Hiển thị các bài đăng có nhãn giải quyết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giải quyết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

NÂNG CAO VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA THANH NIÊN CẦN LIÊN TỤC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT CÁC MÂU THUẪN NỘI TẠI VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ

Trình độ văn hóa ứng xử của người thanh niên phải giải quyết mâu thuẫn trong tư tưởng thanh niên, làm cho họ tích cực rèn luyện theo chuẩn mực, nguyên tắc, giá trị của môi trường văn hóa. Quá trình này phải gắn liền với nỗ lực chủ quan, vượt qua khó khăn để tiếp nhận các nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị văn hóa mới, tự nguyện tu dưỡng, rèn luyện, chiến thắng những lực cản và hình thành, củng cố, phát triển những thuộc tính mới đến trình độ bền vững mang sắc thái chủ thể văn hóa.

Nâng cao văn hóa ứng xử của thanh niên hiện nay, gắn bó hữu cơ giữa cái khách quan là toàn bộ những nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị văn hóa mang sắc thái của môi trường giáo dục, rèn luyện và cái chủ quan là tổng thể những phẩm chất, năng lực ở trạng thái hiện có làm tiền đề cho tiếp nhận những giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc văn hóa. Vì thế, đòi hỏi thanh niên phải thường xuyên đấu tranh với chính bản thân mình để tiếp nhận những giá trị mới, tạo nên sự chuyển biến trong lối sống, giao tiếp, ứng xử của bản thân; đồng thời đào thải những cái không phù hợp và chuyển hóa để có sắc thái mới, trình độ cao hơn. Tiếp nhận và đào thải luôn hòa quyện với nhau.

Theo Hồ Chí Minh: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Vì thế, phải tích cực trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức, chuẩn mực ứng xử văn hóa của thanh niên; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình về đạo đức, văn hóa ứng xử; đồng thời chống lại sự tha hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, loại bỏ những biểu hiện thiếu sáng tạo, thỏa mãn, ngại tu dưỡng, rèn luyện nâng cao văn hóa ứng xử trong thanh niên.

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT TỐT VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Một là, tập trung đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho đồng bào theo đúng chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo của Đảng để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng có đạo.

Hai là, thường xuyên xây dựng và tăng cường khối đoàn kết giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo. Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một chiến lược lớn và lâu dài của Đảng cộng sản Việt Nam. Lịch sử phát triển của đất nước đã chứng minh tính đúng đắn và sự cần thiết phải thực hiện tốt chiến lược này trong mọi thời kỳ cách mạng. Coi trọng xây dựng và củng cố tình đoàn kết giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa đồng bào có đạo và không có đạo để giúp đỡ nhau trong phát triển sản xuất, xây dựng đời sống mới, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào, phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc đấu tranh chống mọi sự kích động, chia rẽ tình đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch. Tranh thủ người có uy tín trong làng, bản để giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh, vận động quần chúng thực hiện tốt phong trào xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng nông thôn mới.

Ba là, củng cố an ninh quốc phòng, chủ động và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo nhằm kích động quần chúng, chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Như trên đã phân tích, vấn đề dân tộc và vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo luôn là vấn đề nhạy cảm và thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và chống phá cách mạng nước ta. Do vậy, tăng cường củng cố an ninh quốc phòng là nhiệm vụ thường trực hết sức quan trọng không được phép lơ là. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần chú ý một số giải pháp cụ thể sau: Chủ động ngăn ngừa bạo loạn chính trị do các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và nhân quyền. Muốn vậy, phải làm tốt công tác quản lý địa bàn, xây dựng các phương án để chủ động phòng ngừa các hoạt động tôn giáo trái phép. Chủ động vạch trần những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo, hoặc kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo nhằm “tôn giáo hóa dân tộc” của chúng. Kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức, các đối tượng có các hoạt động truyền đạo trái phép, hoặc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền để kích động quần chúng, chia rẽ tình đoàn kết dân tộc. Kiện toàn bộ máy, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Bồi dưỡng kiến thức về tôn giáo và chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước cho tất cả cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, huyện, xã. Tranh thủ giáo sĩ, vận động giáo dân thực hiện xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”; đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ cố tình lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo, nhân quyền để gây rối, kích động quần chúng chống phá chính quyền, hoặc cố tình vi phạm pháp luật, truyền đạo trái phép./.

