi cách tác động nhiều chiều, nhiều mũi tiến công vào nội bộ chúng ta để thúc đẩy nhanh quá trình " tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Dạng thức này rất nguy hiểm vì đối phương dễ mơ hồ, ngộ nhận, mất cảnh giác, chủ quan, khinh địch, không có ý thức đề phòng ngăn chặn. Phạm vi can dự, can thiệp của chúng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” bao gồm tất cả các lĩnh vực. Về chính trị- tư tưởng, chúng tìm mọi cách để làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân,  nhất là thế hệ trẻ xa rời mục tiêu, lý tưởng, không thấy rõ độc lập dân tộc và CNXH là con đường duy nhất đúng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; từ đó mất lòng tin vào Đảng, vào CNXH, dẫn tới ủng hộ mô hình " CNXH dân chủ" với đặc trưng cơ bản là thực hành " chính trị đa nguyên", "đa đảng đối lập"; đòi ta thực hiện " tự do hoá về chính trị" theo hướng dân chủ tư sản, thực chất là ngả theo con đường TBCN. Núp dưới chiêu bài " dân chủ", "nhân quyền", lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để truyền bá tư tưởng và các quan điểm tư sản; phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc; đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, “ phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân... Đáng chú ý là trong thời gian qua, các thế lực thù địch  ra sức lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng internet, sách báo, tạp chí từ nước ngoài để  xuyên tạc thành tựu 20 năm đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta; xuyên tạc, làm mất uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, công an; tập trung khoét sâu, thổi phồng một số hạn chế, tiêu cực trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Đặc biệt, chúng đang tập trung chống phá quyết liệt các nội dung căn bản nhất trong Văn kiện Đại hội X của Đảng, nhất là các quan điểm, nội dung có liên quan đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đến mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Những nội dung chống phá trên được chúng chuyển thể dưới dạng tài liệu, bài viết tán phát khắp nơi, qua các phương tiện thông tin đại chúng, mạng internet, báo điện tử, các trang website, tờ rơi... Đối tượng chủ yếu mà chúng tác động vào ta là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị, thanh niên, học sinh, sinh viên, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo và các tầng lớp nhân dân..., nhằm tạo ra khoảng trống về tư tưởng, ý thức hệ, từng bước hình thành xu hướng ly khai, lôi kéo các phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước dựng lên "ngọn cờ', tạo cơ sở cho việc thực hiện mục tiêu chính trị, tập hợp lực lượng phản động, hình thành phe phái đối lập, tiến tới hình thành đảng đối lập ở Việt Nam.       Gắn liền với chống phá quyết liệt trên lĩnh vực chính trị- tư tưởng, chúng rất coi trọng chống phá ta về văn hoá, nghệ thuật. Mục tiêu của các thế lực thù địch là khuyến khích các khuynh hướng văn hoá, nghệ thuật độc lập với chính trị; phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hoá, nghệ thuật; phủ định văn học cách mạng, lôi kéo các văn nghệ sĩ đi theo các trào lưu văn hoá phương Tây, coi nhẹ văn hoá, nghệ thuật truyền thống dân tộc. Chúng tìm mọi cách phủ định, làm hạn chế đến mức thấp nhất các giá trị nền tảng tư tưởng, văn hoá Việt Nam (bản lĩnh chính trị, truyền thống đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước...) là cội nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của dân tộc ta trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN ngày nay. Đồng thời, thông qua nhiều con đường khác nhau, chúng khuếch trương các giá trị văn hoá phương Tây, gieo rắc sản phẩm đồi truỵ, độc hại, quan điểm, tư tưởng, lối sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất, sùng ngoại, tạo tâm lý hưởng thụ, qua đó từng bước chuyển hoá tư duy, nếp nghĩ, quan điểm của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu " DBHB" của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng-văn hoá, chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần  tập trung làm tốt những giải pháp cơ bản sau:
1. Tập trung bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng; kế thừa, phát huy truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu và các hoạt động xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta, phủ nhận những giá trị lịch sử của dân tộc, truyền bá tư tưởng tư sản về “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, đa nguyên, đa đảng của các thế lực thù địch.
2. Tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề căn bản cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra trên con đường đi lên CNXH ở nước ta, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu vào các tầng lớp nhân dân, thực sự giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của toàn xã hội. Tích cực đổi mới công tác giáo dục chính trị-tư tưởng, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, để mọi người nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn thâm độc trong chiến lược "DBHB" của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng- văn hoá, từ đó tạo ra sự “miễn dịch”, sức đề kháng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trước các đòn tiến công về chính trị, tư tưởng- văn hoá của các thế lực thù địch và sự xâm nhập của tư tưởng tư sản.
3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với các ngành chủ quản và cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông đại chúng trong các hoạt động về tư tưởng-văn hoá, báo chí, xuất bản, hội thảo...Tổ chức tốt việc học tập, quán triệt Nghị quyết  Đại hội X của Đảng, Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị (khoá VIII ) " về chiến lược an ninh quốc gia", Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) "về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", phổ biến sâu rộng Thông báo kết luận 94-TB/TƯ của Ban Bí thư "về nhiệm vụ tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu " DBHB" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá", gắn với việc xây dựng chương trình hành động. Kiểm soát và quản lý chặt chẽ, ngăn chăn không để các loại ấn phẩm, văn hoá phẩm độc hại từ nước ngoài vào nước ta. Đẩy mạnh và coi trọng chất lượng chính trị các hoạt động văn hoá, ngăn chặn và làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng các hoạt động văn hoá hòng làm thay đổi hệ giá trị văn hoá Việt nam bằng hệ giá trị văn hoá tư sản. Tích cực, chủ động đấu tranh chống âm mưu xâm lăng văn hoá, du nhập văn hoá độc hại, lai căng bằng các con đường khác nhau vào Việt Nam. Chủ động ngăn chặn thiên hướng sùng ngoại, mất gốc, coi thường giá trị nhân văn, không biết trân trọng truyền thống văn hoá dân tộc.
4. Giữ vững tính định hướng chính trị của các hoạt động tư tưởng-văn hoá,  đảm bảo các sinh hoạt tư tưởng-văn hoá và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng phải hướng vào phục vụ, cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống văn hoá- tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng con người mới Việt Nam, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chống mọi biểu hiện thương mại hoá, phi chính trị trong các hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật.Tích cực đấu tranh có hiệu quả trên lĩnh vực chính tri-tư tưởng, chống các quan điểm sai trái, phản động; giữ vững thông tin chính thống, có định hướng lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung và thống nhất. Chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật phát ngôn theo đúng quy chế, quy định đã ban hành; kịp thời phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện làm trái, làm sai của cán bộ, đảng viên, không để kẻ địch lợi dụng, khoét sâu thêm.
5. Tập trung củng cố, nâng cao và hoàn thiện hệ thống thông tin, truyền thông phong phú, đa dạng, làm cho hệ thống này đảm bảo đủ sức mạnh và khả năng đáp ứng một cách tích cực nhất các nhu cầu thông tin ngày càng tăng lên của nhân dân; đồng thời, có đủ sức mạnh cần thiết để tham gia vào các hoạt động truyền thông quốc tế, góp phần làm cho thế giới hiểu đúng quan điểm, đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, thành tựu phát triển của đất nước ta, tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình của dư luận quốc tế.
6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, đổi mới trang thiết bị, kỹ thuật thông tin theo hướng hiện đại, đồng bộ để hoà nhập với trình độ khoa học-kỹ thuật thông tin quốc tế, phát huy tính hiệu quả cao của các phương tiện thông tin đại chúng. Có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, văn hoá, truyền thông, trong đó đặc biệt chú trọng đến các lực lượng xung kích trên mặt trận đấu tranh phòng, chống " DBHB".
7.  Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả, thiết thực trong các hoạt động tư tưởng, văn hoá, văn nghệ, giáo dục, thông tin tuyên truyền, chủ động nắm bắt tư tưởng và tâm trạng của các đối tượng xã hội và những luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch, kịp thời đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, biện pháp đấu tranh sắc bén, có hiệu quả  với các âm mưu, thủ đoạn " DBHB", góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.
