Hiển thị các bài đăng có nhãn quốc gia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quốc gia. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

CHỈ CÓ MỘT “PHE” DUY NHẤT NÊN CHỌN, ĐÓ LÀ LỢI ÍCH QUỐC GIA VÀ LỢI ÍCH DÂN TỘC

Lợi dụng cuộc chiến Ukraine hiện tại, Việt Tân ra sức truyền bá thông điệp sai lầm rằng để có tương lai cường thịnh thì Việt Nam phải vứt bỏ quan hệ với các nước như Nga, Trung Quốc và “về phe” hoàn toàn của Mỹ và phương Tây.

Việt Tân vừa có bài viết nhằm mục đích so sánh quan hệ Nga - Ukraine và Trung Quốc - Việt Nam. Họ cố gắng vẽ ra hình ảnh Nga và Trung Quốc giống nhau, là những nước lớn và “thích” đi xâm lược, trong khi Việt Nam và Ukraine là những nước nhỏ và “chắc chắn” sẽ bị xâm lược, từ đó kết luận là Việt Nam nhất định phải tránh xa hai nước này. Để luận điệu này thêm phần thuyết phục, họ viện dẫn những lập luận “nhảm nhí” của ông tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu về việc “dứt khoát phải chọn phe” trong cuộc chiến Nga - Ukraine hiện tại để làm “vui lòng truyền thông thế giới”. Việt Tân cho rằng nay đã là “cơ hội” để Việt Nam quay sang chọn phe phương Tây, Mỹ, Nhật… để có tương lai tươi sáng hơn.

Những người biết rõ về Việt Tân tất yếu sẽ tự hỏi vì sao họ đột nhiên “tốt bụng” như vậy. Lâu nay, tổ chức này chuyên dựng chuyện xuyên tạc, chống phá các chính sách của Việt Nam. Họ thậm chí còn là một tổ chức với quan điểm khủng bố, chuyên đào tạo và lên kế hoạch cho các hoạt động phá hoại tại Việt Nam, vậy vì sao họ lại muốn Việt Nam có tương lai tươi sáng hơn? Phải chăng vì bất lực với các kế hoạch chống phá hiện tại nên họ đổi ý muốn đóng góp cho đất nước? Hay thực chất, cái “tương lai tươi sáng” mà họ đang vẽ ra chỉ là “cái bả chuột” mà thôi.

Việt Nam đang ở vị thế một đất nước trung lập, có quan hệ từ đối tác toàn diện đến chiến lược với cả 3 cường quốc Mỹ, Nga, Trung, và mỗi một quốc gia trong số này đều có thể giúp đỡ Việt Nam cũng như cân bằng ảnh hưởng của những nước còn lại. Đây là kết quả của một thời gian dài thực hiện chính sách ngoại giao đa dạng hóa, đa phương hóa. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh từng nói ngoại giao và đối ngoại thời bình là phải biết tìm bạn mà chơi, thậm chí chơi được cả với những “kẻ địch” để giữ hòa bình cho mình. Chúng ta luôn tăng cường nội lực của đất nước nhưng “Luyện quân tốt để không phải đánh, mua vũ khí hiện đại để không phải bắn”.

Xung quanh chiến sự giữa Nga - Ukraine hiện tại có khá nhiều ý kiến tranh luận, và rất lạ là những quan điểm như của Việt Tân không hề hiếm. Nó đến từ hiểu biết hết sức hạn hẹp của những “chuyên gia cõi mạng”, đơn cử như ông võ sư Đoàn Châu hay ông tiến sỹ làm toán Nguyễn Ngọc Chu. Những người này ra sức xúi giục Việt Nam “chọn phe”, mà không hề biết gì về hậu quả của việc chọn phe. Gruzia trước năm 2008 hay Ukraine trước năm 2014 thì đất nước vẫn bình yên, lãnh thổ toàn vẹn, nhưng chỉ sau quyết định “chọn phe” quyết liệt thì họ bị rơi vào vòng xoáy của những cuộc chiến chưa bao giờ dứt. Hay tương tự là câu chuyện Philippines từng muốn chọn phe theo Mỹ ở biển Đông, dùng mọi biện pháp để đối địch với Trung Quốc. Kết quả là chính sách đó thất bại đến mức Tổng thống mới được bầu sau đó của họ là Rodrigo Duterte nhận ra sai lầm và quay ngoắt 180 độ trong chính sách.

Tương lai của đất nước cần những tiếng nói đóng góp có trách nhiệm, thấu tình, đạt lý, chứ không phải là những phát ngôn và quan điểm hồ đồ. Một nước Mỹ bỏ mặc Ukraine đối mặt với cuộc chiến và không có gì khác ngoài những ủng hộ tinh thần, trong khi trước đó chính họ xúi giục người Ukraine chọn phe. Một nước Mỹ và phương Tây từng ra sức ủng hộ chiêu bài “tự do, dân chủ”, khuyến khích và thậm chí trao giải thưởng cho các đối tượng vi phạm pháp luật của Việt Nam như Phạm Đoan Trang, Cù Huy Hà Vũ…Và một nước Mỹ với kinh nghiệm lâu năm về việc phá tan hoang các quốc gia khác như Lybia, Syria, Afganishtan. Đây có phải là quốc gia mà Việt Nam nên “chọn phe” hay không?

Rõ ràng, chỉ có một “phe” duy nhất nên chọn, đó là lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc, không lạ gì khi cả Việt Tân lẫn những trí thức ngáo ngơ như ông Đoàn Bảo Châu, Nguyễn Ngọc Chu không hề muốn chọn./.

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

BỔN PHẬN CÔNG BỘC TRONG GIỮ GÌN “PHƯƠNG DIỆN QUỐC GIA”

Từ điển tiếng Việt giải thích “phương diện quốc gia” từ ý thơ của cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” là: “Vị quan đảm đương công việc một vùng đất nước”. Trong thời đại ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị đều có một phần “phương diện quốc gia” trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, mọi việc làm, hành vi ứng xử của cán bộ, nhất là trong môi trường có yếu tố nước ngoài, đều có ảnh hưởng nhất định đến hình ảnh đất nước, vị thế quốc gia, dân tộc. Cán bộ giữ cương vị càng cao, sự ảnh hưởng càng lớn. Cán bộ tốt thì dân được nhờ, đất nước được tiếng thơm. Cán bộ tiêu cực, không biết giữ mình thì đất nước mang tiếng xấu. Sự lợi dụng của các thế lực thù địch, phần tử phản động nhằm mưu đồ chống phá Đảng, chống phá đất nước cũng từ những hành vi tiêu cực đó mà ra.

Chính vì vậy, để giữ “phương diện quốc gia”, mỗi cán bộ, đảng viên phải có sự thống nhất cao về mặt nhận thức, có thái độ đấu tranh kiên quyết, bài trừ những thông tin tiêu cực về tình hình đất nước trên không gian mạng, nêu gương và dẫn dắt quần chúng. Cần nhận thức một cách thấu đáo và khách quan, việc đấu tranh phát hiện, xử lý những vụ việc tiêu cực vừa qua là sự thể hiện thái độ kiên trì, kiên quyết, không có vùng cấm của Đảng, Nhà nước ta đối với tham nhũng, tiêu cực.

Việc các cơ quan chức năng điều tra, khám phá thành công những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nội bộ, chính là kết quả, thành công của cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lấy những vụ việc, biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy kết, quy chụp, lên án cả hệ thống chính trị, bôi nhọ đất nước... là thủ đoạn võ đoán, quy chụp, thể hiện rõ ý đồ thù địch.