GIẢI QUYẾT ĐƯỢC MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG TRƯỚC MẮT VÀ LÂU DÀI KHI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

        Để thực hiện tốt mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt Kết luận số 16-KL/TW và Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị; tập trung nghiên cứu, rà soát, đánh giá lại chất lượng nguồn nhân lực hiện có, xác định nhu cầu về số lượng, quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực của đơn vị, để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, gọi nhập ngũ với tỷ lệ nhất định các sinh viên tốt nghiệp đại học có trình độ, năng lực tốt bổ sung cho các ngành, nghề còn thiếu, Quân đội chưa đào tạo được.

          Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải xuất phát từ đường lối chính trị, quân sự của Đảng; chấp hành nghiêm các nguyên tắc công tác cán bộ và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện nay. Đồng thời, phải bảo đảm tính khoa học, khả thi, có lộ trình, bước đi thích hợp; gắn quy hoạch chung với quy hoạch cụ thể của từng ngành, từng đơn vị; có dự báo chiến lược, đón trước sự phát triển, khắc phục tình trạng hẫng hụt nguồn kế cận, kế tiếp, mất cân đối ngành, chuyên ngành, phấn đấu xây dựng được đội ngũ cán bộ chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược. Xây dựng nguồn nhân lực trong quân đội, thực hiện thành công mục tiêu về xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là vấn đề vô cùng quan trọng hiện nay. Do đó, các chủ thể cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, quán triệt, triển khai thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong quân đội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC THAM MƯU VỚI CẤP ỦY, CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TÔN GIÁO

Mấy thập kỷ qua, các đơn vị quân đội đã xác định, một trong những nhiệm vụ quân đội tham gia thực hiện công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước là phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta; chủ động phối hợp tham gia giải quyết kịp thời các vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, nhằm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Vì vậy, các đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn tôn giáo luôn coi trọng tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh gắn với xây dựng thế trận quốc phòng an ninh. Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc bám nắm tình hình địa bàn, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, các đoàn thể địa phương, các lực lượng, dự báo và đánh giá đúng tình hình tôn giáo, các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để chống phá ta của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Trên cơ sở đó, các đơn vị quân đội kịp thời phối hợp, trao đổi thông tin, tiến hành tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương vùng tôn giáo xây dựng các kế hoạch, phương án bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội sát hợp với thực tiễn.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các đơn vị quân đội đã quán triệt và thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo đúng quy chế phối hợp với các ban ngành, tiến hành phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, cơ quan chức năng trên địa bàn, tổ chức ký kết và triển khai có hiệu quả các nghị định và thông tư liên tịch giữa các ngành trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở vùng tôn giáo. Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị, nhất là cơ quan quân sự địa phương các cấp đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương ban hành các nghị quyết, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ; xây dựng, bổ sung, điều chỉnh hệ thống văn kiện, phương án sẵn sàng chiến đấu; xây dựng kế hoạch tuyên truyền trong giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo; bồi dưỡng diễn tập khu vực phòng thủ cho cơ quan nghiệp vụ về công tác tôn giáo các tỉnh, thành.

Từ kinh nghiệm tham gia giải quyết những vụ việc phức tạp về tôn giáo ở Tây Nguyên, Tây Bắc và một số tỉnh Trung Bộ, các đơn vị quân đội đã chủ động tham mưu, đề xuất với địa phương xây dựng kế hoạch, các phương án giải quyết tình hình, cơ chế phối hợp, tổ chức luyện tập theo các phương án xử trí các tình huống xảy ra. Các đơn vị tại chỗ đã bám nắm địa bàn đến các thôn làng; nắm và trao đổi thông tin tình hình tôn giáo, tình hình di cư tự do, hoạt động truyền đạo và hoạt động tôn giáo trái pháp luật, nhất là các thủ đoạn mới của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá ta để kịp thời tham mưu, đề xuất các chủ trương biện pháp giải quyết tình hình cho địa phương. Đồng thời, lực lượng quân đội đã chủ động tham gia cùng địa phương giải quyết các tình huống phức tạp, các vụ việc liên quan đến tôn giáo theo đúng quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo, không để các thế lực thù địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc, tránh bị động, bất ngờ. Các đơn vị ở địa bàn vùng tôn giáo đã tham mưu, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng khác, nhất là cấp cơ sở làm tốt công tác nắm tình hình, tổ chức gặp gỡ đối thoại với các chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo các tôn giáo để giải quyết các vấn đề phức tạp nảy sinh, các hoạt động tôn giáo trái pháp luật ở vùng tôn giáo theo đúng quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Thời gian qua, các đơn vị quân đội luôn tham mưu, phối hợp kịp thời, hiệu quả với cấp ủy, chính quyền địa phương đấu tranh ngăn chặn các hoạt động truyền đạo trái pháp luật; giải quyết các vụ việc nảy sinh về tôn giáo theo đúng quy định pháp luật; làm thất bại việc lợi dụng vấn đề tôn giáo trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá ta.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT, GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG BIỆN PHÁP HÒA BÌNH