Nguồn:http://tapchiqptd.vn/

HÀNH ĐỘNG CỦA THANH NIÊN DƯỚI CỜ ĐẢNG QUANG VINH

Từ xưa đến nay, thanh niên luôn là lực lượng đi đầu, là rường cột của đất nước, tương lai của dân tộc và là hạnh phúc của mỗi gia đình. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, các thế hệ thanh niên nước ta đã không ngừng được tổ chức, giáo dục, rèn luyện và phát huy vai trò, khả năng cách mạng to lớn. Qua mỗi thời kỳ cách mạng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, với sức trẻ, nhiệt huyết và khát khao cống hiến, các thế hệ thanh niên đã đồng lòng, chung sức hành động, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử được Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó.
Từ sự giác ngộ lý tưởng cách mạng của người thanh niên Nguyễn Tất Thành, thế hệ thanh niên khao khát tự do đã tham gia dựng Đảng, dựng Đoàn và làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người tự do. Với bản “Tuyên ngôn” bất tử của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi Lý Tự Trọng trước tòa án đế quốc: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”, thế hệ thanh niên tìm đường và chọn đường mà tiêu biểu là Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Lý Tự Trọng, Châu Văn Liêm, Hồng Quang, Hà Văn Mạnh…. đã sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng cao đẹp của Đảng.
Kế tục sự nghiệp cách mạng của thế hệ thanh niên đi trước, với ý chí “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Tòng quân giết giặc lập công” đưa dân tộc vượt qua hoàn cảnh khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc”, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc như: Lê Gia Định, Nguyễn Ngọc Nại, Võ Thị Sáu, Ngô Mây, Cù Chính Lan, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện… đã cầm vũ khí đứng lên đánh bại đế quốc, thực dân, làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, giải phóng miền Bắc, mở ra thời kỳ chiến đấu giải phóng dân tộc cho nhiều nước thuộc địa trên thế giới. Tiếp nối những chiến công oanh liệt đó, thực hiện chân lý “Không có gì quý hơn Độc lập, tự do” của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, hàng chục triệu thanh niên ưu tú đã “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, Ba sẵn sàng, Năm xung phong, Quyết chiến Quyết thắng cùng với toàn quân, toàn dân giành thắng lợi vĩ đại, giải phóng miền Nam, thu non sông về một mối. Tiêu biểu là Trần Thị Lý, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, KpaKơlơn, Lê Thị Hồng Gấm, Đoàn Thị Liên, Trịnh Tố Tâm, Vũ Xuân Thiều, Đặng Thùy Trâm… đã sẵn sàng cống hiến tuổi thanh xuân, hiên ngang “Nhằm thẳng quân thù – bắn!”, đánh bại tên đế quốc giàu mạnh nhất hành tinh.
Không chỉ kiên cường, anh dũng trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, thanh niên còn đi đầu trong đổi mới. Với  phong trào “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, bằng niềm tin, trí tuệ, sức trẻ,  không ngại gian khổ, không sợ khó khăn, dám nghĩ, dám làm, quyết không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu, cống hiến hết mình vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần giữ vững thành quả cách mạng mà Đảng, nhân dân ta đã giành được.
Tiếp nối truyền thống cha anh, thế hệ thanh niên ngày nay luôn tuyệt đối trung thành và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, thanh niên Việt Nam với nhiệt huyết, sáng tạo và khát khao cháy bỏng của tuổi trẻ, luôn xung kích, tình nguyện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trên các địa bàn của Tổ quốc. Mỗi thanh niên đều tích cực, chủ động tham gia phong trào “Thanh niên tình nguyện”,  “5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, tiên phong trong ứng dụng khoa học - công nghệ, đi đầu trong xây dựng xã hội học tập, tình nguyện vì cộng đồng, nêu cao tinh thần hăng hái sẵn sàng xung phong đến những nơi Tổ quốc cần, dù đó là biên cương hay hải đảo, dù công việc đó là mới mẻ hay khó khăn. Nhiều thanh niên thế hệ 8X, 9X đã nỗ lực vươn lên, thành công trên nhiều lĩnh vực, khẳng định trí tuệ, tài năng, bản lĩnh của thanh niên Việt Nam với bè bạn quốc tế. Thông qua các phong trào hành động cách mạng, thanh niên luôn trở thành chủ thể tích cực, có đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn tin tưởng và quyết tâm hành động để thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Qua đó, tô thắm thêm truyền thống của tuổi trẻ Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh, xứng đáng với lời dạy của Người: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”.