Để giữ “phương diện quốc gia”, bên cạnh tập trung các giải pháp đấu tranh phản bác, phủ nhận, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, cần đặc biệt coi trọng việc củng cố trận địa từ bên trong. Đó chính là ý thức trách nhiệm, bổn phận của đội ngũ công bộc trước lợi ích quốc gia, dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh...; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên...”.

Như vậy, văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ... chính là những nhân tố cốt lõi để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, xứng đáng là công bộc của dân, là đại diện cho vị thế quốc gia. Trong có ấm thì ngoài mới êm. Nếu mỗi công bộc của dân có ý thức, bổn phận giữ “phương diện quốc gia” đúng mực thì chúng ta sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực trong bộ máy công quyền, các thế lực thù địch khó tìm cớ để chống phá Đảng, chống phá đất nước. Đó cũng là phương châm lấy xây để chống trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ phải gắn liền với xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp. Đó chính là phương châm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp trong môi trường hội nhập quốc tế, nhất là cán bộ, doanh nhân trong các ngành liên quan đến ngoại giao, du lịch, thương mại... Trong từng môi trường, hoàn cảnh có yếu tố quốc tế, chính họ là cầu nối, là “sứ giả” của văn hóa dân tộc, thể hiện phong cách, thái độ, trình độ văn hóa, văn minh của đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè. Hiệu quả thu hút đầu tư, phát triển kinh tế cũng đến từ những ấn tượng về đất nước, con người Việt Nam thông qua những hình ảnh thân thiện ấy.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam,... kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất".

Quan điểm của Đại hội XIII của Đảng và thông điệp từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 phải được thể hiện, tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống xã hội. Chúng ta xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là cách thiết thực để giữ “phương diện quốc gia” trong ý thức, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên, để khi “quan trên trông xuống người ta trông vào” không hổ thẹn với lương tâm.

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2021

TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ DO, TÍN NGƯỠNG CỦA NHÂN DÂN TRÊN CƠ SỞ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC

Suốt nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng từ “tự do” trong cụm từ “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” của hệ thống pháp luật Việt Nam để tổ chức các hoạt động chống phá, hòng gây mất ổn định chính trị-xã hội.

Để thực hiện mưu đồ ấy, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn nhằm tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước; hậu thuẫn về vật chất, tinh thần cho các đối tượng chống đối, đưa tôn giáo ở Việt Nam trở thành lực lượng chính trị “đối trọng” với Đảng. Chúng xác định lấy “tự do tôn giáo” làm “ngòi nổ” để chống phá Việt Nam. 

Những năm gần đây, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm tách quyền “tự do” ra khỏi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam thể hiện dưới các hình thức: Chống phá thông qua việc ra các đạo luật, nghị quyết từ ngoài nước; lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng sự mở rộng về dân chủ, nhân quyền của Nhà nước Việt Nam để tiến tới quốc tế hóa vấn đề tôn giáo, hòng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam; tăng sức ép với Việt Nam qua thể chế hóa các vấn đề về tự do tôn giáo, tín ngưỡng nhạy cảm, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, vu khống về tự do tôn giáo ở Việt Nam... Chúng xúi giục, kích động số phần tử phản động trong tôn giáo người Việt ở nước ngoài tổ chức các hoạt động chống phá về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam; tổ chức một số cuộc mít tinh, biểu tình do các hội, nhóm mang danh tôn giáo hải ngoại nhằm đưa ra những yêu sách đòi Việt Nam thực thi cái gọi là "các quyền tự do tôn giáo". Để đi sâu hơn, chúng hỗ trợ, kích động và chỉ đạo một số linh mục cực đoan trong nước đẩy mạnh hoạt động chống phá. Bên cạnh đó, các cơ quan đại diện chính thức của một số nước phương Tây thông qua đại sứ quán, lãnh sự quán đã có những hoạt động công khai, hoặc bí mật ủng hộ số đối tượng cực đoan nói trên. Họ trực tiếp, hoặc cử người đi điều tra, nắm những sai sót, sơ suất trong thực hiện chính sách tôn giáo của Việt Nam ở các địa phương, cơ sở để lợi dụng chống Đảng và Nhà nước, tố cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp giáo sĩ...

Thực tế cho thấy, được sự chỉ đạo và hỗ trợ của các thế lực thù địch, một số linh mục cực đoan đã viết và tán phát nhiều tài liệu đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những thành quả cách mạng mà nhân dân Việt Nam đã giành được qua các cuộc kháng chiến của dân tộc. Họ đòi hỏi xã hội phải thừa nhận vai trò của tôn giáo như vai trò của chính quyền trong việc điều hành xã hội... Những hoạt động nói trên tuy chưa phải phổ biến, song nó cho thấy tính chất thâm hiểm và xảo quyệt trong việc chống phá cách mạng Việt Nam, kích động, chia rẽ bà con giáo dân với cấp ủy đảng, chính quyền ở cơ sở, gây bất hòa giữa những người theo đạo và không theo đạo, làm phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân và lợi ích chung của dân tộc.

Ở các tỉnh miền núi, chúng lợi dụng việc đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn trong đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế, nhận thức còn hạn hẹp để truyền đạo trái phép, hòng lôi kéo, tập hợp quần chúng. Thời gian qua nổi lên là hiện tượng lôi kéo đồng bào dân tộc đi theo đạo Tin lành Đề-ga; đạo Dương Văn Mình... Thông qua việc giảng đạo, các đối tượng lồng ghép những vấn đề chính trị để chống lại đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Cụ thể, họ kích động đồng bào dân tộc thiểu số không thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình, không tham gia các tổ chức chính trị ở địa phương, không tham gia các hoạt động do cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai... nhằm lôi kéo đồng bào ra khỏi sự quản lý của chính quyền, vô hiệu hóa chính quyền cơ sở.

Những vấn đề dẫn ra ở trên cho thấy, cuộc đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo đang đặt ra thật sự cấp bách. Bởi sự chống phá của các thế lực thù địch thông qua vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo có tác động trực tiếp đến sự ổn định chính trị, làm suy giảm những thành tựu của sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vì vậy, việc đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới đất nước là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân ta. Điều đó đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có đồng bào tôn giáo.

Để đập tan những âm mưu, thủ đoạn phản động, trước hết phải nhận thức rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề tôn giáo mà cụ thể là chiêu bài lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác, kịp thời đấu tranh hiệu quả với mọi âm mưu và hoạt động chống phá của chúng. Cần phải hiểu rằng, cuộc đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo và âm mưu “diễn biến hòa bình” trong khu vực và trên thế giới ngày nay sẽ còn nhiều biến động phức tạp, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trong đó có Việt Nam vẫn tiếp tục là mục tiêu chống phá của chủ nghĩa đế quốc. Trong những năm tới, vấn đề tôn giáo, dân chủ và nhân quyền vẫn tiếp tục là mục tiêu tiến công, chống phá của các thế lực thù địch, cần phải đặc biệt quan tâm.