Nhìn nhận về tình hình Biển Đông thời gian qua khi phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao nước ta Bùi Thanh Sơn cho rằng, tình hình vùng biển này vẫn còn nhiều thách thức khó lường, tác động đến hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực, trong đó có các vấn đề nổi cộm như: việc đơn phương diễn giải luật pháp quốc tế không phù hợp với chuẩn mực và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, cạnh tranh địa chính trị nước lớn và quân sự hóa Biển Đông làm tình hình thực địa tiếp tục diễn biến phức tạp, cản trở các tiến trình ngoại giao nhằm nỗ lực thúc đẩy đối thoại và hợp tác. Bên cạnh đó, các vấn đề an ninh phi truyền thống trên biển ngày càng phức tạp, tác động đến cuộc sống bình yên của hàng triệu người.

Đơn phương diễn giải luật pháp quốc tế để từ đó tự đưa ra những yêu sách đòi chủ quyền và dùng sức mạnh vượt trội để hiện thực hóa yêu sách đòi chủ quyền phi pháp là căn nguyên của tình hình căng thẳng ở Biển Đông lâu nay. Thực thi “ngoại giao pháo hạm” nhằm phô trương sức mạnh quân sự với mục đích đe dọa để đạt được các mục tiêu đối ngoại và buộc quốc gia bị đe dọa phải nhượng bộ quyền lợi trong các vấn đề chủ quyền ở Biển Đông là mối đe dọa nghiêm trọng với hòa bình, ổn định và an ninh của khu vực cũng như thế giới.

Chia sẻ đánh giá chung cho rằng nguy cơ xảy ra đụng độ trên Biển Đông thời gian tới ngày càng lớn do cạnh tranh giữa các nước lớn gia tăng, các học giả tham gia hội thảo đề xuất một số khuyến nghị cho các nước liên quan nhằm phòng tránh đụng độ, giảm thiểu rủi ro như nghiêm chỉnh tuân thủ Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), các nước gia nhập các điều ước, thoả thuận quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro trên biển như COLREG, SUA and SOLAS. Từ năm 2016, Trung Quốc và ASEAN đã ra tuyên bố chung về Quy tắc phòng tránh đụng độ trên biển (CUES), song đến nay CUES vẫn là bộ quy tắc tự nguyện và chỉ áp dụng cho các lực lượng hải quân, do đó các học giả Australia đề xuất mở rộng phạm vi áp dụng CUES cho cả các lực lượng cảnh sát biển (hải cảnh), chấp pháp dân sự trên biển.

Trong các bài diễn văn quan trọng tại hội thảo, Bộ trưởng Quốc phòng Canada Harjit Sajjan và Chuẩn đô đốc Juergen Ehle, Cố vấn cao cấp của Cơ quan đối ngoại Liên minh châu ÂU (EEAS), cùng phản đối các hành động đơn phương làm leo thang căng thẳng khu vực và phá hoại sự ổn định ở Biển Đông. Bộ trưởng Harjit Sajjan phản đối sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực, cải tạo đảo trên diện rộng, xây dựng đồn bốt trên các điểm tranh chấp và sử dụng chúng cho các mục đích quân sự ở Biển Đông, đồng thời thúc giục tất cả các bên tuân thủ cam kết phi quân sự hóa các điểm tranh chấp và các cam kết trong Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn nêu rõ cần sớm hoàn thành đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); không tiến hành các hoạt động đơn phương, cả quân sự và dân sự nhằm thay đổi nguyên trạng trên Biển Đông; tiếp tục đề cao, tôn trọng sự toàn vẹn và giá trị thống nhất, phổ quát của UNCLOS 1982, coi Công ước này là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động trên biển, đồng thời cần tôn trọng quyền lợi hợp pháp căn cứ theo luật pháp quốc tế của các bên liên quan ở Biển Đông. Chỉ có thượng tôn pháp luật, giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế mới mang lại hòa bình, ổn định an ninh và hợp tác ở Biển Đông.