Tuy nhiên, bên cạnh những thanh niên tiên tiến, giàu lòng yêu nước, biết giữ gìn và phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc, đã và đang có những hành động xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, của dân tộc, thì hiện nay, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, sống thực dụng, thiếu trách nhiệm với bản thân và xã hội, thậm chí một số thanh niên dễ bị kích động, lôi kéo tham gia các hoạt động trái pháp luật, bị các thế lực thù địch lợi dụng làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia dân tộc. Một bộ phận thanh niên có trình độ học vấn còn thấp, năng lực thực hành sau đào tạo còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thời kỳ mới. Do vậy, để thanh niên không ngừng trưởng thành và có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, cần thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, văn hóa trong thanh niên, góp phần tích cực bồi dưỡng thế hệ trẻ có đủ phẩm chất, năng lực, kế tục sự nghiệp vẻ vang của Đảng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chú trọng giáo dục lịch sử, truyền thống, lý tưởng, hoài bão và đạo đức, lối sống cho thanh niên; tiếp tục đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục phù hợp với tâm sinh lý thanh niên hiện nay.
Hai là, tổ chức có hiệu quả phong trào hành động cách mạng của thanh niên, gắn hoạt động của Đoàn với các nhiệm vụ chung của đất nước, địa phương, nhất là tham gia lao động, xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, giữ vững ổn định chính trị xã hội; củng cố quốc phòng, an ninh. Đoàn cần có nhiều hình thức hoạt động phong phú, đa dạng, phù hợp với tuổi trẻ, lôi cuốn thanh niên tham gia tích cực các phong trào cách mạng, nhất là trên các lĩnh vực, các địa bàn có nhiều gian khổ, khó khăn.
Ba là, thường xuyên chăm lo phát triển nguồn nhân lực trẻ, nhân lực chất lượng cao. Cần định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên học tập về các mặt, tiến công và làm chủ khoa học - công nghệ, rèn luyện tay nghề để làm giàu cho đất nước, địa phương, cho gia đình và bản thân. Đoàn phải là cầu nối quan trọng giữa thanh niên với Đảng và Nhà nước, thúc đẩy thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo môi trường xã hội lành mạnh để thanh niên hoạt động.
Bốn là, xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức của thanh niên vững mạnh toàn diện, đủ sức đảm nhận vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên. Tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, khắc phục một số hoạt động mang tính hình thức, hành chính hóa trong công tác Đoàn; mở rộng các hoạt động đối ngoại của Đoàn, tăng cường đoàn kết với các tổ chức thanh niên các nước trong khu vực và trên thế giới.
Năm là, mỗi thanh niên cần ra sức học tập, tu dưỡng và cống hiến. Luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phấn đấu, rèn luyện, lao động, công tác; hoàn thành tốt nhiệm vụ của bản thân, thật sự xứng đáng là những công dân tốt; sẵn sàng lên rừng, ra biển, đi đến bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần; đề cao cảnh giác và chủ động đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, nhất là các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lớn mạnh và trưởng thành trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, lớp lớp các thế hệ thanh niên Việt Nam đã không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, luôn đi đầu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân viết nên những trang sử hào hùng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đẩy mạnh công cuộc đổi mới vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mỗi hành động cao đẹp thanh niên dưới cờ Đảng quang vinh và sự hy sinh, cống hiến to lớn của các thế hệ thanh niên đã góp phần tạo nên tầm vóc, khí phách, bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam./.  

TIẾP TỤC XÂY DỰNG CHỈNH ĐỐN ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

         Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn ra sức chống phá cách mạng nước ta trên các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực chính trị tư tưởng. Thời gian gần đây, lợi dụng các vấn đề ở biển Đông, sự cố môi trường Formosa Hà Tĩnh… các lực lượng phản động ra sức tuyên truyền nói xấu Đảng ta, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước. Do đó, hơn lúc nào hết chúng ta cần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng chăm lo xây dựng, rèn luyện Đảng ta thành một đảng mácxít thật sự vững mạnh để lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Người luôn căn dặn, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng đó không phải là tổng số quần chúng gộp lại một cách cơ học, mà là khối đại đoàn kết toàn dân được giáo dục, được giác ngộ, có tổ chức, được dẫn dắt bởi đường lối đúng đắn của một chính đảng vô sản. Đảng cộng sản có trách nhiệm “vận động và tổ chức dân chúng” và “liên hệ với dân tộc bị áp bức và  vô sản giai cấp mọi nơi”. Vai trò sứ mệnh của Đảng được xem như “người cầm lái”, người dẫn đường. Đảng có trách nhiệm hoặch định đường lối đúng đắn và đưa đường lối đó vào thực tiễn để giác ngộ, tổ chức, tập hợp quần chúng đứng lên đấu tranh thực hiện giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh khảng định, muốn làm cách mạng thì “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.
 Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Tuy nhiên, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để xứng đáng với vai trò một Đảng mácxít chân chính lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của giai cấp và dân tộc, Đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng, chỉnh đốn thật sự vững mạnh trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Sở dĩ phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bởi vì bên cạnh số đông đảng viên mẫu mực thì vẫn còn một bộ phận đảng viên chưa thật sự trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, thậm chí có không ít đảng viên xa cách nhân dân, có đầu óc làm quan cách mạng, không còn xứng đáng danh hiệu người cộng sản. Vì vậy phải chỉnh đốn để gột rửa tất cả những lỗi lầm, sai trái đó. Điều này đã được Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhất là trước lúc đi xa, trong Di chúc Người đã căn dăn: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, phải làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân”. Người còn nhắc nhở: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.
 Theo Hồ Chí Minh, xây dựng và chỉnh đốn là hai vấn đề có mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau. Phải trên cơ sở xây dựng mà chỉnh đốn, chỉnh đốn cũng nhằm mục tiêu xây dựng Đảng vững mạnh hơn, năng lực lãnh đạo được tăng cường hơn. Mục tiêu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng đòi hỏi mỗi tổ chức đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên phấn đấu không ngừng để tiến kịp bước đi của cách mạng.
 Những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã trở thành một vấn đề có tính nguyên tắc, phương châm chỉ đạo và được Đảng ta vận dụng đúng đắn sáng tạo trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong công tác xây dựng đảng gần tám thập kỷ qua. Nhờ đó, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta không ngừng được củng cố và tăng cường, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong mọi giai đoạn (kể cả trong đấu tranh dành chính quyền cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế hiện nay).
Song, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng nhất là trong công cuộc đổi mới ba thập kỷ qua, Đảng ta vẫn còn bộc lộ những khuyết điểm, yếu kém. Nổi lên là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng có mặt chưa đáp ứng yêu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới; việc cụ thể hoá, thể chế hoá một số quan điểm, đường lối, chủ trương lớn  trong các văn kiện, nghị quyết, của đảng chưa kịp thời; tổ chức thực hiện vẫn hạn chế hiệu quả chưa cao. Tình trạng tham ô, tham nhũng, suy thoái về chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống … trong một bộ phận cán bộ đảng viên chưa được khắc phục. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm; kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực chưa nghiêm.
 Đất nước ta đang đứng trước những thời cơ, vận hội mới song cũng đang phải đối mặt với không ít nguy cơ, thách thức đòi hỏi vai trò lãnh đạo của Đảng phải không ngừng được tăng cường. Để bảo đảm sứ mệnh lãnh đạo trong thời kỳ mới, đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục được xây dựng, chỉnh đốn thật sự trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhằm làm cho Đảng ta xứng đáng “là đạo đức, là văn minh” như  Hồ Chí Minh đã khảng định. Văn minh thể hiện ở trí tuệ của Đảng đủ sức nắm bắt quy luật khách quan, xu thế phát triển của thời đại và đòi hỏi của thực tiễn đất nước để hoạch định được đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn, phù hợp lãnh đạo toàn dân thực hiện. Đạo đức thể hiện ở vai trò tiền phong gương mẫu, nói đi đôi với làm , chống chủ nghĩa cá nhân , thật sự trong sạch về lối sống.

  Tổng kết 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới chúng ta nhận thấy rằng, những thành tựu và yếu kém trong công cuộc đổi mới đều gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, trong thời gian tới, Đảng ta cần phải tiếp tục nhận thức và quán triệt sâu sắc nhiệm vụ then chốt của công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, trong đó phải tập trung vào những vấn đề trọng yếu là: Thường xuyên làm tốt hơn nữa công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luỵên đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; tiếp tục đổi mới công tác cán bộ cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ mới; nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; thường xuyên kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; Đẩy mạnh cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn Đảng. Đây chính là việc làm cụ thể, thiết thực nhất đảm bảo cho Đảng ta mãi mãi xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Làm được như vậy thì các thế lực thù địch cũng không có chỗ để lợi dụng, xuyên tạc, chống phá và đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta.