 Phải xác định rõ đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng của các thế lực thù địch chính là giữ vững được sự ổn định bên trong; linh hoạt, mềm dẻo giải quyết hài hòa các lợi ích giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo trên cơ sở lợi ích chung của cả cộng đồng dân tộc. Trong đó khẳng định việc đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và phải lấy đó làm điểm tương đồng để đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc và tập hợp các lực lượng cho cuộc đấu tranh ấy. Cần phải thực hiện các biện pháp để đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng nhưng vẫn thực hiện tốt mục tiêu, đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, ngày càng thu hút bạn bè quốc tế theo tinh thần “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

Để có cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh này, chúng ta cần xây dựng được "thế trận lòng dân" vững chắc. Trong đó phải chú trọng xây dựng được niềm tin với nhân dân, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; hướng các chức sắc, chức việc tôn giáo vào việc vừa phụng sự đạo giáo, vừa phục vụ sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc. Để làm được điều đó phải dựa chắc vào dân, tổ chức liên kết nhân dân thành một khối đoàn kết, thống nhất, phát huy dân chủ và sức mạnh tổng hợp của nhân dân, nhất là trong đồng bào có đạo, định hướng cho đồng bào luôn hành động theo mục tiêu sống tốt đời, đẹp đạo. Bên cạnh đó chúng ta phải phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền các địa phương, thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế-xã hội mà trực tiếp là chính sách dân tộc, tôn giáo; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trên tất cả vùng, miền của Tổ quốc. Làm tốt những vấn đề trên chắc chắn chúng ta sẽ tạo ra được một khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng với nhân dân và trong các tầng lớp nhân dân với nhau mà không một thế lực nào có thể phá vỡ.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

GIÁO DỤC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VÀ SỰ NGUY HẠI ĐẾN TỪ KHÔNG GIAN MẠNG

Ngày nay, quan niệm về lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của một quốc gia không chỉ là đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, mà cả lãnh thổ không gian mạng, chủ quyền không gian mạng. Theo đó, lãnh thổ không gian mạng là một bộ phận hợp thành lãnh thổ quốc gia, nơi xác định biên giới mạng và thực thi chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. 

Bảo vệ chủ quyền quốc gia còn là bảo vệ không gian mạng của quốc gia, bao gồm, bảo vệ các hệ thống thông tin; các chủ thể hoạt động trên không gian mạng; hệ thống dữ liệu, tài nguyên mạng; các quy tắc xử lý và truyền số liệu. Đảm bảo quyền bình đẳng trong tham dự quản lý mạng Internet quốc tế; độc lập trong vận hành hạ tầng cơ sở thông tin thuộc lãnh thổ quốc gia; bảo vệ không gian mạng quốc gia không bị xâm phạm và quyền quản trị truyền tải cũng như xử lý số liệu của quốc gia.

Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần nhận thức rõ các nguy cơ đến từ không gian mạng như: tấn công mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, tội phạm mạng, đặc biệt là nguy cơ chiến tranh mạng đang là thách thức gay gắt về an ninh, và bảo đảm an ninh mạng đang trở thành trọng tâm ưu tiên của quốc gia. Vì vậy, cần quán triệt các quan điểm của Đảng về phát triển khoa học công nghệ và chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các định hướng hành động của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên không gian mạng và nhận thức rõ rằng, đe dọa trên không gian mạng là một trong những mối đe dọa thực tế và nguy hiểm nhất đối với an ninh quốc gia hiện nay.

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

TỔ QUỐC KHÔNG DÀNH CHO NHỮNG KẺ VÔ TRÁCH NHIỆM

Trong khi tất cả các địa phương đặc biệt là các tỉnh phía Nam của Tổ quốc đang gồng mình chống dịch, mỗi ngày có hàng nghìn trường hợp nhiễm mới thì vẫn còn 1 số đối tượng (không loại trừ phản động được giật dây) trở đứa nhỏ lấy bình phong đi gây rối khiêu khích các cán bộ ở các chốt dịch.

Khi bắt gặp tình huống trên, các lực lượng tại các chốt kiểm soát dịch làm đúng theo quy định nhưng những đối tượng này tỏ thái độ chống đối, chửi bới những người ở đây.

Điển hình như video clip đang được lan truyền trên mạng chốt kiểm dịch phát hiện một người phụ nữ đang chở 1 em nhỏ ra ngoài đường mặc kệ những quy định của chính quyền về việc giãn cách xã hội để phòng chống dịch bệnh Covid-19.

Thay vì trả lời các câu hỏi người phụ nữ này có vẻ đã được dạy bài bản bù lu bù loa khiêu khích chửi bới thậm tệ các cán bộ chốt dịch. Thậm chí khi cán bộ chốt nhắc nhở chị đang chống đối người thi hành công vụ và nếu chị không chấp hành chúng tôi sẽ cưỡng chế. Người phụ nữ này không những không thay đổi thái độ mà còn thách thức lực lượng làm nhiệm vụ.

Theo ghi nhận thì đây là lần thứ hai đối tượng này đến phá rối chốt kiểm soát và lần nào cũng mang theo con nhỏ. Cái kết cho người phụ nữ này thì ta đã rõ. Người trưởng chốt đã nghiêm túc xử lý đối với người chống đối và lập tức người phụ nữa này bị khống chế đưa về phường. Xin thưa rằng đối với những trường hợp như trên thì nhẹ thì bị xử phạt hành chính mà nặng thì bị truy tố hình sự tuỳ thuộc vào thái độ thành khẩn của người vi phạm.

Câu chuyện ở đây chúng ta muốn nói rằng người phụ nữ trên là ai? Có thể người phụ nữ đang được 1 số thế lực nào đó đằng sau trả tiền nhằm gây rối sau đó đăng lên mạng xã hội bôi nhọ xuyên tạc cho các lực lượng đang làm nhiệm vụ. Hoặc cũng có thể người phụ nữ trên đang mắc chứng bệnh kinh niên, bệnh “ngu”.

Tuy nhiên dù bản chất thế nào cũng xin được nhắc nhở cho 1 số thành phần như người phụ nữ trên rằng khi an nguy của đất nước bị đe dọa thì không kể người đó là ai, giới tính như thế nào, già hay trẻ nếu đi ngược lại với lợi ích của đất nước, của dân tộc thì chắc chắn sẻ bị xử lý nghiêm khắc. Cứ phải xử lý mạnh tay như này thì mới duy trì được kỷ cương, không để các đối tượng nhờn phát luật.

Hãy nhớ rằng Tổ quốc này không dành cho những kẻ vô trách nhiệm./.

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2021

LƯƠNG TÂM NÀO CHO NHỮNG KẺ CHÀ ĐẠP LÊN LỢI ÍCH DÂN TỘC?

Công cuộc đấu tranh với các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước dựa trên chiêu bài nhân quyền nhằm vào Việt Nam còn lâu dài và phức tạp. Để tạo thêm niềm tin của nhân dân vào sứ mệnh ấy, rất cần những cái đầu tỉnh táo để nhận diện và vạch trần sự thật về những đối tượng vi phạm pháp luật đang được các cá nhân, tổ chức chống phá gắn cho cái mác “tù nhân lương tâm”.

Mới đây, tổ chức Theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW) ra thông cáo báo chí lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền với nội dung “Việt Nam nằm trong số ít nhất 83 chính phủ trên thế giới đã dùng đại dịch COVID-19 để biện minh cho hành động vi phạm quyền tự do ngôn luận và hội họp ôn hòa của người dân”.

Trong báo cáo này, HRW cho rằng, trong năm 2020, chính quyền Việt Nam đã gia tăng trấn áp những người cổ vũ cho các quyền dân sự và chính trị cơ bản, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận và quyền lập hội… Thậm chí, một quan chức của tổ chức này còn vu cáo rằng, năm 2020 “lại là một năm đen tối nữa cho nhân quyền ở Việt Nam”.