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG LÀ RÕ RÀNG VÀ NHẤT QUÁN

Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng khẳng định: “...Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

THỰC HIỆN THẮNG LỢI NHIỆM VỤ TRUNG TÂM LÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI GIẢI QUYẾT TỐT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Nỗ lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Khi kinh tế phát triển, các vấn đề xã hội được giải quyết, đời sống của nhân dân được cải thiện, khoảng cách giàu - nghèo được thu hẹp, công bằng xã hội được thực hiện tốt, sẽ tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần để củng cố “lòng dân”. Muốn vậy, cần phải gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội trong mọi giai đoạn phát triển; kết hợp phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để các tầng lớp nhân dân trên mọi vùng, miền của Tổ quốc được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

Xây dựng “thế trận lòng dân” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Thực hiện các giải pháp xây dựng “thế trận lòng dân” cần thường xuyên quán triệt phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu cái gì làm trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”; bởi “sức dân như nước, chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Nguyên lý đó luôn luôn đúng với mọi thời đại.

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018

PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Đảng và Nhà nước ta xác định phương hướng giải quyết quan hệ dân tộc ở nước ta hiện nay tập trung vào các vấn đề sau:
Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò của vấn đề dân tộc trong công cuộc Đổi mới hiện nay. Xác định đúng đắn sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của từng tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Mọi chủ trương, chính sách chỉ đạo thực tiễn đều nhằm nâng cao ý thức quốc gia dân tộc, bảo đảm sự phát triển hài hòa từng tộc người với sự phát triển chung của đất nước. Quán triệt và thực thi tốt nguyên tắc nhất quán giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta. Nghiêm cấm những hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, khắc phục tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc.
Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước phải toàn diện, quan tâm tôn trọng lợi ích của các tộc người, giữ gìn sự đa dạng bản sắc văn hoá tộc người, tạo mối quan hệ đồng thuận cho sự phát triển bền vững; khắc phục sự suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Các chủ trương chính sách phát triển dân tộc thiểu số ở nước ta cần được hoạch định trên cơ sở nghiên cứu thấu đáo về kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý dân tộc, hiện trạng phát triển mọi mặt đời sống các tộc người. Từ đó, đề ra các chủ trương, chính sách và lựa chọn con đường phát triển phù hợp với đặc điểm vùng, tộc người và nhu cầu thiết thực của người dân, tránh áp đặt duy ý chí.
Khắc phục các thiếu sót, hạn chế trong một số chính sách phát triển kinh - xã hội. Tập trung khắc phục những khác biệt lợi ích giữa các tộc người về kinh tế như vấn đề đất đai, tài nguyên, thương mại... Việc ưu tiên đầu tư cho các tộc người có dân số ít cần tính đến vấn đề địa vực cư trú và tình trạng xen kẽ giữa các tộc người đã làm cho mối quan hệ tộc người ở một số địa phương bị tổn thương. Khắc phục điều chỉnh địa giới hành chính ở các địa phương không hợp lý đã làm nảy sinh mâu thuẫn, kiện cáo mang tính tập thể. Giải quyết thỏa đáng tình hình di dân tự do ở miền núi đã gây nên va chạm giữa các tộc người tại chỗ và dân nhập cư từ nơi khác đến. Thực hiện tốt hơn công tác tái định cư trong các công trình lớn của Nhà nước để không gây ảnh hưởng xấu tới niềm tin của đồng bào các dân tộc. Giải quyết tốt chính sách đất đai ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số hiện nay. Bài trừ các biểu hiện mất đoàn kết, sự nghi kỵ, phân biệt đối xử giữa các tộc người.
Vô hiệu hóa và làm thất bại các âm mưu,thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch. 