QUAN ĐIỂM VỀ “LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC” TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo đất nước luôn luôn phấn đấu vì mục tiêu cao cả là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XII của Đảng đã kế thừa quan điểm của các kỳ Đại hội trước và đưa ra quan điểm mới về lợi ích quốc gia – dân tộc để chỉ đạo các hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Lịch sử các quốc gia có chủ quyền bao giờ cũng quan tâm đến lợi ích quốc gia - dân tộc để bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều triều đại kế tiếp nhau luôn luôn thực hiện phương châm mềm dẻo nhưng kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền, bảo đảm cho sự trường tồn của dân tộc. Xuất phát từ thực tiễn thời đại, từ yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã đặt ra sự cần thiết cho Đảng ta phải có nhận thức mới về “lợi ích quốc gia - dân tộc”. Trong Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra quan điểm mới về lợi ích quốc gia - dân tộc để chỉ đạo các mặt hoạt động của đất nước, trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay, thể hiện trên một số vấn đề sau:
Một là, về cách diễn đạt thuật từ “lợi ích quốc gia, dân tộc”, ở Đại hội XI thì Đảng ta đã sử dụng thuật từ “lợi ích quốc gia, dân tộc”, song đến Đại hội XII, có sự thay đổi cách thể hiện về hình thức bằng dấu gạch nối trong thuật từ “lợi ích quốc gia - dân tộc”. Theo nghĩa rộng thì thuật từ “quốc gia” và “dân tộc” có tính độc lập tương đối nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nên dùng dấu gạch nối giữa hai cụm từ sẽ thể hiện rõ sự liên hệ của nó. Nói đến lợi ích quốc gia là nói đến yếu tố lãnh thổ, yếu tố nhân dân và Đảng, chính quyền Nhà nước; nói đến dân tộc là nói đến cộng đồng người sống trên lãnh thổ đó vì thế hai thuật từ “quốc gia và dân tộc” cần được thể hiện bằng dấu gạch nối là lôgíc và phù hợp.     
Hai là, phạm trù “lợi ích quốc gia - dân tộc” của Việt Nam được đặt ra trong điều kiện có những biến đổi mới của tình hình thế giới và trong nước. Dự báo trên thế giới, trong những năm tới tình hình sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. “Tình hình chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng…tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực”[1].
Ở trong nước, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn. Tình hình chính trị - xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định. Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới to lớn, phức tạp hơn đối với sự ngiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải quyết tâm nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn”[2].
Ba là, vấn đề “lợi ích quốc gia - dân tộc” được khái quát là một bài học của 5 năm trong nhiệm kỳ 2010 - 2015 và bài học của 30 năm đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm, trong đó bài học thứ 5 bàn về lợi ích quốc gia - dân tộc là: “chủ động , tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu cao nhất, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”[3]. Tổng kết 30 mươi năm đổi mới, từ những thành tựu cũng như những hạn chế, khuyết điểm, Đảng ta đã rút ra 5 bài học trong đó có bài học thứ 4 bàn về lợi ích quốc gia “Phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[4].
Bốn là, “lợi ích quốc gia - dân tộc” là mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của quốc gia, của thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[5]. Nội hàm của phạm trù “lợi ích quốc gia - dân tộc” đã được Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, trong Đại hội XII của Đảng đã gắn vấn đề giữ vững chủ quyền; thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; ổn định chế độ chính trị; bảo đảm an ninh và an toàn cho người dân; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; bảo đảm các điều kiện cho quốc gia phát triển kinh tế, xã hội… 
Vấn đề bảo đảm “lợi ích quốc gia - dân tộc” là mục tiêu, nguyên tắc hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Đại hội XII của Đảng ta khẳng định: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”[6].
Năm là, bảo đảm “lợi ích quốc gia - dân tộc” là trách nhiệm của mỗi người dân, của cả hệ thống chính trị, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý. Đảng, Nhà nước ta, sử dụng sức mạnh tổng hợp cả nội lực và ngoại lực để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoa dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[7].