Để chứng minh cho lập luận xuyên tạc ấy, HRW đã liệt kê một số bản án dành cho các đối tượng vi phạm pháp luật thời gian qua. Trong đó có những trường hợp đã vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam, như: Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Chí Dũng, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Phạm Đoan Trang…

Tất cả những người này đều phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo Điều 117, Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, trang fanpage Việt Tân đã lợi dụng ảnh hưởng của Báo cáo nhân quyền HRW đối với Việt Nam để “chế tác” nhiều tấm thiệp gửi đến các “tù nhân lương tâm” như Lê Đình Lượng, Nguyễn Văn Hoá, Nguyễn Năng Tĩnh, Hoàng Đức Bình… với ngôn từ lố bịch.

Đây là một luận điệu chẳng mới mẻ gì của HRW, bởi bao năm qua họ vẫn chỉ nhai đi nhai lại luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Từ bao giờ, hành động chống phá Nhà nước, chống phá nhân dân lại được gọi là yêu nước?

Từ bao giờ, những kẻ xảo trá, phản bội Tổ quốc, miệt thị đất nước mình lại được cho là “đang đấu tranh vì tự do, nhân quyền”? Đây là một chiêu trò mang màu sắc chính trị của HRW và các tổ chức phản động như Việt Tân nhằm chống phá đất nước Việt Nam. Trong vấn đề này, cần thấy rõ:

Thứ nhất, Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”.

Tù nhân là cụm từ dành cho những người có hành vi vi phạm pháp luật, bị toà án tuyên là có tội và phải chịu hình phạt tù theo quyết định có hiệu lực của toà án. Việc một người bị phạt tù là hậu quả tất yếu khi người đó có hành vi phạm tội, xâm phạm các quan hệ xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Chúng ta phải khẳng định một lần nữa rằng, ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật, bị pháp luật xử lý. Cách gọi “tù nhân lương tâm” chỉ là một chiêu trò của tổ chức Ân xá quốc tế (Amnesty International – AI) và những cá nhân, tổ chức thù địch. Họ nêu ra với ý đồ cổ súy, hậu thuẫn cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam, can thiệp bảo vệ cho những đối tượng này.

Theo một số thông tin, trước khi thuật ngữ “tù nhân lương tâm” được sử dụng thì AI sử dụng thuật ngữ tù nhân chính trị. Tuy nhiên, AI nhận thấy có rất nhiều người không hề hoạt động chính trị, mà chỉ đơn thuần thực hiện các quyền con người cơ bản hoặc các quyền công dân của mình, vì thế mà họ phải chịu cảnh tù đày, bắt bớ, đàn áp. Những người như vậy nếu xét theo tiêu chuẩn của một tù nhân chính trị thì không phải, cho nên AI đã nghĩ ra một khái niệm mới, đó là “tù nhân lương tâm”.

Qua đó, các tổ chức, cá nhân đã lợi dụng thuật ngữ “tù nhân lương tâm” của tổ chức AI này để đưa ra tuyên bố, phúc trình, báo cáo và phát ngôn, trả lời phỏng vấn… về vấn đề nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam nhằm biện hộ cho một số người ở Việt Nam có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bị tuyên các bản án hình sự.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam và đại diện cơ quan chức năng liên quan nhiều lần khẳng định, ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, không có việc những người vì tự do bày tỏ chính kiến mà bị bắt giữ. Như tại các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm theo đúng các quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, các tổ chức, cá nhân chống đối luôn tìm cách phớt lờ sự thật và chứng lý đó. Bởi vậy, mỗi khi TAND ở Việt Nam xét xử, tuyên án một hoặc một nhóm người có hành vi vi phạm pháp luật với các tội danh liên quan hoạt động chính trị, chống phá Nhà nước thì các tổ chức, cá nhân trên đã dựa vào cái gọi là “tù nhân lương tâm” yêu cầu Việt Nam “phải trả tự do vô điều kiện, ngay lập tức” cho số người này nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam.

Thứ hai, đây là chiêu trò hòng cổ vũ, khích lệ, động viên cho số đối tượng chống phá chính quyền tiếp tục “vững niềm tin” hòng tiếp tục thực hiện hoạt động chống phá sau khi ra tù.

Năm qua, không ít lần trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin đại loại như: Các tù nhân lương tâm trong các trại giam ở Việt Nam thường xuyên bị ngược đãi, đe dọa, thậm chí bị đánh đập, thiếu đồ ăn thức uống… Bằng cách rêu rao rằng, thông qua nguồn tin bí mật, nguồn tin giấu tên, các “tù nhân lương tâm” tại Việt Nam hiện như “cá nằm trên thớt”. Thời gian qua, các cá nhân, tổ chức trên liên tục kêu gọi phải thả các tù nhân này ngay lập tức. Dường như chưa đủ để bẻ lái dư luận,họ còn phỏng vấn đối với người nhà của các đối tượng đang bị giam giữ, rồi tặng quà, ủng hộ tiền với mục đích cổ súy các đối tượng phạm tội ở trong tù hãy yên tâm và tiếp sức, lôi kéo người nhà đối tượng trên tiếp tục thực hiện các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Với danh nghĩa “tù nhân lương tâm”, các cá nhân, tổ chức chống phá hy vọng đối tượng vi phạm pháp luật ở trong tù yên tâm và đã được sự “cưu mang”, “thương hại” từ bên ngoài. Thậm chí, có kẻ lợi dụng cái mũ “tù nhân lương tâm” để tạo danh tiếng, điểm nóng, khuếch trương “thương hiệu”, thu hút tài trợ từ các tổ chức chống đối, phản động bên ngoài như trường hợp Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cù Huy Hà Vũ…

Đồng thời, cũng qua chiêu bài “tù nhân lương tâm”, các đối tượng chống đối tạo cơ hội, tạo cái cớ cho những thế lực nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, gây sức ép với chính quyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiến tới gây bất ổn định tình hình an ninh, trật tự ở Việt Nam, dần dần thực cách mạng màu chuyển hoá chế độ chính trị ở nước ta.

Khái niệm “tù nhân lương tâm” thực sự là một cái mác dễ khơi gợi lòng trắc ẩn trong con người. Đó cũng là lý do mà ngày càng có những đối tượng sau khi vi phạm và bị xử lý theo luật pháp Việt Nam bỗng nhiên được dựng lên như những “hình tượng tù nhân lương tâm”, tiếp tục trở thành công cụ để các thế lực thù địch vu cáo, bịa đặt về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Mục đích của cái danh “tù nhân lương tâm” là cổ súy, bảo vệ cho những hành vi xem thường luật pháp, gây rối xã hội, chống phá chế độ, xâm phạm an ninh quốc gia, từ đó tạo thêm vây cánh và nhân rộng “chân rết” phục vụ cho những hành động chống phá Việt Nam thông qua các vấn đề về tự do, tôn giáo và nhân quyền.

Nói cách khác, “tù nhân lương tâm” thực chất chỉ là một món hàng để đem ra trao đổi và mua chuộc, một thứ công cụ để đánh lừa dư luận. Tiếc rằng, trong dư luận vẫn còn không ít người nhận thức đơn giản, cả tin trước những luận điệu sai sự thật mà những kẻ mang mác “tù nhân lương tâm” nhưng thực chất lại đang bán rẻ lợi ích của quốc gia, dân tộc dựng lên.