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

NGHĨ VỀ QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Việt Nam có bờ biển dài khoảng trên 3.260 km, diện tích biển rộng trên 1 triệu ki-lô-mét vuông, chiếm 30% diện tích Biển Đông, có khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Trong những năm gần đây, tình hình Biển Đông đã và đang có những diễn biến hết sức phức tạp vì những hành động ngày càng leo thang và ngang ngược từ phíaTrung Quốc. Đối với vấn đề này, Việt Nam khẳng định: Việt Nam có chủ quyền lãnh thổ không bàn cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, tuân thủ các nguyên tắc và cam kết đã thỏa thuận, không để ảnh hưởng đến tổng thể quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc cũng như hòa bình phát triển ở khu vực.
Đó là quan điểm nhất quán của của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề Biển Đông. Ngay trong Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã nêu rõ: “Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam sẽ cùng các nước có liên quan thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên”. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, được công bố ngay sau khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất, khẳng định nguyên tắc giải quyết tranh chấp, bất đồng liên quan tới biển với các nước liên quan thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế.
Đặc biệt, trong Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, tại Kỳ họp thứ 5, ngày 23/6/1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982” và có hiệu lực từ ngày 16/11/1994, nhấn mạnh: “Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven  biển  đối với vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực”. Quốc hội nêu rõ: “Cần phân biệt vấn đề tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa với các vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vào những nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982”. Nghị quyết cũng nêu rõ: “Quốc hội khẳng định chủ quyền của nước CHXHCN Việt Nam đối với các vùng nội thuỷ, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của công ước và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam”.
Chủ quyền biển, đảo là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng, Nhà nước ta đã và đang thực hiện nhiều biện pháp để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc gia. Với thiện chí gìn giữ hoà bình trên Biển Đông, Việt Nam luôn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình, không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực; thông qua con đường đàm phán với các nước hữu quan để tìm ra giải pháp phù hợp cho vấn đề hai Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thế nhưng, trước những hành động sai trái của Trung Quốc, vi phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trong thời gian qua, có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam nhu nhược trong vấn đề tranh chấp Biển Đông? Tại sao không dám đánh Trung Quốc? Thậm chí trên mạng internet có nhiều đối tượng còn kêu gọi nhân dân đối lập với chính quyền, ở một số nơi còn để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng kích động xuống đường biểu tình phản đối hành động sai trái của Trung Quốc. Yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta, nhưng hãy tỉnh táo để thể hiện hành động yêu nước, không để kẻ thù lợi dụng làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Mỗi người hãy bình tĩnh suy nghĩ, thử tự hỏi và tự mình trả lời, liệu chúng ta sẽ được gì và mất gì khi xung đột vũ trang xảy ra?
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và kiên cường đấu tranh bảo vệ Tổ quốc trước sự xâm lược của thế lực ngoại bang phương bắc và gần đây là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta tự hào về một dân tộc anh hùng, giàu lòng yêu nước, không khất phục trước kẻ thù xâm lược hùng mạnh. Đồng thời, lịch sử cũng cho thấy tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta. Chúng ta có thể nhún nhường để có hòa bình và giữ gìn mối quan hệ bang giao hữu hảo với các dân tộc khác, chúng ta chỉ thực hiện quyền tự vệ chính đáng khi bị kẻ thù xâm lược, để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.
Hơn nữa, Việt Nam có cơ sở để giải quyết vấn đề tranh chấp trên biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Trong công trình nghiên cứu của mình, bà Monique Chemillier - Gendreau đánh giá cao các nguồn tư liệu của Việt Nam, bà khẳng quyết: “Ứng cử viên nghiêm chỉnh nhất giành danh nghĩa trên các đảo này (Hoàng Sa và Trường Sa) về cả căn cứ lịch sử cổ xưa của họ lẫn cơ chế pháp lý về thừa kế các quyền đã được thực dân khẳng định, đúng là Việt Nam. Nam Việt Nam đến năm 1975 rồi nước Việt Nam tái thống nhất sau đó đã xác định sự có mặt rộng rãi nhất có thể có bằng cách chiếm đóng một số đảo nhỏ”[1]. Cần nói thêm rằng, Trung Quốc tự dựng lên tranh chấp, còn Việt Nam khẳng định chủ quyền chứ không tranh chấp với Trung Quốc về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bởi hai quần đảo này của Việt Nam. Đó là một sự thật hiển nhiên.
 Việt Nam giải quyết vấn đề tranh chấp bằng ngoại giao thông qua con đường hòa bình thể hiện sự tôn trọng đối với luật pháp quốc tế, tôn trọng các nước, tôn trọng cam kết cũng như luôn coi trọng vấn đề bảo vệ hòa bình, ổn định thế giới và khu vực. Và đó, cũng là xu hướng chủ đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay. Trước những hành động sai trái của Trung Quốc, Việt Nam luôn bình tĩnh giải quyết, tôn trọng Luật biển quốc tế cũng như hiệp ước giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu Việt Nam cũng hành động như Trung Quốc liệu hòa bình có còn, liệu Việt Nam có được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế không? Mặt khác, hoàn cảnh thế giới hiện nay, đòi hỏi phải giải quyết vấn đề biển Đông một cách khéo léo, tỉnh táo, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm tư lợi hoặc tạo cớ can thiệp, phức tạp hóa tình hình. Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình không có nghĩa là dân tộc ta nhu nhược, mà là ta lựa chọn phương thức phù hợp nhất trong điều kiện hiện nay để bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc qia, chúng ta chỉ đánh khi đó là phương thức cuối cùng mà thôi.
Nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo có thể thấy, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết các tranh chấp trên biển Đông. Mỗi người cần có nhận thức đúng và tin tưởng vào chủ trương bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta; góp phần thiết thực để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển; đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia. Đó là hành động thiết thực, có ý nghĩa quyết định nhất để bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo trong điều kiện hiện nay. /.




[1] Monique Chemillier - Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb CTQG, H.1998, tr.10