 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về “lợi ích quốc gia - dân tộc” theo tinh thần Đại hội XII là rất toàn diện, biểu hiện ở nhiều cấp độ và nhiều lĩnh vực khác nhau. Về cấp độ có lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, có lợi ích sống còn và lợi ích quan trọng. Ở mỗi cấp độ của lợi ích quốc gia - dân tộc đều có quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc xác định nội dung, cấp độ thực hiện lợi ích quốc gia - dân tộc ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể bao giờ cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả bên trong, cả yếu tố bên ngoài, không áp đặt chủ quan.
Lợi ích của quốc gia Việt Nam là một phạm trù không phải trừu tượng chung chung, nên được nhận thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, cả về vật chất và tinh thần... Trên lĩnh vực chính trị: Là giữ vững ổn định chính trị - xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và quản lý của Nhà nước trong công cuộc đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên lĩnh vực kinh tế: xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, phù hợp thực tiễn của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khai thác hết tiềm năng trong nước, kế thừa thành tựu cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức. Tích cực mở rộng và nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo việc làm, thu nhập từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội: Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nhằm lưu giữ, phát triển các giá trị văn hóa của dân tộc trong điều kiện mới không bị phai nhạt. Nâng cao trình độ dân trí, phát triển văn hóa nghệ thuật, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Phát huy ý thức tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam , vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước từng bước xây dựng nền văn hóa mới, con người mới mang đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa. Trên lĩnh vực đối ngoại: Việt Nam muốn là bạn, đối tác tin cậy và có trách nhiệm trong quan hệ hợp tác với các nước trong cộng đồng quốc tế, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau và giải quyết các vấn đề bằng thương lượng cùng có lợi. Việt Nam luôn luôn mong muốn mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, xóa bỏ bất đồng, hướng tới tương lai và luôn giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc  và chủ nghĩa xã hội. Trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng: Việt Nam luôn tôn trọng chủ quyền của các quốc gia trên thế giới, đồng thời mong muốn các nước tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việc duy trì an ninh, quốc phòng của đất nước nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, của toàn dân tộc Việt Nam. Việt Nam không muốn sử dụng sức mạnh quân sự để xâm lược, thôn tính nước khác mà nhằm mục đích răn đe các thế lực thù địch để giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước và từng bước hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Quan điểm của Đảng ta đặt “Lợi ích quốc gia - dân tộc” lên “trên hết” hay là “mục tiêu tối cao” để chỉ đạo các hoạt động của quốc gia trong điều kiện mới là đúng đắn. Đây là quan điểm không phải do tự phát, ngẫu nhiên hình thành mà đều có cơ sở lý luận và thực tiễn; là bài học rút ra từ quá trình đấu tranh cách mạng bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc trong lịch sử và hiện tại. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau thì lợi ích quốc gia - dân tộc là nội dung đấu tranh cốt lõi giữa các giai cấp, đặc biệt giữa giai cấp thống trị và bị trị, giữa các quốc gia, dân tộc với nhau. Mục đích của cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích của quốc gia - dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân là sự thể hiện thống nhất với lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động để bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của đất nước. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam là một khái niệm nói lên nhu cầu khách quan được hưởng thụ quyền độc lập, tự chủ, tự quyết định con đường phát triển của nhân dân Việt Nam do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong mọi hoạt động của mình, luôn phấn đầu vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã thường xuyên chú trọng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội. Đại hội XII của Đảng là mốc đánh dấu 30 năm đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý của Chủ nghĩa xã hội khoa học; đồng thời xuất phát từ thực tiễn thời đại và thực tiễn đất nước đã đề ra quan điểm mới về "lợi ích quốc gia - dân tộc" - quan điểm thể hiện bản chất giai cấp công nhân của Đảng cộng sản Việt Nam và thể hiện tính lý luận và thực tiễn sâu sắc của cách mạng Việt Nam.


[1] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.71
[2] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, sđd, tr.75
[3] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, sđd, tr.65
[4] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, sđd, tr.69-70
[5] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, sđd, tr.147-148
[6] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, sđd, tr.153

[7]Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, sđd, tr.36-37