Công cuộc đấu tranh với các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước dựa trên chiêu bài nhân quyền nhằm vào Việt Nam còn lâu dài và phức tạp. Để tạo thêm niềm tin của nhân dân vào sứ mệnh ấy, rất cần những cái đầu tỉnh táo để nhận diện và vạch trần sự thật về những đối tượng vi phạm pháp luật đang được các cá nhân, tổ chức chống phá gắn cho cái mác “tù nhân lương tâm”.

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2020

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC THÀNH LẬP HỘI

Như bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào trên thế giới, ở Việt Nam, mọi hoạt động của con người trong xã hội đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật và không được hành động ngược với đạo đức, truyền thống của dân tộc. Sự thượng tôn pháp luật là đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền; việc sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của nhà nước là yếu tố nhận biết sự văn minh của xã hội nói chung và con người nói riêng.

Bên cạnh quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân với những vị trí xã hội khác nhau và theo nhu cầu, sở thích, lý tưởng riêng, mỗi người giao lưu, chia sẻ những đặc điểm tâm sinh lý riêng đó với những người tương đồng và tìm cách thỏa mãn trong hoạt động bởi một mô hình tự nguyện, đó là “Hội”. Hội có các tên gọi khác nhau, như: Hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ...

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Việt Nam đã có quy định về việc thành lập hội, đó là: Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP và Thông tư số 03/2013/TT-BNV ngày 16 tháng 4 năm 2013 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết thi hành Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP.

Đây là những văn bản quy phạm pháp luật, quy định về việc thành lập. Trong đó, có những vấn đề cơ bản đáng chú ý là: Việc thành lập hội ở Việt Nam phải bảo đảm các yếu tố, như: Tên gọi; mục đích; điều lệ; trụ sở; số lượng công dân, tổ chức Việt Nam đăng ký tham gia thành lập hội; Ban vận động thành lập hội; hồ sơ xin phép thành lập hội và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép… Đặc biệt, hồ sơ thành lập hội phải đầy đủ các yếu tố, như: Đơn xin phép thành lập hội; dự thảo điều lệ; dự kiến phương hướng hoạt động; danh sách những người trong ban vận động thành lập hội được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; lý lịch tư pháp người đứng đầu ban vận động thành lập hội; văn bản xác nhận nơi dự kiến đặt trụ sở của hội; và Bản kê khai tài sản do các sáng lập viên tự nguyện đóng góp (nếu có).

Thành lập hội là tự nguyện nhưng phải góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ hội.

Tuy nhiên, cái gọi là “Câu lạc bộ Phạm Đoan Trang” lại hoàn toàn ngược lại, không đảm bảo đầy đủ các yếu tố và không tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cái gọi là “Câu lạc bộ Phạm Đoan Trang” chỉ là chiêu trò, nhằm lôi kéo, tụ tập những kẻ đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, phá hoại sự ổn định, phát triển của đất nước mà cả dân tộc này đang từng ngày, từng giờ xây dựng, vun đắp.

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2019

BẢN CHẤT LUẬN ĐIỂM “QUÂN ĐỘI LÀ CỦA QUỐC GIA, DÂN TỘC”, CHỈ CẦN “TRUNG THÀNH VÀ BẢO VỆ NHÂN DÂN”, “BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC VÀ LỢI ÍCH QUỐC GIA DÂN TỘC”

Những giọng điệu tưởng như là khách quan, không chính trị, không giai cấp, nhưng lại nằm trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội ta của các thế lực thù địch, thực chất là nhằm lái chính trị của quân đội ta sang chính trị tư sản. Bằng quan điểm đó, các thế lực thù địch đã khéo léo đi đến nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, xóa nhòa bản chất chính trị – giai cấp của quân đội, tiến tới làm biến chất quân đội ta. Đây mới là âm mưu đích thực của các thế lực thù địch trong mục tiêu chống phá quân đội ta, nhưng lại rất dễ làm cho chúng ta rơi vào chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, khó nhận biết thực chất âm mưu, thủ đoạn của chúng. Thủ đoạn chống phá trên của các thế lực thù địch nếu chưa thể làm suy yếu và biến chất quân đội ta, thì cũng dễ gây nên sự lẫn lộn trong xem xét bản chất, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, làm cho chúng ta dễ mắc mưu chúng trong thực tiễn xây dựng quân đội về chính trị, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, giáo dục mục tiêu, lý tưởng cho quân đội, trong sự nghiệp xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

NGHIÊM TRỊ HÀNH VI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI PHÁ HOẠI NỘI BỘ, XÂM HẠI LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC

Song song với sự phát triển của khoa học công nghệ, hiện nay công nghệ thông tin được xem như một lĩnh vực tiên phong trong khoa học ứng dụng. Đặc biệt, khi Internet và điện thoại thông minh có chức năng kết nối 3G, 4G, wifi,… trở thành vật bất ly thân của mỗi người, những kẻ chống phá đất nước triệt để lợi dụng bằng các chiêu trò tạo dựng, phát tán các thông tin, hình ảnh giả tạo, sai lệch, biến có thành không, không thành có, thật giả lẫn lộn, từ đó lôi kéo, hướng lái dư luận ngả theo quan điểm sai trái, thù địch. 
Nhiều đối tượng đã triệt để sử dụng Facebook, Zalo, Blog, mạng xã hội đăng bài, đưa hình ảnh sai sự thật, nói xấu đất nước, phỉ báng chế độ, chia rẽ nội bộ, xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.  Khi số này bị bắt giữ, điều tra, xử lý theo pháp luật, được sự hậu thuẫn của bên ngoài, các đối tượng phản động trong và ngoài nước vu cáo Việt Nam đàn áp nhân quyền, xuyên tạc tự do dân chủ, ngôn luận, tự do Internet, từ đó kích động chống phá, làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự. 
Hành vi xâm phạm an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm, các đối tượng lập và sử dụng hàng ngàn Website, Blog, mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến. Chúng liên tục mở các chiến dịch tuyên truyền chống phá Việt Nam theo một số phương thức chủ yếu như: 
Tuyên truyền phá hoại tư tưởng, tấn công chia rẽ nội bộ, xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang; kêu gọi tập hợp lực lượng, hình thành và công khai hóa tổ chức chính trị đối lập trá hình trên không gian mạng; sử dụng Internet để công khai bày tỏ quan điểm đối lập, đòi đa nguyên, đa đảng, từ đó lôi kéo, phát triển lực lượng và hoạt động chống phá; lợi dụng các vấn đề nhạy cảm chính trị xã hội, vụ việc phức tạp thu hút sự quan tâm của quần chúng để kích động biểu tình, gây bất ổn về an ninh, trật tự.
Một trong những phương thức mà các đối tượng gia tăng hoạt động chống phá trên mạng Internet trong thời gian gần đây là xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Bằng các bài viết xuyên tạc, đả kích, âm mưu của chúng nhằm phá hoại nội bộ hòng gây chia rẽ trong lãnh đạo cấp cao, tác động tiêu cực tới nhận thức, quan điểm, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây tâm lý hoang mang, hoài nghi và làm suy giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. 
Thủ đoạn chủ yếu là giả mạo, cắt xén, ngụy tạo bằng chứng để vu cáo; sử dụng thông tin cũ với những luận điệu mới; lợi dụng những vấn đề chính trị, thời sự để tung tin thất thiệt, tạo dư luận xấu; từ các vụ việc tiêu cực, tham nhũng để quy chụp do đường lối của Đảng, Nhà nước và chế độ. Các đối tượng đặt tên trang mạng, Blog và đặt các tiêu đề, tên bài với ngôn từ giật gân, kích thích tính tò mò của người đọc, người xem, đăng tải tin, bài viết, video clip có nội dung phản động, thật giả lẫn lộn. Gia tăng liên kết để đưa thông tin, bài viết, bình luận, tập trung khoét sâu một chủ đề hoặc trích dẫn, đăng lại bài viết của nhau nhằm làm tăng hiệu quả tuyên truyền phá hoại tư tưởng.
Chẳng hạn như: Facebook là một trang mạng xã hội đem lại rất nhiều tiện ích, nhất là sự kết nối, chia sẻ thông tin và những ứng dụng giải trí thú vị. Nếu sử dụng đúng mục đích và ở chừng mực phù hợp, mạng xã hội này sẽ là công cụ hữu hiệu để tuyên truyền, giáo dục mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước sâu rộng trong mọi tầng lớp quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, lợi dụng đặc tính truyền tải nhanh, diện tham chiếu rộng, thông tin gần như tức thì, tính “tự do” tương đối của những chủ thể thông tin, khả năng “gây nhiễu” lại khá rộng và rất khó kiểm soát của nguồn thông tin trên mạng xã hội Facebook nhiều đối tượng bất đồng và các phần tử phản động, chống đối chính quyền đã lợi dụng Facebook để tuyên truyền xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời tuyên truyền những luận điệu diễn biến hòa bình gây hoang mang cho cán bộ, đảng viên và trong quần chúng nhân dân. Hiện nay, nhiều trang Facebook cá nhân cũng như các trang Facebook mang tính cộng đồng đang rất tích cực truyền bá những thông tin xấu độc, tiêu biểu như: “Nhật kí yêu nước”, “Friend of Việt Tân”, “Thanh niên công giáo”, “Radio Chân Trời Mới”,… và hàng loạt những trang Facebook đăng tải những status trên trang facebook cá nhân với ngôn ngữ đầy tính kích động, phản động.
Ngày nay, với sự bùng nổ Internet, các quốc gia căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể để đề ra các quy định quản lý phù hợp. Điểm mấu chốt là dù quản lý theo phương thức nào thì cũng nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cá nhân, tổ chức, tránh các hành vi lạm dụng phạm pháp. Việt Nam đưa ra các quy định pháp luật để quản lý mạng Internet là phù hợp luật pháp quốc tế và thực tiễn chung của các quốc gia trên thế giới.
Ai cũng có quyền tiếp cận thông tin, nhưng mỗi người hãy tự biết cách bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, bịa đặt, độc hại. Quyền tự do thể hiện quan điểm, chính kiến nhưng quyền ấy là có ranh giới, cần tỉnh táo nhận diện để không bị rơi vào sự hỗn độn thông tin, không bị kẻ xấu hướng lái, lôi kéo, biến mình thành trở thành con rối của kẻ địch./.

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Mối quan hệ giữa chủng tộc với tộc người và quốc gia dân tộc

Giữa chủng tộc, tộc người và quốc gia dân tộc có những mối quan hệ phức tạp, đan xen nhiều chiều. Thời gian ra đời các chủng tộc loài người cũng là lúc con người bước vào xã hội cộng sản nguyên thủy với hình thức cộng đồng tộc người đầu tiên là thị tộc - bộ lạc. Nhưng chủng tộc thuộc phạm trù sinh học còn tộc người, quốc gia dân tộc thuộc phạm trù lịch sử.
Hiện nay, loài người có 4 chủng tộc bao gồm 3.000 tộc người cư trú ở hơn hai trăm quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Các tộc người trong cùng một chủng tộc nhưng có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều nhau, thuộc các hình thức cộng đồng tộc người khác nhau sinh sống ở nhiều quốc gia. Chẳng hạn, bộ phận chủng tộc Ơrôpôit ở Tây Âu và Bắc Mỹ đang là những tộc người, quốc gia dân tộc phát triển hàng đầu trên thế giới nhưng bộ phận ở Nam Á, Bắc Phi lại được xếp vào các nước thế giới thứ ba.
Mặt khác, trong một quốc gia dân tộc có thể bao gồm cư dân thuộc nhiều chủng tộc cùng sinh sống, ví dụ cư dân Mỹ hiện đang có nguồn gốc đến từ cả 4 chủng tộc trên thế giới. Xu thế hỗn chủng đã xảy ra từ hàng vạn năm trước và ngày càng gia tăng bởi quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa. Hôn nhân giữa các chủng tộc, hôn nhân xuyên quốc gia, hôn nhân hỗn hợp tộc người ngày càng phổ biến làm gia tăng pha trộn giữa các chủng tộc. Song lịch sử đã chứng minh, các chủng tộc, tộc người, quốc gia dân tộc đều bình đẳng trong phát triển và đóng góp vào nền văn minh của nhân loại. Nhiều trung tâm văn minh rực rỡ của người da màu đã từng tồn tại vào thời cổ, trung đại ở Á, Phi và châu Mĩ.

Tuy nhiên, quan hệ giữa chủng tộc với tộc người và quốc gia dân tộc là những quan hệ rất phức tạp, nhạy cảm; đã và đang chi phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị - xã hội ở nhiều quốc gia, khu vực và quốc tế. Trong các xã hội còn đối kháng giai cấp, các quan hệ này chứa đựng nhiều bất bình đẳng, làm nảy sinh các mâu thuẫn, dẫn đến xung đột và chiến tranh. Hơn nữa, các chủ nghĩa đế quốc và các thế lực bên ngoài luôn lợi dụng vấn đề tộc người, chủng tộc để can thiệp vào các quốc gia dân tộc hòng mưu đồ các lợi ích của chúng, gây ra thù hằn tộc người, phân biệt chủng tộc và mâu thuẫn dân tộc.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC CHÂN CHÍNH


Nhân dân ta có một ý thức bảo vệ Tổ quốc cực kỳ sâu sắc đã trở thành truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, truyền thống đó được bắt nguồn từ quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của cha ông ta để lại. Truyền thống đó sẽ tiếp tục được giữ gìn và phát triển qua các thế hệ người Việt Nam đến muôn đời sau. Tuy nhiên ở từng thời kỳ lịch sử và từng con người cụ thể thì ý thức bảo vệ Tổ quốc cũng được thể hiện một cách khác nhau. Vậy thì ý thức bảo vệ Tổ quốc như thế nào, cách thể hiện ra sao để ý thức bảo vệ Tổ quốc đem lại hiệu quả nhất, mang lại những điều có lợi nhất cho quốc gia, dân tộc và phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nhân dân, phù hợp với xu thế của thời đại? Đây là vấn đề đặt ra mà chúng ta phải trả lời và thể hiện cho đúng.
Thời gian vừa qua nhân sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng đặc quyền kinh tế của nước ta và sự kiện các chết hàng loạt do ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền trung, nhiều người dân đã thể hiện rõ ý thức bảo vệ Tổ quốc của mình, đây là điều đáng mừng, đáng tự hào và đáng biểu dương. Sẽ tốt đẹp biết mấy nếu như ý thức đó của người dân được thể hiện một cách phù hợp, được tổ chức một cách chặt chẽ, và mang tính xây dựng cao. Tuy nhiên điều không mong muốn lại xảy ra, lợi dụng ý thức bảo vệ Tổ quốc chân chính đó của người dân một số phần tử xấu và nhiều kẻ quá khích đã kích động nhân dân thể hiện ý thức đó một cách thái quá, họ đã làm cho cuộc mít tình để phản đối trở thành bạo động thậm trí đốt phá, cướp bóc tài sản của các doanh nghiệp nước ngoài đang làm ăn chân chính tại nước ta. Sự việc đó đã làm phương hại đến hình ảnh của một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa vốn yêu chuộng hòa bình, luôn mong muốn hữu hảo, làm bạn với các nước để cùng nhau phát triển. Đồng thời còn làm cho đất nước phải chịu một tổn thất lớn vì phải đền bù những thiệt hại do chính người dân gây ra cho các doanh nghiệp nước ngoài đó.
 Điều rất may là Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời có các giải pháp để làm dịu đi sức nóng của sự thể hiện ý thức bảo vệ Tổ quốc một cách thái quá của người dân. Đồng thời với đó là triển khai một loạt các biện pháp để tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ và thể hiện ý thức bảo vệ Tổ quốc của mình một cách phù hợp để đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia, dân tộc.
Qua sự việc trên cho thấy nhân dân ta luôn có ý thức bảo vệ Tổ quốc rất cao, tuy nhiên để thể hiện một cách đúng đắn, phù hợp chân chính thì vẫn còn chưa đạt được. Điều này cho thấy mức độ hiểu biết của đại đa số nhân dân còn chưa cao, họ rất dễ bị lôi kéo, kích động trước những mưu đồ thâm độc của các thế lực thù địch. Có thể nói rằng những sự kiện không mong muốn vừa qua là cơ hội vàng cho chúng để thông qua đó gây nên những bất ổn trong nước, đồng thời khoét sâu vào mâu thuẫn giữa nước ta và Trung Quốc để sự khủng hoảng đó ngày càng tăng lên và người được lợi nhất trong sự kiện đó chính là các thế lực thù địch đối với chúng ta.

Hơn lúc nào hết trong điều kiện hiện nay mọi người dân Việt Nam cần phải thật sự bình tĩnh, nhìn nhận mọi sự kiện một cách rõ ràng và thể hiện ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của mình một cách đúng đắn để đem lại lợi ích tốt nhất cho quốc gia, dân tộc. Cả dân tộc ta phải thực sự đoàn kết xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam để bằng mọi giá giữ vững độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, chế độ, sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thông qua đó để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng không để mắc mưu kẻ thù mà gây hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc./ 

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc (tộc người). Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc dù quá trình tộc người khác nhau nhưng luôn luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với truyền thống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Cái “giàn” mà ông cha ta đã tổng kết chính là Tổ quốc Việt Nam của tất cả chúng ta. Xuất phát từ đặc điểm đó, ông cha ta đã thực thi nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trước yêu cầu phát triển quốc gia, đặc biệt là trong thời cổ trung đại và di sản về vấn đề dân tộc trong lịch sử đã để lại nhiều bài học quý giá cho hôm nay khi giải quyết vấn đề dân tộc. Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc. Có thể khẳng định chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước.
Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai.
Từ Đại hội IV đến Đại hội X của Đảng, chính sách dân tộc đã được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể. Các nội dung cơ bản trên đây đã được thể chế hóa và triển khai thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1. Vị trí của vấn đề dân tộc trong sự nghiệp cách mạng
Đây là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong việc xác định nguyên tắc cũng như chính sách của Đảng ta về vấn đề dân tộc. Đại hội Đảng lần thứ IV xác định: Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới đều xác định vị trí của vấn đề dân tộc trên hành trình đổi mới của đất nước. Đó là vấn đề “có vị trí chiến lược lớn’’, “luôn luôn có vị trí chiến lược’’, “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta’’.
Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX đã ra nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc. Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng ta về vấn đề này trong kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết chỉ rõ: Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xem vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển’’. Trải qua các thời kỳ cách mạng, công tác dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước. Trên cơ sở đánh giá toàn diện vấn đề dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của tình hình mới, Nghị quyết khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên, vấn đề dân tộc được xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài có tính xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, đồng thời Đảng ta còn xác định đây là vấn đề cấp bách. Đây là luận điểm rất quan trọng thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới trong bối cảnh quốc gia và quốc tế của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
Việc xác định vị trí của vấn đề dân tộc của Đảng trên chính là xuất phát từ đặc điểm của cộng đồng quốc gia dân tộc ở nước ta và coi đó là bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển đất nước. Đây là cơ sở rất quan trọng để từ đó định ra các nguyên tắc cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Lênin đã từng chỉ rõ: “những sai biệt về mặt dân tộc và quốc gia giữa các dân tộc và các nước, những sai biệt này sẽ còn tồn tại lâu dài ngay cả sau khi nền chuyên chính vô sản được thiết lập trong phạm vi toàn thế giới’’. Điều đó cho thấy chừng nào còn có sự khác biệt về dân tộc thì dân tộc vẫn tồn tại và vẫn còn cơ sở xã hội và thực tiễn cũng như nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn dân tộc và xung đột dân tộc, do đó, vấn đề dân tộc vẫn tiếp tục đặt ra.
Đối với nước ta, vấn đề dân tộc thiểu số vừa là vấn đề giai cấp, vừa là vấn đề miền núi, vừa là vấn đề biên cương, vấn đề an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, đồng thời đây cũng là vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, mà Đảng ta đã đề ra. Bài học của nhiều quốc gia trên thế giới những năm cuối thế kỷ XX cho thấy nếu coi nhẹ vấn đề dân tộc và không xác định đúng vị trí vấn đề dân tộc trong chiến lược phát triển quốc gia thì tất yếu dẫn đến xung đột dân tộc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến sự tồn vong quốc gia.
Sự tồn tại lâu dài của vấn đề dân tộc nhất là trong điều kiện quốc gia đa tộc người, đa dạng về văn hóa là đặc điểm lớn ở nước ta, làđặc trưng diện mạo lịch sử, văn hóa Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam (Điều 5).
Khi xác định vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta. Điều này tiếp tục được khẳng định trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách của Nhà nước trong những năm đổi mới, đặt nền tảng quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn, giải quyết thành công vấn đề dân tộc.
2. Các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc
Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Trong thời kỳ đổi mới, các nguyên tắc cơ bản này tiếp tục được khẳng định và bổ sung thêm. Nếu như trong các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh: đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc thì từ Đại hội VI trở đi các nguyên tắc này đã được xác định là“Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI), “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau” (Đại hội VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X).
Bình đẳng giữa các dân tộc: là một nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và các Hiến pháp ở nước ta. Hiến pháp đầu tiên ở nước ta năm 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo’’. Các Hiến pháp tiếp theo đã thể hiện rõ nguyên tắc quan trọng này.
Bình đẳng giữa các dân tộc là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Bình đẳng còn thể hiện trong quyền phát triển, được đảm bảo và tạo mọi điều kiện để các dân tộc thực hiện và có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác. Để thực hiện bình đẳng dân tộc thì phải làm giảm, tiến tới từng bước xóa bỏ khoảng cách giữa các dân tộc do các điều kiện lịch sử quy định trên thực tế mang lại ấm no hạnh phúc của nhân dân.
Đoàn kết dân tộc: là một nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc mà Đảng ta xác định. Phát triển nguyên tắc đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc của Lênin, trên nền tảng truyền thống Việt Nam, Đảng ta coi đoàn kết dân tộc có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước. Hồ Chí Minh đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công’’. Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn để giành lại nền độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc. Trong công cuộc đổi mới, đoàn kết các dân tộc nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc ở nước ta được làm chủ vận mệnh của mình trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách dân tộc của Đảng.
Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc: Nguyên tắc này xuất phát từ một thực tế lịch sử là sự phát triển không đều giữa các dân tộc khi chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta cho thấy, sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội là một đặc điểm lớn. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau là sự giúp đỡ của dân tộc này với dân tộc khác, không phải là sự giúp đỡ một chiều. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của sự phát triển, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc gia dân tộc. Đó cũng chính là bản chất của chính đảng vô sản. Để thực hiện vấn đề này, vai trò của nhà nước và hệ thống chính trị rất quan trọng. Trong các văn kiện của Đảng, nguyên tắc tương trợ được bổ sung các thành tố tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ. Có thể coi đây là một nguyên tắc đối với vấn đề dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
Bình đẳng là cơ sở để đoàn kết, đoàn kết là biểu hiện thực hiện bình đẳng và tương trợ giúp đỡ nhau là điều kiện để thực hiện bình đẳng và đoàn kết. Các nguyên tắc cơ bản trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, được xác định và triển khai đồng bộ trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta.
3. Những vấn đề cơ bản của chính sách dân tộc
Trên cơ sở những nguyên tắc trên, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã đề ra những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc trong giai đoạn mới của cách mạng. Có thể nói, đây là thời kỳ có không ít tác động đối với các dân tộc thiểu số. Đó là tác động của cơ chế thị trường, của nền kinh tế nhiều thành phần và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đấy là chưa nói đến quá trình toàn cầu hóa và tác động từ bối cảnh chung của tình hình quốc tế phức tạp. Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề dân tộc phải có các chính sách hệ thống, toàn diện đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, phù hợp với quá trình phát triển của đất nước.
Nội dung của chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước ta tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
- Chính sách về phát triển kinh tế vùng các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng đồng bào các dân tộc, gắn với kế hoạch phát triển chung của cả nước, đưa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cùng cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là một trong những vấn đề có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện chính sách dân tộc trong hoàn cảnh và điều kiện mới với mục tiêu tạo sự chuyển biến căn bản diện mạo và đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số.
- Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hóa, y tế... nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và các cơ hội để các dân tộc có đầy đủ các điều kiện tham gia vào quá trình phát triển, để trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào.
- Chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các địa bàn chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc trong mối liên hệ tộc người, giữa các tộc người và liên quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI mở đầu công cuộc đổi mới đã khẳng định: “Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc. Trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ. Chống những thái độ và những biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn’’ và những biểu hiện của dân tộc hẹp hòi’’.
Để triển khai những định hướng cơ bản đó, ngày 27-11-1989, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Tiếp sau đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã thể chế hóa bằng Quyết định số 72-HĐBT ngày 13-2-1990 về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Đây là hai văn kiện quan trọng đánh dấu sự đổi mới hoạt động công tác dân tộc và chính sách dân tộc.
Từ những định hướng quan trọng đó, bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã vạch ra những nội dung cơ bản về chính sách phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ dân tộc và làm rõ thêm: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Có chính sách phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng đắn về chữ viết đối với các dân tộc. Đặc biệt có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc ít người’’.
Lần đầu tiên chính sách phát triển kinh tế hàng hóa vùng dân tộc thiểu số đã được đề cập trong điều kiện cụ thể lúc bấy giờ. Trong các văn kiện của Đại hội cũng đã đề cập về chính sách đối với người Hoa và người Khơme nhằm tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Cùng với việc xác định công tác dân tộc ở một số dân tộc cụ thể, Đảng và Nhà nước ta còn đưa ra các chính sách đối với các vùng dân tộc như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên trên cơ sở xem xét tính đặc thù của từng vùng và yêu cầu phát triển đối với khu vực và quốc gia.
Cùng với tiến trình đổi mới, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở nước ta tiếp tục được Đảng ta bổ sung và cụ thể hóa. Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định: “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân... Xây dựng Luật dân tộc. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ nay (tức năm 1996 - T.G) đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được ba mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch, vững mạnh’’.
Chính sách dân tộc trong giai đoạn này đặc biệt chú trọng vào việc xác định mục tiêu phát triển và định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc thiểu số với những trọng tâm rất quan trọng về đời sống và dân trí. Chính vì thế, chủ trương xóa đói, giảm nghèo đã được triển khai khá rộng khắp ở nước ta tại vùng các dân tộc thiểu số. Cùng với chương trình xóa đói, giảm nghèo, Chương trình 135 về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi, vùng sâu, vùng xa được triển khai đã mang lại những chuyển biến to lớn ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi và không phải ngẫu nhiên sự thành công của chính sách này đã được thế giới đánh giá là tiêu điểm trong sự phát triển kinh tế - xã hội vì con người và mục tiêu thiên niên kỷ của nhân loại.
Trên cơ sở đó, Đại hội lần thứ IX của Đảng cụ thể hóa và đưa ra những chủ trương định hướng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhất quán về nguyên tắc và những luận điểm của các đại hội Đảng đã đề ra trước đó, Đảng ta tiếp tục chủ trương đối với các dân tộc thiểu số cần phải: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang dân trí..., thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu có uy tín trong dân tộc và địa phương. Chống kỳ thị chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc’’. Văn kiện cũng đề ra chủ trương: nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.
 Tư tưởng công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi là một trong những định hướng rất quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng ta cùng với những nội dung khá toàn diện khác liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đào tạo cán bộ...
Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX đã đề ra một số quan điểm cơ bản và xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2010, đồng thời nêu lên những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cũng như các giải pháp cụ thể về công tác dân tộc trong thời kỳ mới.
Một số quan điểm cơ bản được Đảng ta xác định cùng với việc khẳng định vị trí của vấn đề dân tộc là:
- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
- Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.
Trên cơ sở đánh giá những hạn chế yếu kém về công tác dân tộc trong công tác dân tộc giai đoạn này, Nghị quyết cũng đề ra những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách là:
 - Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trong những năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
 Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơme Nam Bộ.
Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới. Làm tốt công tác định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới; công tác quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân cư, nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, gắn với bảo vệ an ninh, quốc phòng.
- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số, làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, gìn giữ và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các dân tộc.
Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hóa phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc, đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự bị dân tộc ở miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ người dân tộc thiểu số.
Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp; nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian.
- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, kiên quyết khắc phục tình trạng xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc...
- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường công tác an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những điểm “nóng’’ về an ninh trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi.
Tiếp tục phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa.
Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân.
- Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới.
Các quan điểm và những nhiệm vụ cấp bách, cơ bản trên tiếp tục được khẳng định và làm rõ thêm tại Đại hội lần thứ X của Đảng. Văn kiện Đại hội chỉ rõ: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc’’12.
Đại hội X của Đảng đã đề ra những vấn đề cơ bản nhất về chính sách dân tộc hiện nay ở nước ta. Để triển khai những vấn đề quan trọng trên đây, trong những năm qua, Chính phủ đã triển khai và ban hành hàng loạt các chương trình dự án nhằm tạo nên sự chuyển biến cơ bản, toàn diện vùng các dân tộc thiểu số. Gần đây, trên cơ sở những thành tựu của Chương trình 135 giai đoạn I, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng như hàng loạt các chính sách, biện pháp về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc.
Chính sách dân tộc của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới chính là sự kế thừa và phát triển chính sách dân tộc của Đảng đã được vạch ra cùng với sự ra đời và trưởng thành của Đảng; là sự vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc. Đó chính là tiền đề, là điều kiện quan trọng nhất để giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta trên hành trình đổi mới.
        -------------------
Nguồn: http://dangcongsan.vn/